Ca khúc

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

More...

Mời nghe Ca sĩ Quế Thương

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

HÁT VỀ MÁI TRƯỜNG HUỲNH THÚC KHÁNG

ST: NS Thành Đức

BD : Ca sĩ Quế Thương

 Nhạc sĩ Thành Đức tên thật là Trần Văn Đức (1940 -2016) . Ông là cựu học sinh trường HTK khoá 1957- 1960 tốt nghiệp ĐH ở Matxcova sau đó vào ngành quân giới (chế tạo súng đạn thờ chống Mĩ),

Nhạc sĩ Trần Đức từng có 4 năm làm thư ký cho GS Trần Đại Nghĩa; 12 năm làm viện phó Viện Đại học giáo dục chuyên nghiệp. Là người say mê âm nhạc và là học trò của nhạc si Nguyễn Đình Tấn. Sáng tác 70 ca khúc và đạt 2 giải thưởng âm nhạc: Giải thưởng của ngành dầu khí và giải thưởng "Tiếng hát át tiếng bom" của ngành quân giới. Có 2 tập thơ in riêng và 3 tập thơ in chung.

Nhạc sĩ từng là trưởng ban liên lạc học sinh Huỳnh Thúc Kháng tại thành phố Hồ Chí Minh. Do tuổi cao sức yếu, ông đã từ biệt gia đình, người thân, bạn bè đầu năm 2016 tại Vũng Tàu.

     Ca khúc "Hát về mái trường Huỳnh Thúc Kháng" được NS Thành Đức sáng tác tặng nhà trường trong dịp nhà trường kỷ niệm 90 năm TL và đón nhận danh hiệu ANH HÙNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI. Một năm sau, năm 2011, NS Thành Đức trở lại trường Huỳnh Thúc Kháng và đã "âm thầm, lặng lẽ" tự tìm cách để làm Video clip này. Cảm động trước tâm huyết của nhạc sĩ, người học trò năm xưa, PTV đã cùng một số bạn bè giúp nhạc sĩ thực hiện tâm nguyện của mình. Và đây là món quà của nhạc sĩ gửi lại !

PTV xin trân trọng gửi tới quý vị và các bạn ca khúc này do ca sĩ Quế Thương thể hiện .

More...

Bài ca truyền thống trường Huỳnh Thúc Kháng - Tập thể GV & HS

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Bài ca truyền thống trường Huỳnh Thúc Kháng

ST: Thầy giáo Vương Nại Hoa

BD: Tập thể GV&HS trường Huỳnh Thúc Kháng

More...

MIỀN NHỚ TRONG CA KHÚC LÊ AN TUYÊN

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

           Lê An Tuyên, nhạc sĩ không chuyên hiện đang sống và làm việc ở CHLB Đức. Chị sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương xứ Nghệ, mảnh đất của những điệu hò,câu ví, những khúc dân ca say đắm lòng người. Vì vậy dù đi đến những phương trời xa xôi, trái tim của chị vẫn luôn hướng về mảnh đất chôn nhau, cắt rốn của mình. Các ca khúc của chị tuy chưa nhiều, nhưng được bạn yêu âm nhạc trong và ngoài  nước tiếp nhận một cách nồng nhiệt bởi ca khúc nào của chị cũng thấm đượm hồn cốt quê hương và bản sắc văn hóa, dân ca xứ Nghệ Nhiều ca khúc của chị như Lời cỏ may”, “Mùa thu sang”, “Sóng không từ biển”, “Nơi ấy quê nhà”, “Cửa Lò tình yêu và nỗi nhớ”,  “Về đây với anh”, “Dòng sông tuổi hai mươi”, “Thương ơi điệu ví”, “Bến xưa”, “Sông và Anh, “Khúc tình Huế”, “Dịu dàng”, Lời mẹ ru… đã được chọn biểu diễn trong một số chương trình truyền hình trực tiếp, như Liveshows Bài hát Yêu thích của VTV3, Gala Đường về Xứ Nghệ trên VTV1 và một số chương trình truyền hình địa phương khác...

Phan Thanh Vân và Lê An Tuyên

 

 

More...

VỘI VÀNG - Xuân Diệu - TS Nguyễn Phượng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm

Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới” (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất mang đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ giao cảm tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung đại.

         Thi sĩ được giới trẻ tấn phong là “ ông hoàng của thơ tình yêu” bởi đã đem vào thơ tình một quan niệm đầy đủ toàn diện một cách thể hiện mới mẻ phong phú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu.

          Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi cách tân trong nghệ thuật ngôn từ : lối diễn đạt chính xác những thông tin cụ thể tỉ mỉ mang tính vi lượng thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờ phát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan.

Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm chính:

- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian

- Một trái tim luôn hướng đến mùa xuân tuổi trẻ tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời yêu sống cuồng nhiệt sôi nổi.

- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt.

Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ thơ thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới.

2. Tri thức văn hoá

Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bởi những lời kêu gọi kiểu : Nhanh với chứ với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em em ơi! Tình non sắp già rồi! hoặc Gấp lên em! Anh rất sợ ngày mai! Đời trôi chảy tình ta không vĩnh viễn!

Khi thi nhân cất cao những lời kêu gọi : Mau lên thôi! Nhanh với chứ! Vội vàng lên! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh “là đã làm vang động chốn nước non lặng lẽ” thì không có nghĩa là anh ta đang tuyên truyền cho một triết lý sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đông một xứ sở vẫn chuộng lối sống khoan hoà chậm rãi.

Cần phải thấy rằng bước vào thời hiện đại sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.

Nhìn ở một góc độ khác bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời. 

3. Tri thức thể loại

Bài Vội vàng được viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân Tây học trưởng thành vào những năm 30 của thế kỷ trước được gọi chung là phong trào Thơ Mới.

Thơ Mới vẫn được coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm một mặt khước từ luật thơ gò bó phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh vần điệu chống lại thói quen “ đông cứng” văn bản thơ trong những cấu trúc đã trở thành điển phạm kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức cách dùng từ đã trở nên sáo mòn; mặt khác nỗ lực đổi mới tư duy thơ trên nhiều phương diện. Chẳng hạn mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ câu thơ táo bạo trong việc thể nghiệm cấu trúc mới cú pháp mới nhịp điệu mới từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năng của tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ. Nhưng điều quan trọng hơn nói theo nhận xét của Hoài Thanh tất cả chỉ nhằm để bộc lộ “ cái nhu cầu được thành thực” trong xúc cảm và suy tư của một thế hệ.

IV.PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.     Về nội dung

Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả.

a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời như  một thiên đường trên mặt đất.

    Bước vào bài thơ độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

                      Tôi muốn tắt nắng đi

                      Cho màu đừng nhạt mất

                      Tôi muốn buộc gió lại

                      Cho hương đừng bay đi!

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị ngông cuồng bề ngoài thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.

Nhưng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn lại dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa đời là chốn bụi trần cuộc đời là bể khổ. Đấy là lý do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con người trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn cõi Tây Phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lý hoài cổ phục cổ khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên nhờ tuổi trẻ họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung mờ mờ nhân ảnh cũng chẳng phải là cái bể khổ đầy đoạ con người bằng sinh lão bệnh tử … những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại là cả một thế giới tinh khôi quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu tất cả đều gần gũi đầy ắp ngay trong đời thực và trong tầm tay với. Trong cái nhìn mới mẻ say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi chào mời bằng vẻ ngọt ngào trẻ trung và đang như vẫn có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi trẻ trung ngọt ngào : đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm đây là hoa của đồng nội (đang) “xanh rì đây là của cành tơ phơ phấtkhúc tình si kia là của những lứa đôi.

          Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng mùa Xuân sao ngon như  một cặp môi gần! 

b....đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:

Tuy nhiên trong ý thức mới của con người thời đại về thời gian khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác tất cả đều nhuốm màu của âu lo bàng hoàng thảng thốt.

Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa tăng cấp : “nghĩa là (3lần/3dòng thơ) để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữuphôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp  nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não : 

    Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

              Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc

              Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

              Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây thời gian không còn là một đại lượng vô ảnh vô hình nữa người ta nhận ra nó trong hương vị đau xót của chia phôi người ta phát hiện nó tựa một vết thương rớm máu trong tâm hồn :

                Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa : lòng người rộng” mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.   

c.  Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn nghịch lý:

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian con người chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi là vội vàng. Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất bằng một tốc độ thật lớn và một cường độ  thật lớn.

Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn : “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. Vội vàng vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ hiện đại. Tuy chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhưng dù sao trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh “ép xác diệt dục” là không còn phù hợp nữa nó là lời cổ động cho một lối sống tích cực sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của cái Tôi.

Tuy nhiên lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà : không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

2. Về nghệ thuật

Nét độc đáo trong cấu tứ.

Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận. Trong đó chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái Đẹp của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận lí giải về lẽ sống vội vàng thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả được trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý mâu thuẫn đến giải pháp.

Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ cách diễn đạt mới hình ảnh mới ngôn từ mới.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như : ôm” ( Ta muốn ôm )   riết ( Ta muốn riết ) “say” ( Ta muốn say )   thâu ( Ta muốn thâu )...Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: “chếnh choáng đã đầy no nê...diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

More...

Ngâm thơ - Hoa phượng - Thơ Võ Văn Trực

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Hoa phượng

Thơ Võ Văn Trực

Diễn ngâm: Thanh Vân

More...

Nhật ký bằng thơ của một người lính - Viết trong ngày 30/4

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  Viết trong ngày 30/4

30/4/1975

Tin toàn thắng nhận khi vừa chạm đích
Tột đỉnh niềm vui bỗng chốc vỡ oà

Chợt ngoảnh phía đồng đội tôi  nằm lại

Nghẹn lòng nước mắt gửi  rừng xa

30/4/2010

Cứ hẹn bạn sau ngày giải phóng

Sẽ vào tìm đưa đồng đội về quê

Dằn dỗi chiến tranh dãi dầu dâu bể

Mãi hôm nay chưa đưa được bạn tôi về

30/4...

Vẫn biết bạn đã  hoá mình vào sóng nước

Ngàn sau  đất mãi  ủ  ấm mình

Xin được thắp nén hương lòng trong ngày hội lớn

Giữa cờ hoa như có bạn hồi sinh

                           Lê bá Dương

                       Nha Trang 30/4/2010

 Và những bài ca..

MÀU HOA ĐỎ
Tác giả : THUẬN YẾN - THƠ : NGUYỄN ĐỨC MẬU

 
"Bài thơ Thời hoa đỏ của Nguyễn Đức Mậu được viết ra vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ bằng xúc cảm của người lính:
 Có người lính mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo
Có người lính mùa xuân ấy ra đi từ đó không về
Dòng tên anh khắc vào đá núi mây ngàn hóa bóng cây che
Chiều biên cương trắng trời sương núi mẹ già mỏi mắt nhìn theo.
Việt Nam ơi Việt Nam! Núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con.
Việt Nam ơi Việt Nam! Ngọn núi nơi anh ngã xuống
Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn.

Thoáng chút bùi ngùi song phần hồn của Màu hoa đỏ là niềm tin tất thắng vào ngày mai. Màu hoa đỏ chính là vầng hào quang chiến thắng mà tác giả đã mường tượng và đã trở thành hiện thực vào ngày 30-4-1975 lịch sử.

Nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ khá nhiều bài thơ thành những ca khúc hay đặc biệt là những bài thơ viết về chiến tranh và người lính. Với Màu hoa đỏ không phải là khổ thơ vần song ông đã phổ nên một giai điệu trữ tình lẫn bi tráng tạo cảm xúc mạnh với người nghe."

 

More...

Làm thế nào để nâng cao cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Kỳ cuối: Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm

http://giaoduc.edu.vn/news/nhip-cau-su-pham-672/lam-the-nao-de-nang-cao-cam-thu-tac-pham-van-hoc-cho-hoc-sinh-ky-cuoi-ren-luyen-ki-nang-doc-dien-cam-160037.aspx

Thứ Tư 27 Tháng tư 2011 08:04 GMT+7  

  anh minh hoa

Giáo viên chỉ nên đưa ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới chưa đánh giá xác đáng về một TP văn học…                   (ảnh minh họa). Ảnh: N.Anh
Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học môn văn trước hết được thể hiện ở khả năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bàicủa giáo viên. Vậy đọc diễn cảm là gì?
    Ngoài việc đọc đúng quy tắc ngữ pháp đúng đặc trưng thể loại thì mỗi tác phẩm có một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩmchính là nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với tác phẩm tự sự; đọc đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn tả khác đọc văn kể văn tường thuật; đọc văn chính luận khác với đọc bài tùy bút… Tùy từng văn bản cụ thể mà giáo viên và HS có thể chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp.
1. Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật . Đọc diễn cảm không phải là “khoe giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Đọc thơ là để làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc làm cho nó ngân nga trong hồn người. Đọc ở đây là thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về tác phẩm là làm sao để người khác cũng có thể sản sinh những ấn tượng tương tự như mình. Diễn cảm ở đây hoàn toàn không phải là ở sự uốn éo đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tại của tâm hồn.
Cách đây đúng 30 năm khi còn là sinh viên khoa văn tôi được một thầy giáo của mình đọc cho nghe bài thơ Quê hương của Giang Nam. Phần đầu của bài thơ thầy đọc chậm rãi (nhưđang nhấm nháp những kỉ niệm ngọt ngào tuổi ấu thơ): Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/ Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/….Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi/ Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng… đến đoạnngười lính trở về nhận được tin cô gái mất… thầychuyển giọng đột ngột:
Hôm nay nhận được tin em/ Không tin được dù đó là sự thật/ Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ-vì-em-là-du-kích… em ơi…/ Đau-xé-lòng-anh…chết-nửa-con-người…”.
Nhịp điệu dồn dập đó nói lên nỗi đau bất ngờ bàng hoàng không thể tin được trước một sự thật đau lòng. Thầy không cần giảng giải nhiều nhưng chúng tôi ai cũng đỏ hoe con mắt. Cho đến bây giờ nỗi xúc động đến lạnh người trong tôi vẫn còn nguyên khi nhớ về bài học và giọng đọc của thầy tôi năm đó. Đó chính là hiệu quả của ngữ điệu đọc mà người thầy mang lại cho học trò của mình.
Khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho HS dù chỉ trong một thời gian ngắn trong tổng số 45 phút của tiết học tôi thường lưu ý cho HS về cách đọc từng loại văn bản. Khi một HS đọc diễn cảm một văn bản nào đó tôi cho rằng HS đó đã hiểu được giá trị của văn bản ít nhất là 50%.
Ví dụ: Bài Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi phải đọc một cách dõng dạc hùng hồn: Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo/ Nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã riêng/ Phong tục Bắc Nam cũng khác/ Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương/ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có.
Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ta phải đọc sao cho toát lên cái bi hùng của văn tế…
Bằng hình thức đọc diễn cảm giáo viên có thể tạo cho HS những bất ngờ hứng thú giúp các em có cảm nhận mới mẻ về văn bản kích thích khả năng liên tưởng trí tưởng tượng để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Có thể nói rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là biện pháp hữu hiệu trong rèn luyện cảm thụ văn học cho HS.
2. Sử dụng lời bình trong giờ đọc hiểu môn văn: Bình văn là thể hiện một liên tưởng thẩm mỹ của người đọc đối với tác phẩm. Một lời bình hay đúng lúc đúng chỗ có khả năng đánh thức liên tưởng của HS là con đường dẫn HS thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật văn bản góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ của bài văn bài thơ khơi dậy ở trái tim non trẻ của các em tình yêu con người và cuộc đời để các em biết ghét cái ác cái xấu hướng tới chân thiện mỹ. Biện pháp này cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm sáng tạo của HS tạo nên sự giao lưu cộng hưởng về tình cảm trong giờ văn.
Ví dụ: Khi giảng đến đoạn Thúy Kiều trao kỷ vật cho Thúy Vân:
Chiếc vành với bức tờ mây/ Duyên này thì giữ vật này của chung giáo viên có thể hướng dẫn HS phân tích: Kỉ vật là hiện thân của tình yêu là bức tờ mây ghi lời thề chung thủy là chiếc vành Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều để làm tin. “Giữ” nghĩa là không trao hẳn mà chỉ để em giữ hộ; “của chung” là của ba người. Kiều không đành lòng trao kỉ vật cho em không nỡ rời xa những gì nồng nàn tha thiết nhất của tình yêu…; nhịp câu thơ ngắt đôi nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó… HS trình bày được những ý như vậy đã là hay nhưng nếu biết đưa vào một lời bình ngắn gọn đúng lúc thì hiệu quả thẩm mĩ của giờ học sẽ tăng lên đến bất ngờ.
Chẳng hạn ở đây giáo viên có thể đưa ra lời bình về từ “của chung” của Hoài Thanh: “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao mà tình không trao nổi. Kỉ vật với Thúy Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thúy Kiều nó lại là tình yêu.
Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản nhưng giáo viên không được lạm dụng biện pháp này. Bởi lẽ nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để HS cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để “thôi miên” các em. Do đó giáo viên chỉ đưa ra lời bình khi HS cảm nhận chưa tới đánh giá chưa xác đáng và những lời bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ tiến tới khắc sâu ấn tượng cho HS tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ. Giáo viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật và chọn được cách nói ấn tượng độc đáo nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của HS.
Với mong muốn góp phần nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho HS trong giờ đọc hiểu môn văn tôi mong nhận được sự trao đổi góp ý chân thành của đồng nghiệp và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Phan Thị Thanh Vân
(GV văn Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng TP.Vinh Nghệ An)

More...

NÂNG CAO CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU MÔN VĂN

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÂNG CAO CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC

CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU MÔN VĂN

Phan Thanh Vân- THPT Huỳnh Thúc Kháng

(Báo Giáo dục TP Hồ Chí Minh ngày 25-4 và 27-4-2011)

                Vấn đề dạy học môn văn trong trường phổ thông đang là vấn đề thời sự nóng hổi luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành nhiều giới trong xã hội... Theo khảo sát của các nhà giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây chất lượng học văn của học sinh THPT ở nước ta ngày càng giảm sút. Môn văn đang mất dần vị thế vốn có của nó. Tình trạng học sinh không còn hứng thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nhà trường phổ thông hiện nay.

alt

          Trước thực trạng đó đã có nhiều cuộc hội thảo chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học văn được tổ chức dưới nhiều cấp độ khác nhau trong phạm vi cả nước. Hàng loạt các phương pháp được đề xuất thử nghiệm như: phương pháp dạy học nêu vấn đề phương pháp dạy học tích hợp phương pháp dạy học theo nhóm…  Giáo viên chưa kịp học hết các “chiêu” đổi mới về phương pháp dạy học đã phải đối mặt với những “ma trận đề”… Vậy mà “căn bệnh” chán học văn của học sinh vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm.  

          Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng nêu trên nhưng theo tôi có một lý do ai cũng biết nhưng lại ít ai đề cập tới đó là hiện tượng đa số học sinh không đọc tác phẩm khi soạn bài. Trong giờ học môn văn cả giáo viên và học sinh đều bỏ qua khâu rèn luyện đọc diễn cảm và hiếm khi người học có được những giây phút thăng hoa qua những lời bình ngắn gọn mà gợi nhiều chiêm nghiệm liên tưởng. Đó cũng là lý do để tôi trình bày những suy nghĩ của mình trong việc làm thế nào để nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho học sinh trong giờ đọc hiểu môn văn?

1. Hình thành thói quen đọc trực tiếp văn bản

          GS Trần Đình Sử trong bài Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy-học văn khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy không hiểu được văn bản thì coi như mọi yêu cầu mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông khó với tới đừng nói gì tới tình yêu văn học”[1]. Đáng tiếc là nhiều năm nay trong nhà trường THPT đã diễn ra tình trạng học sinh không cần đọc trực tiếp văn bản nhưng vẫn soạn được bài thậm chí khi thầy cô giáo yêu cầu “hoạt động nhóm” và cử đại diện trình bày… các em vẫn tỏ ra làm việc tích cực và phát biểu một cách gọn gàng. Giáo viên dù biết rõ học sinh đang trong vai diễn nhưng vẫn cứ khen trò của mình trả lời rất tốt rất giỏi!  Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính mình từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo. Như vậy mấu chốt của vấn đề nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học chính là ở việc đọc trực tiếp văn bản văn học.

          Học sinh thường ngại đọc tác phẩm khi soạn bài lý do chưa hẳn là vì tác phẩm không hay hoặc học sinh không thích văn học. Đơn giản vì các em phải học quá nhiều môn học. Ngoài ra lối sống thực dụng trong xã hội hiện nay cũng có một tác động không nhỏ đến điều này. Kết quả khảo sát những năm gần đây cho thấy hầu hết học sinh THPT đều định hướng thi vào các trường Đại học thuộc khối ngành kinh tế kỹ thuật công nghệ… Rất ít học sinh chọn thi vào các trường thuộc khối ngành khoa học xã hội & nhân văn. Học văn theo đó luôn trong tình trạng đối phó của các em. Tài liệu tham khảo đã trở thành cẩm nang trong mọi tình huống. tài liệu tham khảo đã trở thành cẩm nang trong mọi tình huống. Số ít những em lựa chọn các khối có thi môn văn thì bài giảng của thầy những tài liệu phân tích bình giảng tác phẩm những sách văn mẫu tài liệu luyện thi… sẽ là những vật bất li thân là "bùa hộ mệnh. Nhận thức được điều đó tôi thường yêu cầu học sinh tóm tắt tác phẩm trước bằng lập sơ đồ bảng biểu sau đó kiểm tra thực hiện của học sinh trong thời gian hỏi bài cũ.  

Ví dụ:  Chuẩn bị cho bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên tôi yêu cầu học sinh lập bảng:

-Bảng 1: Tìm hiểu tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục (Yêu cầu: Học sinh tìm hiểu và hoàn tất các thông tin về tác giả quê quán thời đại... về thời gian ra đời nội dung và đặc điểm thể loại...)

-Bảng 2: Vẽ sơ đồ tóm tắt truyện ( Họ tên học sinh thực hiện:……….Lớp:…)    

          Ban đầu việc làm này chưa nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành nhưng dần dần đã trở thành việc làm bình thường và có hiệu quả. Thói quen này nếu đư­ợc hình thành một cách tự giác thì chính giáo viên học sinh đã làm được một khâu quan trọng trong yêu cầu đọc - hiểu.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm

           Cùng quan điểm với GS Trần Đình Sử cố GS Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh yêu cầu cần đạt được của việc đọc văn bản là phải nắm bắt trúng giọng điệu của tác phẩm. Theo ông “Sự phong phú tính đa nghĩa ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng. Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết. Bắt được giọng đã khó làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng khó công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên…”[2]

          Tục ngữ có câu: “Ăn không nên đọi nói không nên lời”.  “Nói không nên lời” là một sự đau khổ của con người. Năng lực văn nhất thiết phải bao hàm năng lực nói nên lời. Không biết đọc diễn cảm không tìm được ngữ điệu thích đáng trong giảng bài đó là sự bất lực của người dạy văn. Có nhiều giáo viên có kiến thức nhưng khi giảng bài học sinh thấy chán buồn ngủ bởi vì giáo viên đó thiếu khẩu khí thiếu hơi văn chưa tìm được ngữ điệu giọng điệu thích đáng cho mình. Như vậy người dạy văn giỏi ngoài kiến thức cần phải có ngữ điệu giọng điệu phù hợp đa dạng. Có như vậy tác phẩm mới tác động sâu vào cảm nhận của học sinh. Và đây là một phần quan trọng để phát huy tiềm lực kích thích hứng thú học văn của học sinh.  

          Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học môn văn trước hết được thể hiện ở khả năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bài của giáo viên. Vậy đọc diễn cảm là gì?  Ngoài việc đọc đúng quy tắc ngữ pháp đúng đặc trưng thể loại. Mỗi tác phẩm có một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩm chính là nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với tác phẩm tự sự; đọc  đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn tả khác đọc văn kể văn tường thuật; đọc văn chính luận khác với đọc bài  tùy bút… Tuỳ từng văn bản cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp.

          Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật của trình diễn. Đọc diễn cảm không phải là “khoe giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Đọc thơ là để làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc làm cho nó ngân nga trong hồn người.  Đọc ở đây là thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về tác phẩm là làm sao để người khác cũng có thể sản sinh những ấn tượng tương tự như mình. Diễn cảm ở đây hoàn toàn không phải là ở sự uốn éo đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tại của tâm hồn.  

          Cách đây đúng 30 năm khi còn là sinh viên khoa văn tôi được một thầy giáo của mình đọc cho nghe bài thơ Quê hương của Giang Nam. Phần đầu của bài thơ thầy đọc chậm rãi (như đang nhấm nháp những kỉ niệm ngọt ngào tuổi ấu thơ): /Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/….Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi/Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng.. đến đoạn người lính trở về nhận được tin cô gái mất…thầy chuyển giọng đột ngột:

 Hôm nay nhận được tin em

 Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ-vì-em-là-du-kích…em ơi…

Đau-xé-lòng-anh…..chết- nửa- con- người…”.

          Nhịp điệu dồn dập đó nói lên nỗi đau bất ngờ bàng hoàng không thể tin được trước một sự thật đau lòng. Thầy không cần giảng giải nhiều nhưng lũ học trò chúng tôi ai cũng đỏ hoe con mắt. Cho đến bây giờ nỗi xúc động đến lạnh người trong tôi vẫn còn nguyên khi nhớ về bài học và giọng đọc của thầy tôi năm đó. Đó chính là hiệu quả của ngữ điệu đọc mà người thầy mang lại cho học trò của mình.

          Khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh dù chỉ trong một thời gian ngắn trong tổng số 45 phút của tiết học tôi thường lưu ý cho học sinh về cách đọc từng loại văn bản. Khi một học sinh đọc diễn cảm một văn bản nào đó tôi cho rằng học sinh đõ đã hiểu được giá trị của văn bản ít nhất là 50 %.

 Ví dụ bài  Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi phải đọc một cách dõng dạc hùng hồn :

  Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trứơc lo trừ bạo
Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.

Đọc Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ta phải đọc sao cho toát lên cái bi hùng của văn tế. Khi đọc đoạn trích Trao duyên thì phải đọc với giọng xúc động đau đớn đến tột cùng của nhân vật Thuý Kiều trong đêm trước ngày từ biệt gia đình để ra đi theo Mã Giám Sinh…(Em Trần Thị Hằng 10A2 đọc diễn cảm một đoạn văn bản)

Khi đọc đoạn cuối bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Súng nổ tung trời giận dữ/ Người lên như như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ trong máu lửa/
Rũ bùn đứng dậy sáng loà
chúng ta phải đọc sao cho gợi được được âm vang thời đại và không khí hào hùng của đất nước sau chiến thắng Điện Biên…

           Bằng hình thức đọc diễn cảm giáo viên có thể tạo cho học sinh những bất ngờ hứng thú giúp các em có cảm nhận mới mẻ về văn bản kích thích khả năng liên tưởng trí tưởng tượng để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Có thể nói rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là biện pháp hữu hiệu trong rèn luyện cảm thụ văn học cho học sinh. 

3. Sử dụng lời bình          

          Bình văn là thể hiện một liên tưởng thẩm mỹ của người đọc đối với tác phẩm.  Một lời bình hay đúng lúc đúng chỗ có khả năng đánh thức liên tưởng của học sinh là con đường dẫn học sinh thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật văn bản góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ của bài văn bài thơ khơi dậy ở trái tim non trẻ của các em tình yêu con người và cuộc đời để các em biết ghét cái ác cái xấu hướng tới chân thiện mỹ. Biện pháp này cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm sáng tạo của học sinh tạo nên sự giao lưu cộng hưởng về tình cảm trong giờ văn.

Ví dụ:  

Khi giảng đến đoạn Thuý Kiều trao kỷ vật cho Thúy Vân:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phân tích:

 Kỉ vật là hiện thân của tình yêu: là Bức tờ mây ghi lời thề chung thủy là Chiếc vành Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều để làm tin.  

      + “giữ” nghĩa là không trao hẳn mà chỉ để em giữ hộ.

 + “của chung” là của ba người. Kiều không đành lòng trao kỉ vật cho em không nỡ rời xa những gì nồng nàn tha thiết nhất của tình yêu…

 + Nhịp câu thơ ngắt đôi nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó…

Học sinh trình bày được những ý như vậy đã là hay nhưng nếu biết đưa vào một lời bình ngắn gọn đúng lúc thì hiệu quả thẩm mĩ của giờ học sẽ tăng lên đến bất ngờ.

Chẳng hạn ở đây giáo viên có thể đưa ra lời bình về từ “của chung” của  Hoài Thanh: “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao mà tình không trao nổi. Kỉ vật với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.

Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản nhưng giáo viên không được lạm dụng biện pháp này. Bởi lẽ nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để “thôi miên” học sinh. Do đó giáo viên chỉ đưa ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới đánh giá chưa xác đáng và những lời bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ tiến tới khắc sâu ấn tượng cho học sinh tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ. Giáo viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật và chọn được cách nói ấn tượng độc đáo nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của học sinh.

          Tôi có được niềm vui là thường được các em học sinh gần gũi chia sẻ. Gần đây tôi nhận được thư của một học sinh lớp 12 TP Hồ Chí Minh gửi qua Email. Bức thư có  đoạn viết: Thưa cô con rất sợ học môn văn…Thứ nhất con đang cảm thấy bị dồn ép bị đẩy vào những thứ rập khuôn làm con không còn cảm thấy hứng thú với môn học này nữa. Thứ hai là những văn bản trong sgk 12 hầu như sặc mùi cách mạng con không sống trong thời đó nên cảm nhận của con về những năm tháng ấy còn mập mờ mông lung lắm. Thứ ba là giáo viên văn trong lớp của con chẳng những không tạo cho con có được cảm giác thích thú mà còn làm cho con cảm thấy ngán ngẫm giờ văn. Có đôi khi con tự đọc văn bản trước ở nhà cảm thấy rất hay nhưng khi được giáo viên trong lớp giảng giải thì bao nhiêu cái hay ho nó trôi đi đâu mất…”. Những dòng tâm sự hết sức chân thành của một học sinh mà tôi chưa từng gặp mặt đã khiến tôi giật mình. Liệu đây có phải là tâm trạng chung của các em khi học môn văn? Làm thế nào để có thể thắp sáng ngọn lửa tình yêu văn chương trong tâm hồn học sinh? Làm thế nào để có thể đánh thức khả năng cảm thụ văn chương thổi bùng khát vọng sống đẹp của học sinh qua mỗi giờ học văn? Đưa lời tâm sự của học sinh ra đây để những người trực tiếp giảng dạy văn học là chúng ta cùng suy nghĩ và chia sẻ hi vọng những lời tâm sự của em học sinh đó không rơi vào hư không. Thiết nghĩ muốn làm được những điều trên trước hết người thầy phải thổi bùng ngọn lửa văn chương trong trái tim của mình.

          Chúng tôi luôn ý thức sâu sắc rằng đây không phải là phương pháp toàn vẹn và càng không phải là duy nhất nhưng hiệu quả mang lại của nó là điều không thể phủ nhận. Phương pháp khi được vận dụng  thành thục sẽ tạo được kĩ năng cho người dạy và người học. Từ đó niềm hứng thú say mê khám phá của học sinh sẽ được đánh thức. Khi thói quen trở thành ý thức tự giác của người học thì đến lượt mình người thầy không thể bằng lòng với những vốn kiến thức có sẵn mà phải luôn không ngừng cập nhật tri thức và đổi mới phương pháp.  

Với mong muốn góp phần nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho học sinh trong giờ đọc hiểu môn văn tôi mong nhận được sự trao đổi góp ý chân thành của đồng nghiệp và những ai quan tâm đến vấn đề này.

                                                                    

                                                               Vinh ngày 17/4/2011



[1] . Văn nghệ số 10 ngày 7-3-2009                                                                           

[2] Giọng điệu trong văn chương Những ngả đường vào văn học NXB Giáo dục 2006.



More...

TIẾP CẬN "TRAO DUYÊN" THEO CÁI NHÌN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 TIẾP CẬN "TRAO DUYÊN" 

THEO CÁI NHÌN  THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

      Nguyễn Thị Thúy Anh-Trường THPT chuyên Phan Bội Châu

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

          Nguyễn Du là một trong những đỉnh cao của nền văn học Việt Nam cuộc đời và sự nghiệp của ông mang nhiều tâm tư  sâu sắc quy tụ được những vấn đề xã hội và dự báo nhiều điều cho mai hậu. Việc nghiên cứu về Nguyễn Du không bao giờ kết thúc. Truyện Kiều - tác phẩm bất hủ của ông "tập đại thành" của văn học Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và từ đó đến nay việc nghiên cứu Truyện Kiều không bao giờ đứt đoạn nó luôn phát triển cùng nghành văn bản học và ngữ văn học. Hơn nữa Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm vị trí không thể thiếu trong chương trình văn học ở trường phổ thông tính cả chương trình văn THCS và THPT Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm một thời lượng lớn. Trong đó Truyện Kiều được học với tư cách tác phẩm và nhiều đoạn trích. Đoạn trích "Trao duyên" là màn đặc biệt diễn tả sâu sắc bi kịch đầu tiên  trong cuộc đời đầy bi kịch của Kiều đồng thời thể hiện tập trung nghệ thuật miêu tả nội tâm và tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Vì thế "Trao duyên" là một đoạn trích hay nhưng cũng rất khó tiếp cận nó thu hút những sự tìm tòi khám phá của các nhà nghiên cứu và của giáo viên giảng dạy môn văn. Qua nhiều năm giảng dạy tích lũy chúng tôi mạnh dạn đề xuất một hướng tiếp cận đoạn trích này.

          II. NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐÃ MỞ :

         Như đã nói ở trên là một đoạn trích tiêu biểu cho ngòi bút của Nguyễn Du trong Truyện Kiều nên "Trao duyên" được nhiều nhà nghiên cứu phân tích và khám phá trên nhiều bình diện.

         Lê Trí Viễn với bài viết "Trao duyên" trong cuốn "Đến với thơ hay" - NXB Giáo dục -1998 đã phân tích sâu sắc ngôn ngữ nhân vật chỉ ra cách sử dụng từ ngữ độc đáo ý nghĩa của các từ ngữ  trong việc Kiều thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim nhằm làm nổi bật cái "sắc sảo mặn mà" của nhân vật nhưng cũng chính vì thế mà bài viết chưa làm nổi bật được diễn biến tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

      Bài viết của Lê Bảo trong "Giảng văn văn học Việt Nam" - NXBGD-1997 - một bài viết rất công phu khám phá sâu sắc về nhiều phương diện nghệ thuật của đoạn trích "Trao duyên" nhằm làm nổi rõ dòng tâm trạng của nhân vật như tác giả kết luận: “ý thức về thân phận của con người trong tác phẩm là kết quả của những yếu tố nghệ thuật kết hợp lại một cách nhuần thấm tự nhiên trong đó có nhịp điệu các thành ngữ việc miêu tả thời gian tâm lý trong cái dòng phát triển biện chứng của những trạng huống tâm hồn" và tác giả Lê Bảo phân tích rất kỹ các yếu tố nghệ thuật như nhịp điệu từ ngữ thành ngữ - tác giả chú ý phân tích làm rõ thời gian tâm lý trong đoạn trích nhưng chỉ chú ý vào phần sau mà chưa chú ý dòng chảy thời gian tâm lý xuất hiện ngay từ đầu đoạn trích chính nó tạo nên nhịp độ chung cho đọan trích cũng như quy định ngôn ngữ hành động của nhân vật trong việc trao duyên. Hơn nữa đây là một bài viết chuyên sâu nên nếu áp dụng bài viết này vào bài giảng trong hai tiết ở lớp với trình độ của học sinh giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn lúng túng giữa việc cân bằng nội dung bài giảng với lượng thời gian lên lớp.

    Ở sách giáo viên một cuốn sách có tầm định hướng cụ thể chi tiết cho giáo viên trong soạn bài lên lớp cũng viết bài nàykhá rõ ràng chu đáo với mục đích "làm rõ" chủ đề "bi kịch tình yêu tan vỡ" khám phá lôgích trong diễn biến tâm trạng và ngôn ngữ biểu đạt. Bài viết này chia đoạn trích làm hai phần với ba nội dung chủ yếu : nội dung thứ nhất "Mâu thuẫn làm nền cho diễn biến tâm trạng nhân vật". Nội dung thứ hai: "Thúy Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa Kim Trọng". Nội dung thứ ba: "Tâm trạng bi kịch của Thúy Kiều”. Như vậy tác giả Nguyễn Lộc chỉ tập trung khám phá tâm trạng nhân vật ở phần thứ hai còn phần đầu của đoạn trích tác giả chỉ tập trung phân tích sức thuyết phục trong lời lẽ của Thúy Kiều khi nhờ Thúy Vân trả nghĩa Kim Trọng. bài viết này phù hợp với nội dung câu hỏi hướng dẫn học bài ở sách giáo khoa. ở sách giáo khoa có ba câu hỏi: Câu hỏi 1 và 2 đòi hỏi học sinh tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ thành ngữ trong việc thuyết phục Vân cuả Thúy Kiều. Câu hỏi 3 đòi hỏi phân tích tâm trạng của Thúy Kiều từ câu: "Ngày xuân em hãy còn dài " đến hết đoạn trích

       Như vậy chúng ta thấy rằng các bài viết đã có những thành công nhất định nhưng về mặt nào đó vẫn có những hạn chế như việc tách riêng hai phần đoạn trích để khám phá sức thuyết phục trong lời lẽ của nhân vật ở phần 1 và khám phá diễn biến tâm trạng ở phần 2. Chưa tác giả nào khám phá đoạn trích từ phía tìm hiểu dòng thời gian tâm lý. chính sự cảm nhận thời gian của nhân vật trong đoạn trích đã quy định cách thể hiện ngôn ngữ hành động cũng như thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật.

      Vì thế để khám phá sâu sắc diễn biến tâm lý nhân vật chúng tôi đề xuất khám phá đoạn trích từ cái nhìn thời gian nghệ thuật.

       III. CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP

    1. Cơ sở lý luận:

            Cùng với sự phát triển của ngành thi pháp học các học giả nước ta đã mở rộng con đường tiếp cận tác phẩm văn học họ đã có phương tiện hữu hiệu khám phá sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm và một trong những cách tiếp cận tác phẩm của thi pháp học là nghiên cứu thời gian nghệ thuật của tác giả xây dựng trong tác phẩm của mình.  Không gian thời gian là hai phương thức tồn tại của tất cả các sự vật khách quan vì thế thời gian nghệ thuật (cùng với không gian nghệ thuật) là yếu tố quan trọng mà nhà văn sử dụng để kiến tạo thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Là phương thức tồn tại của thế giới vật chất thời gian cũng như không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như một hiện tượng của thế giới khách quan. Nhưng đồng thời thời gian còn là một yếu tố nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng tình cảm được nhào nặn và sáng tạo để giúp nhà văn mô tả nhân vật phản ánh đời sống một cách chân thực nhất. Con người tùy theo tâm trạng tư tưởng tình cảm và ý thức mà cảm nhận thời gian một cách khác nhau cho nên các nhà văn tập trung xây dựng trong tác phẩm của mình một hình tượng thời gian với sự tập hợp các yếu tố thời gian cá biệt để tạo nên nhịp độ đời sống trong tác phẩm. vì thế khám phá được các biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tác phẩm chúng ta có thể giải mã được nhiều điều mà tác giả muốn gửi gắm. Việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật là một trong những vấn đề hiện đại và hiệu quả của nghiên cứu văn học .

 2. Cơ sở thực tiễn

          Nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những vấn đề được các nhà khoa học chú trọng từ trước đến nay trong đó có hai công trình lớn rất có giá trị là: "Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của Phan Ngọc và "Thi pháp Truyện Kiều" của Trần Đình Sử; hai tác giả này đã nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau của Truyện Kiều trong đó có sự tập trung khám phá thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Qua nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định Truyện Kiều có “hai thời gian" "một thời gian khách quan của thế giới  và một thời gian nội  tâm trong lòng từng nhân vật” ông còn nói "thời gian nghệ thuật này không được đo bằng kim đồng hồ mà được đo bằng xúc cảm con tim”. Ông còn chỉ ra sự cảm nhận thời gian cụ thể ở  nhân vật Thúy Kiều: "Thế giới nội tâm tách ra thành ba thời gian: sững sờ trước hiện tại hồi tưởng tới quá khứ và lo lắng cho tương lai". Trong "Thi pháp Truyện Kiều " Trần Đình Sử dành một mục lớn để khám phá nhiều phương diện của hình tượng thời gian ông đã chỉ ra Truyện Kiều có "một dòng thời gian tâm lý" đó là sáng tạo độc đáo vượt xa truyện nôm đương thời của Nguyễn Du. Dòng thời gian tâm lý xuất hiện ở tất cả các nhân vật nhưng rõ nhất ở Thúy Kiều: "thời gian của Kiều là do hoạt động có ý thức của Kiều tạo ra trong tương quan với hoàn cảnh”. Vì thế  trước mỗi hoàn cảnh cảnh ngộ Kiều lại có sự cảm nhận thời gian  theo một cách riêng và dòng thời gian đó bộc lộ rõ thế giới nội tâm của Kiều. Sự cảm nhận thời gian của Kiều rất phong phú và đa dạng tùy vào sự biến thái đổi thay tâm trạng của nàng trước mọi cảnh huống.

     Như vậy chúng ta thấy các học giả đã khẳng định trong Truyện Kiều có một dòng thời gian tâm trạng dòng thời gian đó được xây dựng trên sự cảm nhận ý thức của nhân vật trong mối quan hệ với hoàn cảnh vì thế muốn khám phá thế giới nội tâm nhân vật ta có thể dựa vào khám phá hình tượng thời gian nghệ thuật mà tác giả xây dựng trong tác phẩm.

     Những thành tựu của ngành thi pháp học cộng với những nghiên cứu cụ thể của các giáo sư trong hai công trình trên đã trang bị cho chúng tôi phương tiện để đi vào khám phá những biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong đoạn trích "Trao duyên”. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thế giới nội tâm của Kiều được bộc lộ rõ qua việc nhà thơ xây dựng một dòng thời gian một cách đặc biệt đó là một thời gian hiện tại dồn nén thắt ngặt trong cảnh huống đầy bi kịch một thời gian đồng hiện trong sự hoảng loạn của nội tâm vì tình yêu tan vỡ.

    IV. ĐỀ XUẤT HƯỚNG TRIỂN KHAI BÀI GIẢNG “TRAO DUYÊN”

    1. Lưu ý khi dạy phần tiểu dẫn:

        Bên cạnh việc xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ bố  cục kết cấu của tác phẩm như sách giáo khoa đã trình bày chúng tôi còn chú ý giúp học sinh xác định sự kiện trao duyên xảy ra trong giai đoạn nào của cuộc đời Kiều để xác định rõ tâm lý nhân vật lúc đó đồng thời định hướng cho học sinh thấy đoạn trích tập trung miêu tả tâm trạng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại: Nhân vật tự suy ngẫm tự nếm trải giãi bày cảm nhận trước thực tế phũ phàng nên thế giới nội tâm đó càng sâu sắc chân thực. Từ những suy nghĩ  đó chúng tôi thử đề xuất hệ thống câu hỏi trong phần này:

Câu hỏi : Dựa vào phần tiểu dẫn ở SGK và những hiểu biết về Truyện Kiều em hãy nêu ngắn gọn vị trí đoạn trích?

Yêu cầu: Đoạn trích nằm phần đầu tác phẩm từ câu 724 đến câu 756 sau một loạt những biến cố lớn: Kiều phải chia tay để Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú gia đình Kiều bị vu oan Kiều phải từ bỏ tình yêu bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em đây là đêm cuối cùng trước ngày ra đi Kiều tâm sự và nhờ Vân trả nghĩa chàng Kim.

 Câu hỏi Những biến cố này xảy ra trong giai đoạn nào của đời Kiều?ở Kiều nảy sinh tâm lý gì?

Yêu cầu: Sự kiện này xảy ra khi Kiều chỉ mới "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê"

(khoảng 15 16 tuổi) Kiều còn rất ngây thơ trong sáng chưa có va chạm trong cuộc đời chưa hề có sự chuẩn bị chống đỡ những nghiệt ngã của số phận tai họa lúc này tạo nên ở Kiều một cú sốc tâm lý lớn  với những biến thái nội tâm vô cùng phức tạp.

Câu hỏi : Truyện Kiều là tác phẩm tự sự nhưng đoạn trích lại sử dụng  ngôn ngữ độc thoại dụng ý của tác giả ?

Yêu cầu: Để nhân vật tự độc thoại tức là để cho nhân vật tự suy ngẫm tự nếm trải tự giãi bày thế giới nội tâm của mình thì thế giới nội tâm đó hiện lên một cách chân thực và sâu sắc nhất.

    Từ đó chúng ta rút ra cho học sinh thấy đoạn trích "Trao duyên" chủ yếu thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật khám phá đoạn trích tức là đi sâu khám phá diễn biến tâm lý đó. Đồng thời để thấy rõ tấm lòng cũng như tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lí nhân vật ở Truyện Kiều.

2. Phân tích đoạn trích :

câu hỏi:Dựa vào sự tìm hiểu kết cấu và bố cục đoạn trích em hãy đề xuất cách phân đoạn để phân tích? 

     Theo dòng chảy tâm trạng của nhân vật trong đoạn trích chúng tôi chia đoạn trích làm hai phần để tìm hiểu phần thứ nhất từ đầu cho đến câu: "Duyên này thì giữ vật này của chung" phần thứ hai: Tiếp đó cho đến hết.

     a. Phần thứ nhất:

      Có thể nói màn "Trao duyên" diễn ra toàn bộ ở phần này ở đây tác giả đã xây dựng một bối cảnh thời gian đặc biệt. Bối cảnh thời gian làm nổi bật diễn biến tâm trạng của nhân vật vì thế để phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều ở đây chúng tôi đề xuất những câu hỏi như sau:

Câu hỏi: Kiều tâm sự với Vân ở thời điểm nào? Thời điểm đó tác động gì đến  nhân vật?

Yêu cầu : Kiều tâm sự với Vân vào đêm cuối cùng trước ngày Kiều theo Mã Giám Sinh từ  bỏ gia đình từ bỏ mối tình với chàng kim ra đi đây là khoảng thời gian ngắn ngủi mà kiều còn được ở với gia đình. Sự thắt ngặt của thời gian đó tạo nên sự dồn nén  cảm xúc đậm đặc trong mỗi tích tắc của thời gian có sự vận động của nội tâm của ý thức với những biến hóa khôn lường bởi chỉ có một thời điểm duy nhất một con người duy nhất có khả năng nhận lời gửi gắm cái tài sản quý giá nhất cái hi vọng cuối cùng của Kiều. Tính chất thắt ngặt dồn nén của bối cảnh thời gian đó đã tạo nên một cơn lốc nhỏ làm cồn lên những suy nghĩ những thổn thức thúc đẩy nhân vật hành động. Sau những đắn đo: “Hở môi ra cũng ngượng ngùng/ để lòng thì phụ tấm lòng với ai”  Kiều quyết định trao duyên cho em

 Câu hỏi : Việc Kiều trao duyên cho em thể hiện rõ nhất ở những câu thơ nào trong đoạn trích?

Yêu cầu: màn trao duyên diễn ra trọn vẹn ở phần thứ nhất của đoạn trích và hoạt động trao duyên cũng chỉ diễn ra ở những câu thơ đầu và cho đến câu thơ "Duyên này thì giữ vật này của chung" Những câu thơ thể hiện một sự kiện có một không hai trong cuộc đời Kiều bộc lộ sâu sắc nỗi đau của thân phận con người thân phận tình yêu trong xã hội xưa.

  Câu hỏi : Màn trao duyên diễn ra qua trình tự như thế nào?

  Yêu cầu : - Trong 4 câu thơ đầu ngôn từ và hành động của Kiều vô cùng đặc biệt

            * Câu thơ mở đầu có hai từ  em cậy

            *Có sự phi lý trong thái độ trân trọng quá đáng với Thúy Vân của Kiều  ở hành động "lạy thưa "

Câu hỏi: Em có nhận xét gì về lời lẽ hành động của Kiều đối với Thúy vân trong màn trao duyên? vì sao Kiều lại hành động như thế?

Yêu cầu: Lời nói hành động được Kiều thể hiện liên tiếp dồn dập vội vàng. Hành động vội vàng này của Kiều trước hết bắt nguồn từ việc Kiều ý thức sâu sắc hoàn cảnh của mình trong hiện tại: Tình yêu vô cùng mãnh liệt khát khao hạnh phúc thì vô biên mà thời gian để yêu thương thì ngắn ngủi chật hẹp. Sóng gió cuộc đời khủng khiếp ập tới bất cứ lúc nào. Chính ý thức thời gian này đã làm cho Kiều phải hành động vội vàng.

     Kiều nói với em bằng những lời lẽ khẩn thiết nhất cảm động nhất “Cậy em em có chịu lời . Tất cả sự trông đợi sự ký thác gửi cả vào từ “cậy” nàng khẩn khoản van nài em bằng những hành động tôn kính quá mức : "lạy thưa ...làm những điều đó Kiều muốn Vân không thể chối từ  và Kiều có thể trả nghĩa chàng Kim trong muôn một.

     Hơn nữa nhịp độ gấp gáp vội vàng trong những câu thơ còn thể hiện tinh thần tranh chấp với số mệnh của Kiều; bởi ngay trước đó Kiều đã có những kinh nghiệm xương máu về những phi lý của cuộc đời: vừa nhận lời yêu Kim Trọng “thề hoa chưa ráo chén vàng” Kim Trọng đã phải ra đi. Gia đình đang hạnh phúc “êm đềm trướng rủ màn che” cha mẹ đã : “rường cao rút ngược dây oan” tai họa có thể ập tới bất cứ lúc nào con người không thể chống đỡ nổi. Kiều phải hành động tranh chấp với thời gian để cứu lấy tình yêu của mình và Kim Trọng.

Câu hỏi: em thử so sánh việc Kiều trao dyên với những việc làm khác của nàng trước và sau này?

Yêu cầu: Những quyết định trong cuộc đời đều được Kiều cân nhắc suy nghĩ rất chín chắn. Khi quyết định bán mình nàng đã “để lời thệ hải minh sơn/làm con trước phải đền ơn sinh thành” sau những đắn đo dằn vặt khủng khiếp và sau này cũng thế bao giờ kiều cũng phải suy nghĩ rất nhiều nhưng ở đây dường như Kiều không hề so đo tính toán nàng  nghĩ đến và làm rất mau chóng. Có lẽ nàng biết mình không thể dùng dằng được nữa thời gian không cho phép sáng ra nàng đã phải lên đường phải từ bỏ tất cả.

Câu hỏi: Trong bốn câu cuối của phần thứ nhất Kiều đã thuyết phục em như thế nào? (Bốn câu cuối từ:    "Ngày xuân em hãy còn dài” cho đến “ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây” )  

Yêu cầu: Để thuyết phục em Kiều đã dùng những lời lẽ thật đặc biệt. Trong lời của nàng có một loạt thành ngữ nói lên mối quan hệ thân thiết ruột rà như:       

        tình máu mủ/ lời nước non

Hay là những thành ngữ chỉ cái chết:

        thịt nát xương mòn/ ngậm cười chín suối

    Đó là lời lẽ có sức mạnh lay động tình cảm lòng trắc ẩn của con người nhất là những người thân. Kiều đã nói với em bằng tất cả sự đau đớn chua xót cho thân phận mình. Lời của Kiều như là những lời trăng trối nàng viện dẫn cả tình máu mủ ruột rà cả cái chết thê thảm để thuyết phục em. Kiều hiểu để Vân nhận lời cũng rất khó khăn bởi đây là một việc làm thay đổi cả đời Vân là gánh nặng mà Vân phải mang suốt cả cuộc đời. Nàng vô cùng thông cảm cho em nhưng nàng cũng không còn cách nào khác nghĩa chàng Kim quá nặng  mà hoàn cảnh của Kiều lúc này thì quán éo le.

    Câu hỏi :Lời lẽ thái độ và hành động của Kiều ở đây cho ta thấy điều gì ?

Yêu cầu: Kiều đã quyết định dứt khoát và tìm mọi cách để thuyết phục Thuý Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim bởi Kiều ý thức sâu sắc về hạn chót của thời gian Kiều không thể làm gì khác để cứu tình yêu. Trong ý thức nàng đây là hành động duy nhất mà nàng có thể làm cho tình yêu cho chàng Kim. Cho nên nàng đã dùng tất cả nỗi thống khổ của đời mình  và những lời lẽ thuyết phục nhất để thuyết phục Vân.

Câu hỏi: bên cạnh việc thuyết phục Thuý Vân lời nói của Kiều còn thể hiện điều gì? 

Yêu cầu: Bên cạnh đó lời của Kiều còn cho ta thấy sự cảm nhận của nàng về bi kịch số phận bi kịch tình yêu một cách sâu sắc. Trong từng câu từng chữ nàng nói với em có sự ý thức sâu sắc về thân phận của mình đó là sự hiển diện của một "mệnh bạc" của cái chết "Thịt nát xương mòn". Nhưng đặc biệt nhất ở đây lời của nàng thể hiện nỗi đớn đau tột cùng trước sự tan vỡ của tình yêu. Nàng nhắc lại kỷ niệm tình yêu thật tha thiết (ngay khi đang tìm cách trao duyên cho em). Nàng nhớ như in phút dây gặp gỡ hẹn thề khi gặp chàng Kim khi ngày quạt ước khi đêm chén thề "đó là phút dây đẹp nhất đời nàng. Thế mà tình yêu đó thật ngắn ngủi những tai hoạ khủng khiếp đổ xuống bất ngờ không thể chống đỡ “sóng gió bất kì” giữa đường đứt gánh tương tư”  tình yêu phút chốc nát tan.

Câu hỏi: để diễn tả nỗi đau này của Kiều tác giả sử dụng những phương tiện nghệ thuật nào?

   Đoạn thơ có điệp ngữ  “khi gặp khi ngày khi đêm” âm điệu thơ  luyến láy nhịp điệu thơ gấp gáp hình ảnh thơ tương phản gay gắt đã diễn giải ý thức sâu sắc của Kiều về sự ngắn ngủi mong manh của hạnh phúc tình yêu giữa cuộc đời dâu bể. Tất cả những điều này làm nổi bật cái bi kịch oan trái của cuộc đời Kiều: Khát khao hạnh phúc thì vô biên hiện thực đời sống tàn nhẫn khủng khiếp đã biến hạnh phúc thành chốc lát tất cả chỉ còn là sự xót xa nuối tiếc khôn nguôi.

   Câuhỏi: Sau những lời thuyết phục em việc làm tiếp theo của Kiều là gì?

   Yêu cầu: việc làm tiếp theo của Kiều là trao kỉ vật cho em

   Câu hỏi: cảm nhận của em khi nghe Kiều dặn dò Vân lúc trao kỷ vật?

Yêu cầu: Kiều trao kỷ vật cho em chiếc thoa bức tờ mây những vật minh chứng cho tình yêu của Kim Kiều bây giờ nàng đưa lại cho em thế là mọi việc đã kết thúc Vân đã nhận lời việc đền ơn Kim Trọng đã xong. Thế mà Kiều vẫn không thể thanh thản bởi  duyên đã trao nhưng tình thì không thể dứt nên kỷ vật đã trao mà nàng vẫn cố níu kéo bằng lời dặn “vật này của chung”. Câu thơ không hề có một từ ngữ nào miêu tả trực tiếp nội tâm nhân vật nhưng sự dùng giằng khi trao kỷ vật của Kiều lại gợi dậy cho người đọc những cảm nhận về tâm trạng  tiếc nuối vò xé của nàng.

     Như vậy ở phần thứ nhất trong đoạn trích này tác giả không chỉ thể hiện sự "sắc sảo" của Kiều trong việc thuyết phục Thúy Vân trả nghĩa chàng Kim. Nếu chỉ là thuyết phục Vân thì bốn câu đầu đã hoàn thành viên mãn. Ở đó có cả việc trao gửi có người nhận lời gửi gắm có cả hoàn cảnh éo le "giữa đường đứy gánh tương tư" buộc Kiều phải nhờ cậy nhưng ở đây Kiều giãi bày rất dài dòng   hành động lời nói của Kiều không chỉ chịu sự chỉ đạo của lý trí mà còn do những cảm nhận về cảnh ngộ của bản thân trong hiện tại đã tạo ra những khủng hoảng nội tâm sâu sắc. Nên những nguồn cơn trong lòng nàng trào dâng không kìm giữ nổi. Chúng ta thấy trong đoạn thơ xuất hiện hai dòng chảy: một dòng chảy của lý trí và một dòng chảy của tâm trạng.

     Mạch ngầm đầy dư ba đó biểu hiện sâu sắc cái nhìn cảm thông nhân đạo của Nguyễn Du trước bi kịch cuộc đời Kiều. Đồng thời việc khám phá được những rung động tinh vi trong tâm hồn nhân vật như thế chứng tỏ nhà thơ là một kì tài trong việc phân tích nội tâm nhân vật.

   b.Phần thứ hai:

         Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thấy được diễn biến tâm trạng của nhân vật từ phần thứ nhất đến phần thứ hai bằng câu hỏi có tính chất gợi ý như sau :

Câu hỏi : Nếu phần thứ nhất tâm trạng của Kiều chủ yếu được thể hiện qua sự cảm nhận cái hiện tại ngắn ngủi thì ở phần này tâm trạng của Kiều được biểu hiện qua dòng thời gian nghệ thuật như thế nào ?

Yêu cầu: ở phần thứ nhất Kiều phải dùng lý trí kìm nén cảm xúc để trao duyên cho em thì lúc này việc vì người đã xong lý trí không còn đủ sức kìm giữ được cảm xúc Kiều rơi vào sự khủng hoảng tâm lý cực độ. Tâm trạng đó của Kiều được biểu hiện bằng  những lời nói hành động của Kiều  trong sự cảm nhận thời gian đặc biệt đó là thời gian đồng hiện quá khứ hiện tại tương lai.

 Câu hỏi : Từ sự kiện trao duyên Kiều cảm nhận hiện tại của mình như thế nào?

 Yêu cầu : Khi duyên đã trao tình yêu vĩnh viễn tan vỡ hạnh phúc trở thành ảo vọng hiện tại đã trở thành thời điểm phân chia ngã ba đường của số phận để nhân vật quay nhìn vào quá khứ soi rọi vào tương lai.  Soi rọi vào tương lai Kiều nhìn thấy hạnh phúc của Thúy Vân khi đã "nên vợ nên chồng" với chàng Kim và Kiều cũng thấy thân phận mình đã trở thành kẻ "mệnh bạc" kẻ bị "mất người" vì thế trong Kiều trào lên niềm tự thương khắc khoải xót xa.

Câu hỏi : Đồng thời với việc nhìn thấy tương lai đó trong  Kiều có diễn biến tâm lý như thế nào? Bộc lộ tâm trạng gì ?

Yêu cầu : Từ hiện tại cay đắng ( mất tình yêu) hình dung một tương lai bất hạnh khi đối sánh số phận mình với duyên tình của Thuý Vân Kiều quay về tìm đến với tình yêu bằng kỷ niệm của ngày gặp gỡ hẹn thề "phím đàn với mảnh hương nguyền”nhưng tất cả đã không còn. Mọi việcđã trở thành quá khứ   hai từ "ngày xưa" đã đẩy lùi cái kỷ niệm êm đềm ngày nào vào quá khứ  xa xôi vời vợi (mặc dù tình yêu Kim - Kiều vừa mới thề hoa chưa ráo chén vàng” những sự biến trong gia đình Vương ông xảy ra gần như đồng thời với việc Kim Trọng về Liêu Dương). Cái ngày nay phút chốc đã là cái ngày xưa cả "phím đàn" cả "lò hương " đêm thề thốt những gì đẹp nhất quý giá nhất đã hun hút xa xôi chìm vào bóng tối. Kiều trở về quá khứ tưởng tìm được nơi an ủi nhưng kỷ niệm lại là nhát dao cứa mạnh vào tim đẩy nàng tới sự hoảng loạn nàng chạy trốn kỷ niệm tìm đến với tương lai.

Câu hỏi : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai như thế nào ?

Yêu cầu : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai thật hãi hùng nàng nhìn thấy số phận của mình nơi mai hậu thật là thê  thảm nàng đã là người của thế giới bên kia linh hồn nàng vật vờ theo lá cây ngọn cỏ trở về mang theo niềm tiếc nuối khắc khoải hồn còn mang nặng lời thề " nhưng tình yêu bất diệt của nàng không còn chỗ trong cuộc sống hiện thực. Cũng lò hương ấy" tơ phím này" nhưng người so tơ đốt lò không còn là Kiều cũng không còn là Kim của ngày xưa. Sự trở về của Kiều chỉ còn niềm hy vọng duy nhất là sự cảm thông của người ngày xưa “rưới xin chén nước cho người thác oan”  Kiều ví mình như chàng Trương Chi thủa nào mang nặng khối tình xuống Tuyền đài chỉ có sự thấu hiểu của người ngày xưa mới có thể hoá giải nỗi oan tình nàng khẩn cầu niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau. Vậy mặc dù duyên đã trao nghĩa chàng Kim đã trả

nhưng Kiều không hề thanh thản sự tan vỡ oan khuất của tình yêu làm nàng đau đớn không cùng hồn nàng không thể về nơi siêu tịnh nàng chỉ hy vọng mai hậu Kim Trọng cảm thông may ra nỗi oan thác này  mới được giải tỏa.

Câu hỏi: em có nhận xét gì về dòng thời gian ở đây?

Yêu cầu: Dòng thời gian ở đây không tuân theo sự chảy trôi của thời gian khách quan bên ngoài mà nó có những nhịp độ hoàn toàn khác: có sự hồi hoàn giữa thời gian hiện tại quá khứ tương lai trong một khoảnh khắc ngắn của cả cuộc đời. Giọng thơ cũng thay đổi hình ảnh thơ chập chờn ma mị thời điểm không xác định (mai sau bao giờ) không khí linh thiêng (đốt lò hương so tơ phím).Tất cả nói lên tâm trạng khổ đau khủng hoảng của nhân vật. Sự đối lập găy gắt giữa ước vọng và hiện thực cuộc sống đã làm cho Kiều rơi vào tột cùng bi kịch dẫn tới sự khủng hoảng tâm lý dữ dội.

Câu hỏi: Nhận xét của em về nghệ thuật miêu tả nội tâm của nhà thơ?                          Yêu cầu: Xây dựng dòng thời gian tâm lý này Nguyễn Du đã làm nổi bật thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn của Kiều. Một mặt nàng muốn trao duyên cho em để chàng Kim đỡ đau khổ một mặt nàng không dứt nổi mối tình tuyệt đẹp của mình và khi không thể giữ  nổi tình yêu nàng đau đớn đến hoảng loạn. Nàng gần như mất hết ý thức về không gian thời gian. Vì thế dòng thời gian ở đây không tuân theo thời gian khách quan mà nó có một nhịp độ riêng thẫm đẫm cảm xúc tâm trạng. Dùng dòng thời gian đặc biệt này  nhà thơ đã mổ xẻ tâm trạng nhân vật một cách chân thực nhất những biến đổi tinh vi của tâm hồn được lý giải thật sâu sắc tài tình.

 Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất Kiều chìm vào một dòng thời gian

ảo Kiều như nửa tỉnh nửa mê đang nói chuyện cùng Vân nàng bỗng như nói chuyện với mình nàng đối diện một thực tế đớn đau:

  Trâm gãy gương tan

 Tơ duyên ngắn ngủi

Câu hỏi : Tâm trạng của Kiều được thể hiện rõ nhất qua từ ngữ nào?

Yêu cầu: Từ “bây giờ” như một cái mốc oan nghiệt xẻ cuộc đời Kiều thành hai nửa. Một nửa trong quá khứ êm đẹp một nửa là hiện tại bi thương. Cái giới hạn chia đời Kiều thành hai nửa đó chính là bi kịch trao duyên  mà Kiều vừa thực hiện xong. Cái“bây giờ” trở thành bản lề khép mở hai thế giới của đời Kiều: một quá khứ “êm đềm trướng rủ màn che” một tương lai “mệnh bạc” hồn vật vờ theo lá cây ngọn cỏ vì ôm mối oan tình không dứt.

Câu hỏi: Quay lại với hiện tại đối diện với bi kịch "bây giờ trâm gãy bình tan” tâm trạng Kiều như thế nào?

 Yêu cầu:Tâm trạng Kiều có sự đột biến. Nỗi đau khi tình yêu bị tan vỡ thì người ngoài cuộc không thể hiểu nàng Vân không thể chia sẻ. Lúc này tâm trạng Kiều chìm tới đáy của sự chiêm nghiệm cá nhân của nỗi đau cuộc đời nàng ý thức sâu sắc thân phận của mình.         

 trâm gãy bình tan

tơ duyên ngắn ngủi

 phận bạc như vôi

 nước chảy hoa trôi

Lời nói của Kiều có một loạt những thành ngữ diễn tả cái tan vỡ cái bất hạnh cái nổi trôi vô định của số phận Kiều nhắc tới điều đó  bằng sự ý thức về thân phận về cuộc đời bi kịch của mình bằng nhận thức sự đối lập găt gắt giữa cái hữu hạn của số phận và cái "muôn vàn" vô hạn của tình yêu ước vọng. Hiện tại đẩy nàng xuống tận cùng bi kịch nỗi đau này không thể chia sẻ cùng ai kể cả nàng Vân  chỉ có chàng Kim là hiểu chàng là người duy nhất có thể chia sẻ vì thế từ sự tự thương mình Kiều tìm đến chàng Kim và bóng hình chàng Kim xuất hiện trong sự tưởng tượng của Kiều. Đang đối mặt cùng Thuý Vân thế mà Kiều dường như vượt qua cả không gian thời gian để cùng tâm sự với chàng Kim. Lời của nàng giờ đây là những lời than chua xót về thân phận của mình và thân phận của tình yêu đặc biệt là những lời  tạ lỗi cùng Kim Trọng:

  Kể làm sao hết muôn vàn ái ân

   Trăm nghìn gửi lạy chàng Kim

   Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Nàng gọi tên chàng Kim  bằng  những tiếng nấc nghẹn ngào  như  trong cơ  mê sảng “Ôi Kim lang hỡi Kim lang/  Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Những gì đã lo cho chàng Kim chỉ làm nàng yên tâm trong khoảng khắc nàng vẫn mang nặng trong lòng mình nỗi mặc cảm tội lỗi.

Câu hỏi: Cảm nhận của em về tâm trạng nhân vật ở đây?

Yêu cầu: Đoạn thơ diễn tả một cơn khủng hoảng một trận sóng gió tơi bời trong lòng của con người tài sắc mà mệnh bạc. Nàng khổ đau quằn quại đâu phải chỉ vì chính mình mà còn vì người nên nỗi đau càng nhân lên gấp bội

       Giáo

More...