VĂN HỌC & HỌC VĂN

Suy nghĩ thêm về tính đa nghĩa của văn học*

1. Trong thực tế đời sống văn học nước ta những năm gần đây, việc hiểu, cắt nghĩa và đánh giá khác nhau đối với các tác phẩm đã và đang trở thành một hiện tượng thời sự. Trên bình diện lý thuyết, người ta cũng đã bắt đầu nói nhiều đến vấn đề tính đa nghĩa của tác phẩm văn chương. Mặc dù chỗ này hay chỗ khác vẫn còn có những ý kiến chưa đồng tình, nhưng nhìn chung, phần lớn giới nghiên cứu và phê bình văn học ngày nay đã xác nhận hiện tượng đa nghĩa như là một đặc tính hữu cơ của nghệ thuật nói chung và của văn học nói riêng. 
Thực ra, tính đa nghĩa của các hình tượng và tác phẩm nghệ thuật đã được nhận biết từ lâu trong đời sống lịch sử nghệ thuật của thế giới. Các  nghệ sĩ bậc thầy trong quá khứ đã nhiều lần lưu ý đến tính chất đa nghĩa đầy thú vị của văn chương và nghệ thuật trong sự tiếp nhận của người đọc, người nghe, người thưởng thức. L. Tolstoi thích nhắc đến câu châm ngôn nổi tiếng: “Những cuốn sách có số phận của riêng mình trong đầu bạn đọc”. Còn Anatol France thì khẳng định một cách chắc chắn rằng: “… không một câu thơ nào của Iliade và Thần khúc trong cách hiểu của chúng ta lại còn giữ nguyên được cái ý nghĩa mà thoạt đầu người ta gán cho nó”. 
Trong lịch sử mỹ học, tính đa nghĩa cũng được ý thức từ rất sớm ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Ở phương Tây, có lẽ I. Kant – nhà triết học và mỹ học cổ điển Đức – là người đầu tiên nêu ra ý tưởng về tính đa nghĩa của các hình tượng và biểu tượng nghệ thuật mà ông gọi là các “ý niệm thẩm mỹ”(1). Còn ở phương Đông, người xưa cũng đã không ít lần nói đến cái bản chất hàm súc, thâm diệu của văn chương và cùng với đó là sự phức tạp, đa dạng của hoạt động tiếp nhận nơi người đọc. Lưu Hiệp – nhà lý luận kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại – cho rằng: “Tác phẩm văn chương sở dĩ phức tạp là vì nội dung và hình thức đều đa dạng, (…). Mỗi người đều chỉ giải thích theo một khía, lấy nó để tìm hiểu [văn chương là] cái biến đổi vạn nơi”(2).
Đối với nghiên cứu và phê bình văn học hiện đại thế giới, mặc dù đã được đề cập đến ít nhiều từ trước đó, nhưng phải đợi đến sự xuất hiện của công trình Bảy loại mơ hồ đa nghĩa (Seven types of Ambiguity – 1930) của nhà Phê bình Mới William Empson, tính đa nghĩa mới được chú ý quan tâm một cách rộng rãi ở phương Tây như là một trong những đặc trưng cốt yếu của văn học, đặc biệt là của thơ ca. Do tính khách quan, phổ biến và tầm quan trọng của vấn đề, các nhà ngữ văn học trên thế giới trong khi nghiên cứu phương diện này hay phương diện khác của ngôn ngữ và văn học đã không tránh khỏi đề cập đến tính đa nghĩa của văn học. Những nhận định và kiến giải của họ từ nhiều quan niệm và trường phái khác nhau đã góp phần soi sáng vấn đề tính đa nghĩa của văn học từ nhiều góc độ. Tuy nhiên, qua đó người ta cũng thấy rằng tính đa nghĩa của văn học cho đến nay – cũng như nhiều vấn đề khác của văn học – vẫn còn là một vấn đề nằm trong vòng tranh luận và chưa thật sự được giải quyết thấu đáo. 
Trên phạm vi trong nước, ngay từ đầu những năm 1970, trong hai bài báo đăng trên Tạp chí Văn học, ông Nguyễn Văn Hạnh, trên cơ sở phân tích vận dụng tư tưởng của Lênin về văn học nghệ thuật, đã sớm lưu ý đến “ý nghĩa khách quan của tác phẩm”. Ông cho rằng “có thể có sự không phù hợp giữa động cơ tư tưởng, kết quả của sự phản ánh với ý nghĩa khách quan của tác phẩm”; và “giá trị của một tác phẩm thật ra không chỉ đóng khung lại trong phạm vi sáng tác, mà còn lan ra rộng đến phạm vi “thưởng thức””. Quan điểm này buộc người nghiên cứu trong khi tiến hành đánh giá tác phẩm “không thể chỉ dừng lại ở việc đối chiếu cái được và cái phản ánh, ở sự phân tích “cấu trúc bên trong” của tác phẩm, mà phải chú ý đến tác dụng thực tế của tác phẩm, phản ứng của người đọc đối với nó, cơ sở xã hội – lịch sử và tâm lý của sự tiếp thu”. Bởi vì, “như là kết quả của sự sáng tác, giá trị của tác phẩm là cố định và ở trong thế khả năng; trong sự tiếp thu của người đọc, giá trị của tác phẩm có phần biến đổi và mới là hiện thực”. Theo ông, tác phẩm “có nhiều cách tiếp thu” và “ý nghĩa xã hội thực tế của tác phẩm qua các môi trường và thời đại đều có những biến đổi nhất định trên cơ sở nội dung và hình thức đã cố định của tác phẩm”(3). Rõ ràng những ý kiến của ông Nguyễn Văn Hạnh có liên quan trực tiếp đến vấn đề tính đa nghĩa của tác phẩm văn học, và đã được thảo luận sôi nổi trong giới nghiên cứu phê bình văn học lúc bấy giờ. Có người ủng hộ, nhưng nhiều hơn cả vẫn là những ý kiến tranh luận(4). Có thể thấy, rất tiếc do những điều kiện khách quan và kể cả chủ quan của thời bấy giờ, những vấn đề liên quan đến tính đa nghĩa của văn học đã không có được những tiền đề thuận lợi để tiếp tục được khẳng định và được đi sâu nghiên cứu làm rõ thêm.
Bắt đầu từ nửa sau những năm 1980, trong bối cảnh đất nước và học thuật đổi mới, vần đề tính đa nghĩa của văn học lại được nhiều nhà nghiên cứu lý luận quan tâm đề cập đến. Một trong những người đầu tiên đặt lại vấn đề tính đa nghĩa của tác phẩm văn học trong giáo trình viết cho bậc đại học là ông Lê Bá Hán. Trong cuốn Cơ sở lý luận văn học (1985), ông đã có những kiến giải thuyết phục về “hiện tượng cảm thụ và đánh giá khác nhau đối với tác phẩm nghệ thuật”. Theo ông, cần phải truy tìm nguyên nhân của “hiện tượng lý thú” này từ hai phía: những đặc trưng của hình tượng nghệ thuật cũng như từ sự phân hóa phức tạp của người đọc và đặc thù của sự cảm thụ nghệ thuật(5). Ông Trần Đình Sử, một trong những người quan tâm nhiều đến tính đa nghĩa của văn học, cũng đã có những nhận định quan trọng về vấn đề. Trong cuốn Lí luận văn học (1987) và đặc biệt trong bài báo “Tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học” (1996), ông đã lý giải tính đa nghĩa của văn học trên cơ sở mối quan hệ của nó với đặc trưng của nội dung nghệ thuật, của “tư duy mơ hồ” của con người và tập trung phân tích những hình thức biểu hiện của tính đa nghĩa trong văn học trên nhiều cấp độ trong cấu trúc của tác phẩm(6).
Ngoài ra, những vấn đề về tính đa nghĩa của văn học cũng được đề cập đến một cách gián tiếp và rải rác đây đó trong các công trình khoa học của một số nhà lý luận và phê bình văn học khác trong nước, trong đó đáng chú ý là công trình của các ông Hoàng Trinh, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Phan Cảnh, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân … Các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học nước ta trong khi giới thiệu, nghiên cứu, vận dụng lý thuyết ký hiệu học, ngữ nghĩa học, hiện tượng học, chú giải học, mỹ học tiếp nhận v.v.. đã ít nhiều đụng chạm đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề tính đa nghĩa trong văn học. 
2.     Mặc dù tính đa nghĩa của văn học đang dần dần được xác nhận cả trong thực tiễn lẫn trên bình diện lý thuyết, nhưng hiện tại chúng ta vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về vấn đề này. Ngay cả việc hiểu thế nào là đa nghĩa cũng chưa có được sự nhất trí. Nội hàm của khái niệm đa nghĩa có khi được xác định quá rộng, có khi lại quá hẹp; khi thừa, khi thiếu. Do đó, cũng thật là cần thiết để đi đến xác định một cách hiểu hợp lý về tính đa nghĩa của văn học. 
Đa nghĩa (thuật ngữ tiếng Anh: ambiguity) – được hiểu một cách phổ biến nhất là có hai hay nhiều nghĩa(7). Đó là một khái niệm được đề cập đến trong nhiều khoa học khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học. 
Trong ngôn ngữ học, khái niệm đa nghĩa được dùng để chỉ những hiện tượng mà ở đó một từ, một câu hay một phát ngôn chứa đựng khả năng được hiểu theo hai hay nhiều cách khác nhau. Các nhà ngôn ngữ học xem đa nghĩa là một hiện tượng mang tính chất phổ biến và chung cho mọi ngôn ngữ tự nhiên trên thế giới mà nguyên nhân sâu xa là do tính chất võ đoán cũng như sự thiếu tương ứng một đối một giữa cái-biểu-đạt và cái-được-biểu-đạt trong các tín hiệu ngôn ngữ. Họ thường phân biệt hiện tượng đa nghĩa từ vựng và đa nghĩa cú pháp. Tuy nhiên, những nghiên cứu ngôn ngữ học cho thấy những hiện tượng đa nghĩa trong ngôn ngữ thường nằm trong thế khả năng hơn là có thực, bởi trong hoạt động ngôn ngữ thông thường của con người, ngoại trừ những trường hợp cố ý (câu đố, truyện cười v.v…), người ta luôn tìm cách khắc phục hay hạn chế tính đa nghĩa của các phát ngôn. 
Đối với văn học, đa nghĩa được xem là một trong những đặc điểm quan trọng và thường trực của tác phẩm, đặc biệt là của ngôn từ nghệ thuật thơ ca. Đa nghĩa trong văn học – hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này – là hiện tượng mà bất kỳ một hình thức biểu đạt nghệ thuật nào đó có thể gây ra những cách cảm thụ và cắt nghĩa khác biệt nhau, cho dù là nhỏ nhất, về nó(8). Đó cũng là quan niệm của William Empson – người đầu tiên tiến hành phân loại hiện tượng đa nghĩa trong văn học. W. Empson cho rằng: “bất kỳ sự khác biệt nào, cho dù là nhỏ nhất, tạo khả năng cho những cách cắt nghĩa khác nhau đối với cùng một hình thức biểu đạt bằng ngôn ngữ” đều là một kiểu loại đa nghĩa(9).
Với cách hiểu như trên về đa nghĩa trong văn học, thì một câu ca dao tưởng chừng hết sức giản dị như:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
vẫn hàm chứa những khả năng đa nghĩa khi mà cách cảm thụ, cách hiểu và cắt nghĩa về nó có thể có những khác biệt. Ở đây, công cha không phải chỉ được hiểu một cách duy nhất là lớn lao (to lớn như núi Thái Sơn), mà còn có thể được cắt nghĩa theo nhiều cách khác nữa: là hiển nhiên mà ai ai cũng thấy (sừng sững như núi Thái Sơn), là bất di bất dịch (vững chãi như núi Thái Sơn), là không thể phủ nhận được (nặng như núi Thái Sơn)… Tương tự như thế, nghĩa mẹ trong câu ca dao đâu chỉ là dồi dào và vô tận, mà còn là trong trẻo và vô tư, là mát lành và ngọt ngào v.v….
Đến một hình tượng nghệ thuật xuất sắc như Thúy Kiều trong kiệt tác của Nguyễn Du cũng biểu hiện tính đa nghĩa rất cao khi mà lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều cho thấy đã có những khác biệt hết sức đa dạng. Cùng đứng trên lập trường phong kiến chính thống, Nguyễn Công Trứ lên án Kiều một cách gay gắt: Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa / Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm, trong khi đó, những người như Minh Mạng, Tự Đức, Nguyễn Văn Thắng lại ca ngợi Kiều như một tấm gương biết “giữ tròn đạo hiếu”, “biết tiết, biết nghĩa”, “xét sau trước đủ trung trinh hiếu nghĩa”. Còn với lớp nho sĩ bất đắc chí lúc bấy giờ như Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Mộng Liên đường chủ nhân, Kiều là bóng dáng của cuộc đời và số phận của chính họ – cái số phận tài tình mà bạc mệnh. Với các nhà văn lãng mạn thời kỳ 1932-1945, Kiều lại là biểu tượng của một con người mang cái nhân tính muôn thuở. Và với độc giả ngày nay, Kiều chính là hiện thân của một kiểu tư tưởng đạo đức và lý tưởng thẩm mỹ, có đủ cả sắc lẫn tài, cả hạnh và tình, nhưng đồng thời nàng cũng là hiện thân của một hiện thực khổ đau và một vận mệnh bi kịch.
Về cơ bản, những khác biệt trong cách cắt nghĩa đối với những hình thức biểu đạt trong tác phẩm văn học cho dù ở cấp độ nào cũng thường dẫn đến sự khác biệt trong cách hiểu, cách lý giải và đánh giá đối với toàn bộ tác phẩm. Ví như trong trường hợp tiếp nhận Truyện Kiều nói trên, đối với Minh Mạng, Tự Đức, Nguyễn Văn Thắng, Truyện Kiều rõ ràng là một câu chuyện về “trung hiếu tiết nghĩa”, minh họa cho đạo đức và lễ giáo phong kiến; đối với Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Mộng Liên đường chủ nhân thì Truyện Kiều không gì khác hơn một câu chuyện về “tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê”, cái căn nguyên đoạn trường là ở đó; và đối với nhà phê bình mácxít ngày nay, tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Du nổi bật ở giá trị hiện thực và tấm lòng nhân đạo của nhà thơ.
Như vậy, có thể thấy rằng tính đa nghĩa của văn học cũng chính là khả năng tác phẩm cho phép được hiểu, được cắt nghĩa và đánh giá theo những cách khác nhau trong quá trình tiếp nhận của công chúng độc giả.
Hiện nay một số người có xu hướng mở rộng khái niệm đa nghĩa đến mức thái quá khi quan niệm đa nghĩa trong văn học là ở chỗ tác phẩm ngoài cái nghĩa đen còn có cái nghĩa bóng. Chẳng hạn, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Văn Dân đã dẫn ra trường hợp có người cho rằng tác phẩm Dịch hạch của Albert Camus là đa nghĩa bởi vì ngoài cái nghĩa đen nói về một nạn dịch hạch có thật còn có cái nghĩa bóng về sự đe dọa của Cái Aùc bản thể đối với loài người. Theo chúng tôi, việc tác phẩm có cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng không phải là biểu hiện đích thực của đa nghĩa trong văn học; bởi vì nội dung ý nghĩa thực sự của một tác phẩm không nằm ở nghĩa đen, trên bình diện ngôn ngữ nói chung. Nói ông Nguyễn Văn Dân: “… sự đa nghĩa phải được xét trên cấp độ và văn cảnh cụ thể của văn bản, chứ không xét trên cấp độ ngôn ngữ nói chung”(10).
Ngược lại, một số người khác lại có xu hướng thu hẹp phạm vi đa nghĩa vào dụng ý của tác giả. Theo họ, việc xét một tác phẩm có đa nghĩa hay không phải dựa vào trên cơ sở ý đồ của tác giả. Nếu như tác giả có dụng ý biểu hiện lập lờ, nước đôi, cố tình tạo ra những cách hiểu khác nhau đối với tác phẩm của họ như trường hợp bài thơ Vịnh tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, … thì tác phẩm ấy được xem là đa nghĩa; còn những trường hợp khác không dựa vào ý đồ của tác giả chỉ có thể xem là hiểu sai, hiểu nhầm, là ngộ nhận. Ngày nay người ta nhận thấy rằng việc tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm chỉ dựa trên ý đồ của tác giả đã bộc lộ những hạn chế của phê bình văn học truyền thống. Bởi vì, cái gọi là dụng ý hay ý đồ của tác giả trong nhiều trường hợp là không thể xác định được, chẳng hạn đối với các tác phẩm khuyết danh, hoặc mơ hồ, không rõ ràng như trường hợp bài thơ Thề non nước của Tản Đà. Mặt khác, không ai có thể chắc chắn ý thức hết việc mình làm, nhất là trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật; và thực tế sáng tác văn học cho thấy có không ít tác phẩm mà ở đó những gì được viết ra đôi khi đi chệch khỏi ý đồ hoặc vượt quá dụng ý ban đầu của tác giả. Hơn nữa, những gì là dụng ý hay ý đồ của nhà văn không phải là cái nằm bên ngoài, mà phải được thể hiện bằng chính văn bản và nằm trong văn bản. Do vậy, hiện tượng đa nghĩa của văn học có khi được tạo nên một cách có ý thức do chủ ý của nhà văn, nhưng cũng có khi được biểu hiện một cách “tự nhiên” trong quá trình tiếp nhận dựa trên cơ sở văn bản ngôn từ và sự cắt nghĩa của người đọc phù hợp với lôgích nội tại của tác phẩm. Không ai cho rằng Nguyễn Du, Shakespeare, Cervantes hay Goethe… cố ý tạo nên những tác phẩm đa nghĩa, nhưng thực tế tiếp nhận hết sức đa dạng đối với Truyện Kiều, với Hamlet, với Don Kisot hay Faust… là không thể phủ nhận được.
Cũng có người hiểu đa nghĩa trong văn học là hiện tượng tác phẩm mở ra những cách hiểu tương phản, mâu thuẫn hoặc ít nhất cũng khác biệt nhau hoàn toàn như trường hợp hình tượng nhân vật Thúy Kiều và tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hiện tượng đa nghĩa biểu hiện ở những lớp ý nghĩa trái ngược về tác phẩm là một điều hết sức thú vị, chỉ có ở những tác phẩm văn học nghệ thuật, nhưng đa nghĩa cũng có thể được biểu hiện qua những lớp ý nghĩa mà ở đó quan hệ của chúng là bổ sung cho nhau như trường hợp bài ca dao Công cha… nói trên hoặc khác nhau về mức độ rộng hẹp, nông sâu. Điều đáng nói là ở chỗ những ý nghĩa khác nhau được tạo nên do những khác biệt trong sự cắt nghĩa về tác phẩm văn học, cho dù có quan hệ bổ sung hay trái ngược, đều không hề loại trừ nhau mà cùng tồn tại như những giá trị khác nhau trong đời sống lịch sử của nó cũng như trong tâm trí của người đọc (tác phẩm văn học, một phần do đó, trở thành những thực thể đa trị). Một độc giả văn học đích thực khi tiếp nhận một tác phẩm đa nghĩa nào đó sẽ không bị rơi vào tình huống lúng túng buộc phải lựa chọn giữa nghĩa này hay nghĩa kia, ngược lại, anh ta sẽ cảm thấy thực sự lý thú khi cùng lúc vừa hướng đến nghĩa này lại vừa hướng đến nghĩa khác, cùng lúc rút ra và lưu giữ những hàm nghĩa phong phú khác nhau của tác phẩm.
Thực tế tiếp nhận cho thấy rằng tính đa nghĩa được biểu hiện trên tất cả các cấp độ trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm văn học, từ ngôn từ đến hình tượng và kết cấu … Tính đa nghĩa của văn học cũng có thể được biểu hiện ở những mức độ và tính chất không như nhau đối với các tác phẩm khác nhau, thể loại và kiểu sáng tác khác nhau. Cùng là những sáng tác của L. Tolstoi và là những kiệt tác của văn chương nhân loại, nhưng so với Chiến tranh và hòa bình, tiểu thuyết Anna Karenina biểu hiện tính đa nghĩa ở một mức độ cao hơn. Về thể loại, tính đa nghĩa được biểu hiện ở thơ trữ tình và ở tác phẩm tự sự cũng có phần khác biệt. Chẳng hạn, đối với thơ trữ tình, biểu hiện đa nghĩa hay tập trung vào lớp ngôn từ và cấu trúc lời thơ; trong khi đó, biểu hiện đa nghĩa ở tác phẩm tự sự thường gắn với phương thức miêu tả, kết cấu truyện và sức mạnh khái quát của các hình tượng nhân vật. Về kiểu sáng tác, nhìn chung những kiểu sáng tác hiện đại thường mang lại cho tác phẩm tính chất đa nghĩa cao hơn nhiều so với những kiểu sáng tác cổ điển.
Tính đa nghĩa của văn học là hệ quả tất yếu của hàng loạt các quy luật cơ bản mang tính chất đặc thù của hoạt động sáng tạo văn học trên tất cả các phương diện từ sáng tác của nhà văn, đến văn bản nghệ thuật và sự tiếp nhận của công chúng độc giả. Nó cho thấy sự độc đáo của quá trình nhận thức đời sống bằng nghệ thuật, thông qua tư duy nghệ thuật. Nó là minh chứng cho tính chất toàn vẹn, sâu thẳm, không thể nào dò hết được của nội dung nghệ thuật. Nó được tạo nên bởi tính chất đặc thù vừa chặt chẽ vừa lỏng lẻo, vừa khép kín lại vừa mở ngỏ của văn bản nghệ thuật ngôn từ. Nó phản ánh tính chất phức tạp, đa dạng, đồng thời cũng đầy năng động, sáng tạo của quá trình cảm thụ nghệ thuật. 
Cuối cùng, cũng có thể thấy rằng, tuy tính đa nghĩa là một đặc trưng quan trọng và phổ biến ở văn học, nhưng có lẽ không nên xem đó hoàn toàn như là thước đo chất lượng của tác phẩm. Thực tế có những tác phẩm thật sự xuất sắc nhưng cách hiểu về nó là tương đối thống nhất. Ngược lại, một tác phẩm có biểu hiện đa nghĩa chưa hẳn đã là tác phẩm hay. Bởi vì cái gọi là giá trị của một tác phẩm văn học phải là một đại lượng mang tính tổng thể và chất lượng của một tác phẩm văn học sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Tuy nhiên, có thể nói không quá đáng rằng tính đa nghĩa cũng là một phương diện quan trọng thể hiện phẩm chất của một tác phẩm, bởi đó chính là minh chứng cho cái năng lượng nội tại, cho tiềm năng dồi dào và sức sống mạnh mẽ của tác phẩm trong sự tồn tại và quá trình hành chức nghệ thuật của nó.
Chú thích:

*. Nguyên văn: Một vài suy nghĩ thêm về tính đa nghĩa của văn học
(1) Xem Iu.A.Lukin, V.C.Xcacherơsiccốp, Nguyên lý mỹ học Mác- Lênin, Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, H., 1984, tr. 123.
(2) Aristote, Lưu Hiệp, Nghệ thuật thơ ca – Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, H., 1999, tr. 32. 
(3) Nguyễn Văn Hạnh, “Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống” và “Một số điểm cần nói rõ thêm về vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học”, Tạp chí Văn học số 4 – 1971 và số 2 – 1972.
(4). Xem Tạp chí Văn học các số 4, 5, 6 – 1971 và 1, 2, 5, 6 – 1972.
(5) Lê Bá Hán, Hà Minh Đức, Cơ sở lý luận văn học, tập II, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H., 1985, tr. 58 – 68. 
(6) Trần Đình Sử (viết chung), Lí luận văn học, tập II, Nxb Giáo dục, H., 1987 // “Tính mơ hồ đa nghĩa của văn học”, Tạp chí Văn học, số 1-1996.
(7) Katie Wales, A Dictionary of Stylistics, Longman, London and New York, 1989, tr. 19.
(8) R.E. Asher (Editor-in-chief), The Encyclopedia of Language and Linguistics, Volume 1, Pergamon Press, Oxford-New York-Seoul-Tokyo, 1994, tr.90.
(9) The Ideas of Literature, Progress Publishers, Moscow, 1979, tr. 230.
(10) Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, H., 2004, tr.148 – 149.

ThS. Trần Thanh Bình


Mùa Xuân, lại đọc Thơ Xuân của Hoàng Đế Trần Nhân Tông

Mùa Xuân, lại đc Thơ Xuân ca Hoàng Đế Trần Nhân Tông

  Phan Thành Khương

 alt

 Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông chết trong tư thế sư tử tọa)       

Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là một vị anh hùng dân tộc, người đã cùng vua cha (Trần Thánh Tông) hai lần đánh tan đội quân xâm lược  sừng sỏ Nguyên Mông. Trần Nhân Tông cũng là một vị chân tu, một Thiền sư, người đã sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm. Vì thế, Trần Nhân Tông được người đời xưng tụng là Phật Hoàng (Vua Phật). Và, Trần Nhân Tông lại cũng là một nhà thơ, một thi sĩ, có một hồn thơ trong sáng, thanh cao. Hồn thơ đó luôn hướng về Chân, Thiện, Mĩ,  luôn hướng đến sự hoàn thiện và tự hoàn thiện.

 Nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn và đầu năm mới 2012, chúng ta hãy cùng đọc lại, cùng thưởng thức đôi vần thơ xuân của vị Hoàng đế - Thiền sư – Thi sĩ này.

 “Chim có tổ, người có tông” (Tục ngữ). Đầu xuân, nhà thơ Trần Nhân Tông đã đến viếng Chiêu Lăng, lăng mộ của Trần Thái Tông (1218 – 1277), vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần và là ông nội của nhà thơ. Bằng một bài thơ 5 chữ 4 dòng (ngũ ngôn tuyệt cú) hết sức vắn gọn,  nhà thơ đã khắc họa khung cảnh uy nghi, rực rỡ của khu lăng mộ và hoài niệm của  người cựu chiến binh đã từng tham gia đánh đuổi giặc Nguyên Mông lần thứ nhất (1257). Bài thơ đã cho chúng ta thấy được ý thức về nguồn cội và sự gắn bó với cội nguồn, với cha ông, của hoàng đế - thiền sư – thi sĩ Trần Nhân Tông, Sự uy nghi, rực rỡ của khu lăng mộ cũng cho phép chúng ta hình dung được sự uy nghi, rực rỡ của triều đại nhà Trần.  Câu chuyện của người lính già tóc bạc cũng chính là hào khí Đông A (hào khí nhà Trần), hào khí Đại Việt.

 Nguyên tác:

alt

  Phiên âm:

 Xuân nhật yết Chiêu Lăng

  hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm thông;

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong (1). 

 Dịch thơ:

 Ngày xuân, viếng Chiêu Lăng

 Gấu cọp nghìn cửa đứng,

Áo mão bảy màu chen;

Người lính già tóc bạc

Chuyện Nguyên Phong mãi khen. 

(Phan Thành Khương dịch)

Tiếp theo là một bài thơ 5 chữ 4 dòng (ngũ ngôn tuyệt cú)khác, bài “Trên hồ Động Thiên” (2).

Nguyên tác:

 alt

  Phiên âm:

 Động Thiên hồ thượng

 Động Thiên hồ thượng cảnh,

Hoa thảo giảm xuân dung;

Thượng Đế liên sầu tịch,

Thái thanh thì nhất chung.

 Dịch thơ:

 Trên hồ Động Thiên

 Cảnh trên hồ Động Thiên,

Hoa cỏ kém xuân tươi;

Thượng Đế thương vắng vẻ,

Giữa trời tiếng chuông rơi.

(Phan Thành Khương dịch)

 Đây là một bài thơ lạ. Hoa cỏ kém vẻ xuân, kém vẻ xanh tươicó thể vì mùa xuân tuy đã về nhưng cái giá rét vẫn còn nấn ná,chưa chịu ra đi. Nhưng từ đó, từ sự kém tươi tắn của hoa cỏmà bảo “Thượng Đế thương vắng vẻ, Giữa trời tiếng chuôngrơi” thì thật lạ, thật độc đáo! Vâng, tiếng chuông vang ngân,ấm cúng có thể xua tan cái tịch mịch, u buồn. Nhưng đấy làmột tiếng chuông chùa, tiếng chuông của một thiền sư, mộtthiền sinh chứ nào phải của Thượng Đế? Bài thơ đã biểu hiệnmột sự giao hòa, sự liên thông kì diệu giữa ba thực thể Trời -Đất - Người.

 Và, để kết thúc, chúng ta đọc thêm một bài thơ nữa, bài“Xuân muộn”(“Xuân vãn”).

 Nguyên tác:

 alt 

Phiên âm:

 Xuân vãn

 Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung;

Như kim kham (khám) phá đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng. 

 Dịch thơ:

 Xuân muộn

 Tuổi trẻ chưa tường không với sắc,

Lòng xuân mãi vướng với trăm hoa;

Nay đà hiểu hết được lẽ thật,

Bình thản ngồi trông bóng xuân qua.

(Phan Thành Khương dịch)

 Đây là một bài thơ 7 chữ 4 dòng (thất ngôn tuyệt cú). Bài thơ đã đúc kết một quá trình nhận thức – hành động của nhà thơ nói riêng, của một con người nói chung. Tuổi trẻ chưa hiểu được “sắc”, “không”, chưa hiểu được qui luật khắc nghiệt của cuộc sống nên cứ mải mê theo đuổi những ảo ảnh; bây giờ, khi đã nắm bắt được qui luật, khi đã hiểu thấu được lẽ đời, nhà thơ bình thản, an nhiên trước mọi đổi thay, còn mất. Phật giáo thường nói đến từ “vô thường”. Đó là một từ ghép Hán Việt, Vô = không, thường = luôn luôn, mãi mãi. Vận động là qui luật của tự nhiên, của xã hội, của cuộc sống, của tất cả. Bởi thế,  “vô thường” là một hệ quả tất yếu . Ta muốn “mãi mãi”, “muôn năm”, “vạn tuế”, “bất diệt” … nhưng  như thế là ta vẫn còn ấu trĩ, trẻ con.

Thơ xuân của Trần Nhân Tông là tấm lòng xuân, tâm hồn xuân của một vị Hoàng đế anh minh, yêu Nước thương Dân sâu sắc, của một vị Thiền sư hiểu rõ lẽ Đời lẽ Đạo, của một Thi sĩ tài hoa, tinh tế. Thơ xuân Trần Nhân Tông, vì thế, có khả năng thanh lọc, nâng đỡ tâm hồn người đọc chúng ta. Trần Nhân Tông là một vị Hoàng đế, một Con Người thật sự vĩ đại.

Phan Thành Khương

Ninh Thuận, 30-11-2011

 Chú thích:

(*) Mời đọc “Mùa xuân, đọc thơ xuân của Hoàng đế Trần Nhân Tông” (trên Net).

 (1) Nguyên Phong = niên hiệu vua Trần Thái Tông từ năm1251 đến năm 1258.

(2) hồ Động Thiên = chưa rõ hồ này ở địa phương nào.

alt

 Tháp mộ Phật hoàng Trần Nhân Tông ẩn hiện trong rừng già

(Bài viết do tác giả cung cấp)


Gửi người yêu văn

Gửi người yêu văn 

Nhạc sĩ  BÙI ANH TÚ

Tu
Nhạc sĩ Bùi Anh Tú sinh ngày 17/6/1959 tại Sơn Tây, quê quán ở thị xã Thái Bình, hiện là chuyên viên phụ trách môn Âm nhạc thuộc Vụ Giáo dục Trung học - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội viên Hội Âm nhạc Hà Nội.
Năm 1977 nhập ngũ và học kèn Clarinette tại Trường Quân nhạc thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1979-1981 công tác tại Đoàn Quân nhạc Quân đoàn 4 (TP. Hồ Chí Minh).
Năm 1985-1993 giảng dạy tại Khoa Âm nhạc Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc-Họa TW (nay là Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW).

Năm 1993-2000 là biên tập Âm nhạc - Nhà xuất bản Âm nhạc-DIHAVINA (Bộ Văn hóa -Thông tin).  Năm 2000-2006 là biên tập sách Âm nhạc - Nhà xuất bản Giáo dục (Bộ Giáo dục & Đào tạo). Từ 4/2006 đến nay, nhạc sĩ Bùi Anh Tú là chuyên viên phụ trách Âm nhạc ở Vụ Giáo dục Trung học- Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Là nhạc sĩ sáng tác, Bùi Anh Tú là người ưa thích di chuyển, anh đi đến nhiều nơi, đặt chân  trên khắp mọi miền đất nước. Anh đã lang thang, rong ruổi bao tháng ngày. Anh chắt lọc, kiếm tìm những âm thanh ngọt ngào, những giai điệu rạo rực yêu thương… Anh trăn trở, khát khao, anh mê say đắm đuối với đời, với nghề để đến hôm nay âm nhạc của anh đầy ắp Tình yêu.

Âm nhạc Bùi Anh Tú trữ tình, mềm mại và sâu lắng. Anh viết về tình yêu, về quê hương, đất nước, về thầy cô và mái trường… Đó là: Lặng lẽ mẹ tôi (Nhạc: Bùi Anh Tú- Bùi Anh Tôn.Thơ: Nguyễn Trọng Hoàn), Em và anh (Thơ: Đỗ Bạch Mai), Hai nửa vầng trăng(Thơ: Hoàng Hữu), Chia xa (Thơ: Nguyễn Hương Trâm), Biển (Thơ: Xuân Diệu), Biền và em (Thơ: Vân Thông), Chút kỉ niệm dịu êm, Em như cơn mưa đầu mùa, Vội vàng, Xin đừng giận dỗi, Khúc ca người giáo viên, Về thăm trường xưa… Anh đã viết nhiều về các miền quê như:  Anh hãy về quê em, Thái Bình quê hương tôi, Nhớ Thuận Vi, Hà Nội- Tình yêu mãi trong tôi, Đà Lạt tình yêu, Về Vĩnh Long quê em, Một thoáng Điện Biên, Tình yêu Đà Nẵng (Thơ: Nguyễn Trọng Hoàn)…

alt
       VH&HV xin trân trọng giới thiệu cùng đồng nghiệp yêu quý văn chương ca khúc "Gửi người yêu văn".



Thơ: Nguyễn Trọng Hoàn 
Nhạc: Bùi Anh Tú
Thể hiện: NSƯT Việt Hoàn
Guinguoiyeuvanalt



Giác ngộ - Nguyễn Minh Cường

PTV vừa nhận được bài thơ "Giác ngộ" của tác giả Nguyễn Minh Cường, một sinh viên vừa mới tốt nghiệp khoa Kinh tế chính trị, ĐHQG Hà nội.  Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị và bạn đọc:

 

"Làm thơ không phải để làm thơ, làm thơ là để chắt lọc lại những suy nghĩ tinh túy của mình trong một biển thông tin mênh mông và hỗn loạn.

Làm thơ không phải để xây một cái nhà tù cảm xúc tự nhốt mình, mà để tạo ra một cảm hứng, một ý nghĩa để sống, để yêu, để làm việc.

Cảm hứng bài này đến từ những khoảng khắc suy nghĩ về sự sống, về cái chết, có chút sự thật khoa học về vũ trụ ( vũ trụ được sinh ra từ Vụ Nổ Lớn- Big Bang,  đang dần mở rộng và cuối cùng sẽ co lại- Vụ Co Lớn (Big Crunch) rồi tự diệt vong)

 Dành tặng Bố, Mẹ, Em trai

Dành tặng Bạn bè

Dành tặng những ai đã từng ít nhất một lần chiêm nghiệm về cái chết mà vẫn chưa thoát được nỗi sợ về nó." (Nguyễn Minh Cường)

 Giác Ngộ

alt

 I- Vũ trụ

 Vũ trụ Lớn bao la

Cái Tôi thì nhỏ bé

Hành tinh xanh đơn lẻ

Giữa bóng tối muôn trùng.

 

Muốn đi đến tận cùng

Vượt triệu năm ánh sáng

Băng qua ngàn giới hạn

Lướt trên những vì sao.

 

Nhưng...

Cuộc sống có là bao

Cho nên ta phải chọn

Vũ trụ lớn Xa xôi

Hay Vũ trụ cái Tôi...

 

II-Vũ trụ Tôi

 

Vũ trụ Tôi thú vị

Biết hấp thụ tinh hoa

Nên từ Lõi tỏa ra

Sức nóng trăm nghìn độ.

 

Mỗi giây triệu suy nghĩ

Như triệu tiểu hành tinh

Diệt , Sinh, Diệt lại Sinh

Trong vòng quay vô tận.

 

Có hố đen Số phận

Chực hút tất cả vào

Tình yêu- Những vì sao

Lóe sáng rồi vụt tắt...

 

III-Tôi

 

Mỗi tối khi nhắm mắt

Tôi vẫn cảm ơn Đời

Cảm ơn Bố Mẹ tôi

Cho tôi một cuộc sống.

 

Sống những ngày đáng sống

Cười dưới nắng mặt trời

Những buổi chiều đi bơi

Nhịp đời trôi êm ái...

 

Có nỗi buồn tê tái

Có tình yêu ngắn, dài

Có một thằng em trai

Và có những người bạn...

 

Có Đam mê vô hạn

Có Máu liều vô biên

Giấc Mơ của Kẻ điên

Máu nóng Người chinh phục.

 

IV-Tôi và Vũ trụ

 

Sinh ra rồi Diệt vong

Tròn một vòng tạo hóa

Vũ trụ cũng như Ta

Vũ trụ không bất tử.

 

Có lúc tôi tư lự,

Sợ cái chết xa xôi ?

Vũ trụ chẳng như tôi

Âm thầm mà vận động.

 

Nếu đời chẳng đủ rộng

Càng phải sống tung hoành

Lần cuối nhìn trời xanh

Mỉm cười không hối hận.

 ---Cua---

Hà Nội, một chiều cuối năm 2011

 


Vấn đề "ngã" và "phi ngã" trong văn học Việt Nam trung cận đại - Nguyễn Đình Chú

Vấn đề “ngã” hay “phi ngã” trước hết là vấn đề của cuộc sống con người và quan niệm của con người về cuộc sống. Nhưng cũng vì là vấn đề của cuộc sống con người và quan niệm của con người về cuộc sống cho nên đã chi phối, phản ánh vào văn học một cách rất phức tạp, ở nhiều phương diện của văn học. Muốn hiểu sâu hơn văn học trung đại, không thể không hiểu sâu hơn vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong nền văn học đó. Điều này, không chỉ có tác dụng đối với việc nhận thức văn học trung đại mà còn tạo điều kiện đối sánh trong khi nhận thức văn học cận, hiện đại.

 alt

Cao Bá Quát

*

*     *

Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu văn học, kể cả một số tác giả sách giáo khoa môn Văn trung học phổ thông trong đó có chính tác giả của bài viết này đã nói đến tính chất “phi ngã”, “vô ngã” trong văn học trung đại. Nói thế là căn cứ vào:

- Thực tế lịch sử là ở Việt Nam trong thời trung đại, cái tôi (ngã) về cơ bản chưa được phát hiện, nhận thức.

- Tư tưởng “phi ngã”, “vô ngã” trong học thuyết Nho, Phật mà văn học trung đại chịu ảnh hưởng. 

- Bản thân văn học, đặc biệt đối với các thể loại mang hình thức cố định với thi liệu, văn liệu có tính công thức, ước lệ, trừu tượng, phi cụ thể và cá thể, trong đó có điển tích điển cố...

Từ những căn cứ trên, mà kết luận rằng văn học trung đại có tính “phi ngã”, “vô ngã” là đúng. Nhưng để tránh sự đơn giản hoá vấn đề, cần phải nói rõ một số điều sau đây:

1. Vấn đề “phi ngã”, “vô ngã” của Nho giáo, Phật giáo:

- Nho giáo lấy chữ “Lễ” làm nội dung cốt yếu để xây dựng, tổ chức cuộc sống. Lễ là bao gồm các quy ước, điều ước nhằm đảm bảo các quan hệ của con người với nhau, trong cuộc sống xã hội. Tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ/phu thê) và ngũ luân (quân thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu) là những quan hệ chủ yếu trong cuộc sống con người theo Nho giáo. Để đảm bảo quan hệ đó được tồn tại tết đẹp, Nho giáo, chủ trương “khắc kỷ phục lễ” (thắng mình - tức là “Tôi” để phục tùng “Lễ”). Khổng Tử (trong thiên Tử hãn) chủ trương “tuyệt tứ”: Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.

Vô ý: chỉ theo lẽ phải của việc mà làm, không để ý riêng mình vào.

Vô tất: không quyết hẳn bằng một cách làm mà được vì ý chí làm, quyết là đạo đó thường hay trái với thời thế và đạo lý tự nhiên.

Vô cố không cố chấp vào một phương pháp chết trái với lẽ biến thông viên hoạt.

Vô ngã: ngã = mình ta, làm gì mà vì chữ “ngã” sẽ dẫn đến sai lầm. Khổng Tử không bao giờ đặt chữ ngã trong lòng. Vô ngã là điều cốt yếu nhất của Tử tuyệt tứ (4 điều dứt bỏ do Khổng Tử chủ trương).

(Xem cách giải thích của Phan Bội Châu trong Khổng học đăng phần đầu khi nói về Khổng Tử).

Nhiều người đã căn cứ vào các mệnh đề trên để kết luận về tính chất “phi ngã” (không thừa nhận cái 'Tôi") của Nho giáo. Điều đó là đúng, nhưng cũng không đủ. Vì Nho giáo, một mặt, không thừa nhận cái “Tôi” cá thể, chủ trương hi sinh nó cho chữ “Lễ” và dĩ nhiên, đó là một hạn chế lớn nhất trong nội dung thuyết Nho giáo mà ngày nay, chúng ta đã có điều kiện nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, ở Nho giáo vẫn có một thứ “ngã” rất sâu sắc mà cuộc sống không phải không cần. Đấy là cái “ngã” đạo đức, cái “ngã” trách nhiệm, mà khó có một học thuyết nào sánh kịp. Nho giáo chủ trương: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tu thân, chính là kêu gọi, khuyến khích sự phấn đấu của mỗi một cá thể để trở thành một cá thể người đạo đức Trong nội dung tu thân, Nho giáo còn đề ra nhiều mệnh đề quan trọng: “Nhất nhật tam tỉnh ngô thân” (một ngày ba lần xét mình - tức xét tư cách đạo đức của cái “Tôi”), “Quân tử thận kì độc” (người quân tử phải thận trọng khi ở một mình), “Quân tử độc thiện kì thân” (người quân tử riêng giữ mình theo điều thiện). “Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhân” (Người có học đời xưa thì vì mình, người có học đời nay thì vì người),“Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chi nhân” (Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người).

Rõ ràng, Nho giáo rất quan tâm tới một thứ “ngã”, và quan tâm một cách phiến diện, chứ không hẳn là “phi ngã” hoàn toàn.

Phật giáo chủ trương lý thuyết nhân duyên tức là nhấn mạnh mối quan hệ không chỉ là hiện thực còn là siêu hình, không chỉ hiện tại mà còn là quá khứ, là tương lai của con người với nhau. Do đó đã đi đến chủ trương “vô ngã”. ‘Ngã” là chủ thể, là riêng có tự tướng[1] của mình, mang tính riêng biệt. Người có tự tướng của người. Vật có tự tướng của vật. Thế giới có tự tướng của thế giới. Quốc gia có tự tướng của quốc gia. Xã hội có tự tướng của xã hội. Đã có tự tướng của mình, tất sẽ có tự tướng của người khác. Đã có tự tướng của vật này, tất sẽ có tự tướng của vật khác... Cứ thế mà sinh ra nhân (người), ngã (tôi), bỉ (khác), thử (này), quý trọng, khinh rẻ, tranh chấp nhau trong xã hội. Phật giáo phủ nhận tự tướng đó tức là phủ nhận “ngã”. Nó chủ trương “vô ngã” vì cho rằng bất cứ cái gì đã có thì phải làm nhân duyên cái khác.

Ở phương diện này, Phật giáo còn “vô ngã” hơn Nho giáo. Tuy nhiên, ngay ở Phật giáo, trong khi chủ trương “vô ngã” như đã nói, thì ở phương diện tu hành để thành Phật, lại vô tình rất đề cao vai trò cá nhân, tức là cái “ngã” tu hành theo bài bản, hệ thống, phương hướng của Phật giáo không dễ gì đối với từng cá nhân nhà sư. Và Phật giáo khi đề ra phương châm “tự giác” để “giác tha”, “tự lợi” để “lợi tha” cũng đã để lộ một cái “tự” (tự mình), tức là một cái “ngã”.

Nội dung “ngã” và “phi ngã”, “vô ngã” trong Nho giáo và Phật giáo được nói lại trên đây dĩ nhiên là còn quá giản đơn, thô thiển so với bản thân vấn đề trong hai học thuyết đó. Nhưng thiết tưởng cũng góp phần làm rõ thêm điều mà sách, báo gần đây đề cập đến, kể cả hạn chế sự ngộ nhận do cách nói một chiều, quá đơn giản, đó đây đã gặp. Còn vấn đề ảnh hưởng của nội dung “ngã” và “phi ngã”, “vô ngã” của Nho giáo, Phật giáo trong văn học Việt Nam thời trung đại là gì? Có thể thấy rõ hai mặt ảnh hưởng: tích cực và tiêu cực. Tích cực là ở chỗ: chính tinh thần đề cao cái “Tôi” nghĩa vụ, cái “Tôi” công dân, cái “Tôi” đạo đức của Nho giáo đã góp phần đáng kể tạo ra cái gọi là tâm huyết, là nghĩa khí, là cái cao cả... một cách đích thực, bản chất trong văn học trung đại mà ở một môi trường xã hội tâm lý khác không dễ gì có tới mức như thế. Cũng như tinh thần “vô ngã” của Phật giáo đã góp phần tạo nên cái chất vị tha, không chỉ trên phương diện tư tưởng mà còn là cảm xúc, là tình thương bao la, góp phần làm giàu chất nhân bản, nhân đạo cho văn học trung đại. Tất nhiên, chỗ hạn chế chung của Nho giáo cũng như Phật giáo trong chủ trương “phi ngã”, “vô ngã” như đã nói, trước hết chính là sự cản trở văn học trong việc phát hiện, khám phá cái “Tôi” cá thể theo ý nghĩa chính đáng, cần thiết của nó.

2. Nói đến tính chất “phi ngã”, “vô ngã” trong văn học trung đại, ngoài những điều trên đây, còn phải tính đến sự phức tạp khác của vấn đề, nếu không sẽ sai lầm. Điều cần thấy là, dù văn học trung đại có chịu ảnh hưởng của tư tưởng “vô ngã”, “phi ngã” của Nho, Phật thì đó vẫn chưa phả là sự quyết định toàn bộ số phận, thực trạng tồn tại của nghệ thuật, của thơ văn, vì một tác phẩm văn học, dù ở thời đại nào dù đã tự giác hay chưa tự giác nhận thức cái “Tôi” thì trước hết vẫn là sản phẩm, là con đẻ của một cá thể một “thằng Tôi”, không ai giống ai, ngoài những điều họ đã chung nhau, giống nhau, - một “thằng Tôi” trước khi trở thành “thằng Tôi” nghệ sĩ, đã là “thằng Tôi” cá nhân, cá thể như bất cứ ai giữa cuộc đời. Thực tế văn học trung đại chứng minh hùng hồn điều đó. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, v.v.. mỗi người một cá tính nghệ thuật, không lẫn nhau được. Cá tính nghệ thuật trong bản chất là gắn với tài năng. Càng có tài năng, càng có cá tính. Không có những cá tính đó, không có lịch sử văn học, hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt nhất. Lịch sử văn học, có thể nói là lịch sử cá tính sáng tạo. Cá tính sáng tạo là chuyện thời nào cũng có thể có và thời nào cũng khó có. Quy luật của văn học nói chung, của văn học trung đại nói riêng là thế. Nói đến tính chất “phi ngã” của văn học Việt Nam trung đại, xin đừng quên những cá tính nghệ thuật đã phải tồn tại trong những hình thức phi cá tính mà mọi người đã thấy trên phương diện thể tài, văn liệu, thi liệu, vốn nổi lên với tính chất quy  phạm định hình khép kín về thi pháp, trong vòng ảnh hưởng của những học thuyết “phi ngã”, “vô ngã”.

Khi nói đến tác phẩm văn học, chúng ta còn biết là có nhân vật trữ tình, tức là cái tôi trữ tình trong mỗi tác phẩm, nhất là với thơ ca. Tất nhiên, cái tôi trữ tình này và cái “Tôi” cá nhân trong văn học (mà ta nói là trong văn học trung đại chưa được phát hiện, khám phá đầy đủ do tư tưởng “phi ngã”, “vô ngã” chi phối), không hẳn là một khi có người đã lầm lẫn, coi là một. Vì một bên là sản phẩm tất yếu trong tác phẩm, dù tự giác hay không tự giác đối với người sáng tác từ cổ chí kim, nhất là với những tác giả lớn. Còn một bên là sản phẩm tự giác có nội dung riêng, phải được điều kiện lịch sử xã hội cho phép nhà văn mới phát hiện, khám phá được. Cái “Tôi” một khi được tự giác nhận thức sẽ là một biểu hiện mới mẻ của nội dung nhân bản và trong nghệ thuật. Đó là một điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho thế giới cảm xúc, cảm hứng, tâm trạng, tâm tình nhà văn được bộc lộ thoải mái hơn trong tác phẩm của mình như chúng ta đã thấy ở thời kỳ văn học nửa đầu thế kỷ XX. Nhưng không phải hễ nhà văn tự giác nhận thức được cái “Tôi” thì tự nhiên là có cá tính trong sáng tạo nghệ thuật. Để đi đến cái Tôi - cá nhân một cách tự giác đầy đủ, thực tế đã phải có quá trình nhận thức từ tự phát, cảm tính, trực giác đến tự giác, lý tính, có mức thấp, mức cao, có phiến diện và toàn diện. Mức cao nhất, toàn diện nhất là phải có tính chất triết học. Trong văn học Việt Nam thời trung đại, ngay ở giai đoạn Lý - Trần đã xuất hiện không ít thơ ca thuật hoài, cảm hoài, thuật cảm, ngôn hoài, ngôn chí… mà ở đó, dĩ nhiên cái Tôi - cá nhân đã trực hiện nhưng nói chung vẫn là tự phát. Bởi so với yêu cầu nhận thức, chiếm lĩnh cái Tôi - cá nhân ở trình độ tự giác, triết học, có lý luận vẫn còn là một khoảng cách khá xa. Cần thấy rằng: yêu cầu nhận thức triết học về cái Tôi - cá nhân là ngoài phạm vi chủ thể (mình tự nhận thức về chính cá nhân mình) còn là thuộc phạm vi khách thể (mình nhận thức về những cá nhân ngoài mình và trong cuộc sống). Mà ngay trong nhận thức chủ thể cũng phải có ý thức về tính khách thể của chủ thể.

3. Cá nhân là thực thể đầu tiên làm nên mọi hình thức cộng đồng xã hội. Xã hội chỉ là xã hội khi có từng cá nhân cá thể. Cá nhân trước hết là một thực thể tự nhiên, sinh học trước khi là một thực thể mang tính xã hội. Nói đến sự sống của nhân loại trước hết là nói đến sự sống của từng cá nhân. Có thể ví xã hội như là một cơ thể thì cá nhân là từng tế bào. Muốn có một cơ thể khoẻ thì phải có từng tế bào khoẻ. Cái Tôi - cá nhân được nhận thức đúng đắn sâu sắc và được phát huy theo hướng đúng đắn, chân chính, sẽ là điều kiện tối ưu cho sự phất triển toàn xã hội. Nói đến cáiTôi - cá nhân không chỉ có khía cạnh quyền lợi, sự hưởng thụ, mà trước hết là vai trò, động lực phát triển xã hội, sự cống hiến. Cái Tôi - cá nhân được nhận thức như thế, về bản chất là hoàn toàn đối lập với cái Tôi - cá nhân chủ nghĩa, tức là chủ nghĩa vị kỷ, phản tiến hoá. Bởi một bên là điều cần cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy ngày nào hay ngày ấy. Còn một bên, ngược lại, tiêu diệt được nó sớm phút nào hay phút ấy. Cái Tôi - cá nhân hiểu theo nghĩa chân chính không hề đối lập với tính cộng đồng, tính tập thể, tính vị tha. Thuý Kiều của Nguyễn Du đã cho ta một minh chứng hấp dẫn tuyệt vời về sự kết hợp giữa tính vị kỷ (không phải là chủ nghĩa vị kỷ) và tính vị tha. Văn học phấn đấu cho chủ nghĩa nhân đạo bằng sự bảo vệ, xây đắp hạnh phúc cho con người, khám phá thế giới con người, nhưng khi nói đến hạnh phúc con người cũng như khám phá thế giới con người mà không thông qua con người cá nhân thì ít nhiều đã rơi vào chủ nghĩa trừu tượng, phi thực tế. Cái Tôi - cá nhân có ý nghĩa thiêng liêng như vậy trong sự sống của nhân loại. Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào, con người trong đó các nhà văn với sứ mạng khám phá, phản ánh, đấu tranh cho hạnh phúc con người cũng đã nhận thức sáng tỏ vấn đề này. Có thể nói ở nước ta, và trong phạm vi văn học, dễ thấy một sự thật có phần khác với nhiều nền văn học trên thế giới là đã rất chậm chạp trong việc nhận thức về cái Tôi - cá nhân này thậm chí là cho đến hôm nay, cũng chưa hẳn đã được nhận thức rạch ròi. Có tình trạng chậm chạp trong quá khứ là do chế độ công xã tồn tại dai dẳng, do kinh tế tư hữu chậm phát triển và chưa phát triển tới mức cao so với thế giới. Mặt khác, còn do ảnh hưởng của các học thuyết ít nhiều mang tính chất “phi ngã”, “vô ngã” chi phối như trên đã nói; trong khi văn học phương Tây, ngay trong thời cổ đại, ít nhiều cáiTôi - cá nhân đã ló mặt. Đặc biệt đến thời đại Phục hưng thì nó có mặt một cách tự giác, bề thế. Chủ nghĩa nhân văn trong văn học Phục hưng đề cao con người, coi nó là trung tâm của vũ trụ, là thực tế tồn tại đẹp đẽ nhất của muôn loài. Con người hơn muôi loài trước hết vì con người có trí tuệ. Con người được nói đến ở đây là con người tự nhiên trong đó có hai phương diện cơ bản: sinh học và xã hội. Và khi nói đến CON NGƯỜI thì cũng đã nhận biết có cái Tôi - cá nhân. Đến thế kỷ XVII, Đêcáctơ (Descartes) có được luận điểm nổi tiếng: “Je pense, donç je suis” (Tôi tư duy, ấy là tôi tồn tại) chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Phục hưng về cái Tôi - cá nhân(L'individu) đó. Chủ nghĩa nhân văn của thời Phục hưng với nội dung cơ bản trên đây trước hết là một sự giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của tôn giáo, của thần quyền. Từ sự giải phóng này, con người vươn tới sáng tạo ra nền văn hoá Phục hưng và để lại những con người khổng lồ trên phương diện văn hoá nghệ thuật..như mọi người đã biết. Ở nước ta, mãi tới thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện chế độ phong kiến cùng với ý thức phong kiến bị suy sụp trước sự trỗi dậy của các phong trào nhân dân trong đó đã bắt đầu có thành phần thị dân, cái Tôi - cá nhân mới bắt đầu có mặt ít nhiều qua sáng tác của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Công Trứ... Trong cái Tôi - cá nhân ở giai đoạn văn học này đã có cái Tôi tự ý thức về mọi nỗi đau khổ của mình, cái Tôi đòi quyền sống cho mình, trong đó có quyền được tự do bộc lộ tình cảm riêng tư cá thể, tự do yêu đương, tự do hưởng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc tuổi trẻ, kể cả hạnh phúc bản năng. Ở đây cũng chớm hiện ra cái Tôi sinh học tự nhiên… Sự kết hợp hài hoà giữa cái Tôi và cái Ta, cùng với sự cân bằng, sự quân bình giữa càm xúc và lý trí (vốn có nguồn gốc sâu xa từ học thuyết âm dương, học thuyết trung dung) trong cái Tôi, ở buổi đầu này, là khá đẹp. Với những điều đó, cái Tôi này có ý nghĩa nhân bản, chống phong kiến rõ rệt và ít nhiều có tính chất hiện đại bởi nó thuận theo quy luật phát triển của giá trị nhân bản, của sự sống chính đáng. Sự xuất hiện của cái Tôi - cá nhân mang ý nghĩa nhân bản mới mẻ tiến bộ như thế đã có liên quan mật thiết tới sự hình thành và phát triển một số thể loại từng được coi là đặc sản của văn học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX: truyện thơ, khúc ngâm, hát nói. Cái Tôi - cá nhân đã có mặt, dù chậm nhưng khá xinh xắn và kháu khỉnh như thế nhưng ngay sau đó, nó lại như lẩn mặt đi vì thời đại không khuyến khích vì trước hoạ Pháp xâm lược, số phận cái “Tôi” phải nhường chỗ cho số phận cái “Ta” trước số phận dân tộc. Mãi đến nửa đầu thế kỷ XX này, đặc biệt là từ những năm 20 trở đi, dù đất nước còn bị chìm ngập trong vòng nô lệ thực dân Pháp, nhưng một khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (dù ốm yếu do hoàn cảnh thuộc địa quy định) đã có mặt, lại thêm ảnh hưởng tư tưởng và điệu sống tư sản phương Tây tràn vào ào ạt, nhất là ở các đô thị và trong phạm vi tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, thì dù muốn hay không, cái Tôi - cá nhâncũng có mặt lại. Và như thế là lần này nó đã có mặt, với một hậu thuẫn về quan hệ sản xuất, về cơ sở kinh tế rõ rệt hẳn hoi so với thời Nguyễn Du trước đó nhiều. Cái Tôi - cá nhân chớm lên ở thơ văn Tản Đà, ở tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, ở bút ký Giọt lệ thu của Tương Phố,Linh Phượng ký  của Đông Hồ trong thập kỷ 20, sau đó xuất hiện ngang nhiên trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, trong Thơ Mới và ít nhiều cả trong dòng văn học hiện thực phê phán. Ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, cái “Tôi” xuất hiện chủ yếu là trên phương diện giải phóng tình yêu khỏi sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, của tập tục cổ truyền, tạo cho tình yêu có một thế giới, một sinh mệnh mang màu sắc cá nhân - cá thể theo hướng tự do cá nhân. ở Thơ Mới, cái “Tôi” xuất hiện chủ yếu lại trên phương diện cảm xúc, tình cảm, trong đó, dĩ nhiên là cũng có tình yêu, nhưng không chỉ là tình yêu. Và cái “Tôi” cảm xúc thiên về hướng sầu bi đã trở thành một nét trội của Thơ Mới. Ở văn học hiện thực phê phán, từ lâu, hầu như không ai nghĩ rằng có cái “Tôi” vì ở đây, nội dung chủ yếu là vấn đề phân tích mổ xẻ, phê phán sự xấu xa, bất nhân của xã hội đương thòi. Nhưng ở Nam Cao, một nhà văn hiện thực xuất sắc thì rõ là có một cái “Tôi”. Cái “Tôi” của người nghệ sĩ tự ý thức về sự éo le bi đát của kiếp đời làm nghệ thuật trước sự đói nghèo, của người trí thức tiểu tư sản tự ý thức về tình trạng “sống mòn” của mình trong thời buổi thực dân nửa phong kiến bất lương vạn ác. Trong phê bình văn học, Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, trở thành bà đỡ đẻ cho phong trào Thơ Mới, thực chất là đỡ đẻ cho cái Tôi - cá nhân. Hoài Thanh từng viết:“Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa - hay thơ Cũ, và thời nay - hay thơ Mới, có thể gồm lại trong hai chữ Tôi và Ta. Ngày trước, là thời chữ TA, bây giờ là thời chữ TÔI…” (Một thời đại trong thơ ca – Thi nhân Việt Nam, 1942). Cái Tôi - cá nhân trong văn học 1930 - 1945 xét ở từng bộ phận, từng tác giả, đều có những nét riêng biệt, khác nhau ở trạng thái trực giác hay lý tính, ở mức độ cao thấp của nhận thức, quan niệm, nhưng nhìn chung đã không tránh khỏi phần nào hạn chế do thiếu một cơ sở nhận thức triết học vững chãi so với thời Phục hưng ở phương Tây ngày trước, do chưa tạo ra được một sự kết hợp thích đáng với cái “Ta” (tức là số phận dân tộc, nhân dân) trong hoàn cảnh thuộc địa. Nhưng bên cạnh những hạn chế đó, cái phần tích cực có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa mới mẻ của nó cũng là không nhỏ. Nó trỗi dậy trước hết với tư cách là một cội nguồn sáng tạo ra những thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hoá. Nó trỗi dậy, cũng chính là một sự thức tỉnh của con người về quyền lợi sống vì như trên đã nói, nói đến quyền sống con người, không thể không nói đến quyền sống của từng cá nhân, cá thể. Văn học cận hiện đại không chỉ đòi tình yêu tự do cho tuổi trẻ, quan trọng hơn, nó còn tự giác ở mức độ nhất định trong việc đi sâu khám phá, thể hiện đời sống riêng tư, đời sống tâm linh phong phú của con người cá nhân, cá thể nhưng không phài không in dấu giai tầng xã hội. Đó chính là một phương diện quý giá mang tính đặc trưng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời này.

 


Thi pháp thơ Đường (bài 3)

Bài 3:
PHÉP ĐỐI

alt
Câu đối là các câu văn đi song song với nhau từng cặp.

Thí dụ:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh


Trong bài thơ Đường luật Thất ngôn bát cú, bắt buộc phải có đối với nhau giữa các câu 3 và 4. câu 5 và 6. 

Muốn câu đối chỉnh và cân, phép đối cần phải hội đủ 3 điều kiện:
-Đối thanh
-Đối ý
-Đối từ loại

1. ĐỐI THANH

-Bảng luật bằng:

B B T T B B T
T T B B T T B

-Bảng luật trắc

T T B B B T T
B B T T T B B

Chí ít là các chữ 2,4,6,7 phải theo đúng luật bằng trắc.
2. ĐỐI Ý

Ý câu trên và ý câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.

Thí dụ:
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

3. ĐỐI TỪ LOẠI

Danh từ <-> Danh từ.
Danh từ riêng <-> Danh từ riêng. Danh từ chung <-> Danh từ chung
Tên người <-> Tên người. 
Tên nước, Tên địa phương <-> Tên nước, Tên địa phương

Động từ <-> Động từ.
Trạng từ <-> Trạng từ.

Tính từ <-> Tính từ. 
Tính từ có nhiều loại, nên:
Gợi hình <-> Gợi hình. Màu sắc <-> Màu sắc. Mùi vị <-> Mùi vị. Tượng thanh <-> Tượng thanh. Số lương <-> Số lượng.

Chữ nặng <-> Chữ nặng. Chữ nhẹ <-> Chữ nhẹ
Mùa tiết <-> Mùa tiết. Phương hướng <-> Phương hướng

Thành ngữ <-> Thành ngữ. Chuyên ngữ <-> Chuyên ngữ
Từ kép <-> Từ kép. Từ đơn <-> Từ đơn
Hán Việt <-> Hán Việt. 
Nôm (thuần Việt) <-> Nôm (thuần Việt)

Hai cặp đối trong thơ Đường luật là tinh hoa của bài thơ. Nó là đặc điểm chính để nhận biết một bài thơ Đường luật. Hai cặp đối này còn giúp đo lường trình độ làm thơ Đường luật của tác giả.

Một bài thơ thất ngôn bát cú mà không có 2 cặp đối ở Thực và Luận thì không phải là một bài thơ Đường luật.

 


Thi pháp thơ Đường (bài 2)

Bài 2:

THƠ TỨ TUYỆT

alt

 Để học làm thành công một bài thơ Đường luật Thất ngôn bát cú thì trước hết, chúng ta nên tập làm thơ Tứ tuyệt cho thật rành rẽ, điêu luyện. Bởi những quy định của thơ Tứ tuyệt cũng là quy định của thơ Đường luật.

1. THƠ TỨ TUYỆT

Thơ Tứ tuyệt là thơ Đường luật chỉ có 4 câu.
Từ một bài thơ Đường luật Thất ngôn bát cú, có 4 cách ngắt để hình thành 4 bài thơ Tứ tuyệt.
Thí dụ: 

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm kim cổ soi gương cũ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

BÀ HUYỆN THANH QUAN

Có thể ngắt ra:

1.
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
2.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
3.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm kim cổ soi gương cũ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
4.
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Ngàn năm kim cổ soi gương cũ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

2. BẢNG LUẬT

Từ thí dụ trên, cho thấy: Thơ Tứ tuyệt có loại 3 vần, có loại 2 vần và có đối hoặc không.
Để dễ nhớ và có thể liên hệ khi đến giai đoạn tập làm thơ Đường luật, các bạn dùng ngay bảng luật của thơ Đường luật và viết cách quãng bảng luật đó ra để trở thành luật của thơ Tứ tuyệt.
Cụ thể:
A- Luật bằng vần bằng

1. B B T T T B B (v: vần)
2- T T B B T T B (v)
3: T T B B B T T 
4: B B T T T B B (v)

1: B B T T B B T
2: T T B B T T B (v)
3: T T B B B T T 
4: B B T T T B B (v)

B- Luật trắc vần bằng

1: T T B B T T B (v)
2: B B T T T B B (v)
3: B B T T B B T
4: T T B B T T B (v)
1: T T B B B T T 
2: B B T T T B B (v)
3: B B T T B B T
4: T T B B T T B (v)

Nếu muốn, các bạn làm câu 3 và câu 4 đối nhau thì trở thành bài thơ Tứ tuyệt có đối.
 Vì là thơ Luật nên bắt buộc phải làm đúng luật.
 Nếu chưa nhập tâm luật, khi làm thơ Tứ tuyệt (hay Đường luật) chúng ta cứ để bảng luật trước mặt mà làm cho đúng luật. Sau khi làm xong, kiểm tra luật lại một lần nữa.


Thi pháp thơ Đường (bài 1)

alt
Bài 1: 
TỔNG QUÁT



Bài này trích từ quyển Văn học Việt Nam của GS Dương Quảng Hàm, viết tại Hà Nội tháng 6 năm 1939. In tại Taiwan do Bộ Giáo Dục, Trung tâm học liệu xuất bản.

 

Thơ Đường luật hay cận thể là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618-907) bên Trung Hoa, phải theo luật lệ nhất định.

Tứ tuyệt hay bát cú: 

Theo số câu trong bài, thơ Đường luật chia ra làm hai lối:
1- Tứ tuyệt: 4 câu
2- Bát cú: 8 câu
Trong hai lối ấy, lối bát cú là lối chính. Mà bát cú vần bằng là phổ biến hơn cả. 
(Các bạn chỉ cần học và trau dồi loại bát cú vần bằng là đủ để Làm thơ và Họa thơ Đường luật rồi).
1. VẦN

Cách gieo vần
Thường dùng vần bằng, rất hiếm dùng vần trắc. Suốt bài thơ chỉ gieo một vần gọi là độc vận.
Có 5 vần gieo ở cuối câu đầu và các câu chẵn, nghĩa là cuối các câu 1,2,4,6,8.

Lạc vận và cưỡng áp
Làm thơ phải hiệp vận cho đúng. Nếu gieo sai như cây đi với hoa là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng thì gọi là cưỡng áp. Hai cách này đều không được cả.

2. ĐỐI 

Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú, trừ hai câu đầu, hai câu cuối, còn bốn câu giữa cứ hai câu đối nhau: 3 với 4; 5 với 6. 

3. LUẬT

Luật bằng và luật trắc 
Là cách sắp đặt tiếng bằng và tiếng trắc trong các câu của bài thơ. Luật nhất định buộc nhà làm thơ phải theo đúng mà đặt. 

Luật bằng: 
Bắt đầu bằng hai tiếng bằng 

Luật bằng vần bằng:


1: B B T T T B B (v: vần)
2: T T B B T T B (v)
3: T T B B B T T 
4: B B T T T B B (v)
5: B B T T B B T
6: T T B B T T B (v)
7: T T B B B T T 
8: B B T T T B B (v)

Luật trắc: 
Bắt dầu bằng hai tiếng trắc

A . Luật trắc vần bằng:

1: T T B B T T B (v)
2: B B T T T B B (v)
3: B B T T B B T
4: T T B B T T B (v)
5: T T B B B T T 
6: B B T T T B B (v)
7: B B T T B B T
8: T T B B T T B (v)

B. Luật trắc vần trắc 

1: T T B B B T T (v)
2: B B T T B B T (v)
3: B B T T T B B 
4: T T B B B T T (v)
5: T T B B T T B 
6: B B T T B B T (v)
7: B B T T T B B
8: T T B B B T T (v)

4. BẤT LUẬN

Trong bài thơ, chữ thứ 1, thứ 3 không cần theo đúng luật bằng trắc.
Nhưng chữ thứ 2, 4, 6 phải đúng luật bằng trắc: Nhị tứ lục phân minh.
5. KHỔ ĐỘC

Nghĩa là khó đọc, đọc lên trúc trắc không được êm tai. Tuy theo lệ "bất luận " có thể thay đổi mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng trắc mà đổi ra bằng thì bao giờ cũng được, chứ đáng bằng mà đổi ra trắc thì trong vài trường hợp, sự thay đổi ấy làm cho bài thơ khổ độc.
Những trường hợp ấy là: 

Chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ đáng là bằng mà đổi ra trắc là khổ độc .

6. THẤT LUẬT 

Trong một câu thơ chữ nào đáng là bằng mà đặt tiếng trắc, hoặc đáng trắc mà đặt tiếng bằng, thì gọi là thất luật (sai luật thơ), không được.

7. NIÊM
 


Niêm nghĩa đen là dính với nhau, là sự liên lạc âm luật của hai câu thơ trong một bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào hai chữ đầu câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Trong một bài thơ bát cú, những câu sau đây niêm với nhau.

Thí dụ: Một bài thơ luật bằng vần bằng 
Câu 1 niêm với 8
B B T T T B B 

Câu 2 niêm với 3:
T T B B T T B
T T B B B T T 

Câu 4 niêm với 5: 
B B T T T B B 
B B T T b B T 

Câu 6 niêm với 7: 
T T B B T T B
T T B B B T T

Câu 8 niêm với 1: 
B B TT T B B 
8. THẤT NIÊM 

Trong một bài thơ, nếu cả hai câu thơ đặt sai luật, như đang bắt đầu bằng bằng đặt làm trắc trắc hoặc trái lại thế, làm cho cả câu thơ trong bài không niêm với nhau thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền), không được.

9. CÁC BỘ PHẬN TRONG BÀI THƠ


Cách bố cục một bài thơ
 


Một bài thơ bát cú giống như bức tranh. Trong cái khung nhất định 8 câu 56 chữ, làm sao vẽ thành một bức tranh hoàn toàn, hình dung được ngoại cảnh của tạo vật hay nội cảnh của tâm giới. Bởi vậy phải sắp đặt các bộ phận cho khéo. Có bốn bộ phận là: Đề, thực, luận và kết. 

1- Đề thì có phá đề (câu 1) là câu mở bài nói lung động cả ý nghĩa trong bài và thừa đề (câu 2) là câu nối với câu phá mà nói đến đầu bài. 

2- Thực hoặc trạng (câu 3-4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng. Nếu là thơ tả cảnh thì chọn các cảnh sắc xinh đẹp đặc biệt mà mô tả ra, nếu là thơ tả tình thì đem các tình tự giãi bày ra; nếu là thơ vịnh sử thì lấy công trạng của người mình muốn vịnh mà kể ra.

3- Luận
 (câu 5-6): là bàn bạc. Như tả cảnh thì nói cảnh ấy xinh đẹp như thế nào; vịnh sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so sánh người ấy, việc ấy với người khác việc khác. 


4- Kết
 (câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại cho mạnh mẽ rắn rỏi.

 

 


“Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”

Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương. Macxim Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Tuy nhiên tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn hoc có những đặc điểm riêng. Là nghệ thuật “lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson), ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ. Đó là thứ ngôn ngữ được trưng cất công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ”. Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ nhận trong yếu tính thơ, vì “thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ”. Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa) vừa giàu nhạc điệu (tính nhạc). Các đặc điểm trên hòa quện với nhau tạo nên hình tượng thơ lung linh, đa nghĩa.

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh, sắc màu. Hình ảnh thơ bao giờ cũng là sự kết tinh của việc sử dụng ngôn ngữ. Vì thế hình ảnh thơ luôn có ý nghĩa trong việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện hữu của thơ. Vì ‘thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ ,lý do tồn tại của thơ, biểu tượng chính của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Như vậy dù là tiếng vọng từ tâm linh, là tiếng gọi từ trong vô thức thì thơ cũng phải tồn sinh dựa vào nhiều phương thức biểu hiện, trong đó không thể không có ngôn ngữ và hình ảnh - những thi liệu đầu tiên mà người đọc chạm tới trước khi bước vào khám phá thế giới mộng mị và hư ảo của thơ. “Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị một sự mê hoặc, một thứ ma thuật. Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh”. Nhưng “Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng. Nó là một ước muốn hơn thế nữa là một đam mê mù quáng cũng nên” (Huỳnh Phan Anh). Rõ ràng, hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Nhà thơ không nói bằng phạm trù của tư duy logic như trong các môn khoa học tự nhiên mà thông qua hình ảnh cụ thể để diễn đạt những ý niệm trừu tượng.

Nhà thơ Tố Hữu viết về bốn mùa (đông, xuân, hè, thu) ở Việt Bắc bằng ngôn ngữ giàu tính họa (có người gọi đây là bức tranh tứ bình):

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Khương Hữu Dụng viết Một tiếng chim kêu sáng cả rừng (Hành quân qua đèo Hải Vân) tạo cảm giác như ta vừa bước từ bóng tối ra ánh sáng, thật sung suớng. Hay như Nguyễn Duy trong bài “Lời ru đồng đội”, viết: 

Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng
Gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm
Có người ngủ thế thành quen
Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình.

Có nhà thơ so sánh mái tóc dài của thiếu nữ khá độc đáo: Tóc em dài như một tiếng chuông ngân. (chuyển từ quan sát bằng thị giác sang thính giác). Hay Trần Đăng Khoa cảm nhận được âm thanh rất nhẹ của chiếc lá đa rơi trong bài “Đêm ngủ ở Côn Sơn”: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng... (chuyển sự cảm nhận từ thính giác sang thị giác). Tất cả những câu thơ trên đều gợi liên tưởng, tạo hình tượng khá rõ. Nếu không có trí tưởng tượng kỳ diệu thì khó mà viết được những câu thơ như thế. Để có được những từ ngữ “lóe sáng” đó, ngoài vốn từ vựng phong phú, nhà thơ còn phải biết kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, điệp từ, tượng trưng, nói quá, nói giảm...trong cách diễn đạt.
Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ một cách trực tiếp thật đẹp qua một loạt hình ảnh so sánh trùng điệp gợi trường liên tưởng rộng:

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
(Tiếng hát con tàu)
Nỗi nhớ trong tình yêu giữa anh với em là tất yếu như quy luật đất trời đông về nhớ rét . Còn tình yêu ta quý như cánh kiến hoa vàng- một thứ đặc sản của núi rừng Tây Bắc và đẹp như sắc biếc lông chim lúc xuân sang. Tác giả đã cụ thể hóa khái niệm trừu tượng là tình yêu thành những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với con người, nhất là người miền núi.

Ở một bài khác, ông lại bộc lộ nỗi nhớ sâu lắng hơn, trăn trở và da diết hơn:

Anh nhớ em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm.

Không tin vào cuộc sống, không tin vào tình yêu, tất cả trước mắt chỉ là một màu xanh ảm đạm, Nguyễn Bính tìm tới cá quán trọ bên đường, tới chiếc lá khoai để so sánh với tình yêu vô vọng: 

Lòng em như quán bán hàng
Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi
... Lòng em như chiếc lá khoai
Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu.
(Hai lòng)

Ta có thể bắt gặp vô vàn những hình ảnh so sánh ví von tạo hình ảnh độc đáo trong thơ Xuân Diệu: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, Tóc mịn đầy tay như suối mát, Lá liễu dài như một nét mi, Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ, Mây đa tình như thi sĩ thời xưa, Cuộc đời cũng đìu hiu như dặm khách. Mà tình yêu như quán trọ ven đường...

Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Có thể xem tính nhạc là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ.

Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca. Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” (Bằng Giang). Bởi nhạc tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố tạo mỹ cảm cho người đọc. “Ly khai với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên” (Tam Ích). Và “Thơ là sự phối hợp của âm thanh”. Thơ bao giờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc. Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên). Rõ ràng, nhạc tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La Fontaine “Chẳng có thơ nào không có nhạc”. Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể lọa nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượng hình, chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc. Nhạc tính trong thơ được tạo nên từ nhiều yếu tố như nhịp điệu, cách gieo vần, phối thanh…

Vần là sự lặp lại những âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính. Thơ có vần chính và vần thông. Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự. Xét về vị trí vần, còn chia ra vần chân và vần lưng. Thơ tự do ngày nay không bó buộc về hiệp vần, nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ:

Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường Bạch Dương sương trắng nắng tràn

Tố Hữu lặp lại vần ngay trong một dòng thơ khiến câu thơ như ngân lên điệu nhạc du dương, man mác.

Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng là yếu tố đồng hành với tính nhạc. Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy. Việc kiến tạo âm điệu trong thơ cũng chính là kiến tạo nhạc tính. Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, dẫn dụ người đọc đi vào thế giới màu nhiệm của thơ ca. Các câu thơ sau sở dĩ “đầy nhạc” chính vì sự tập trung dày đặc các nguyên âm mở và phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ:

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận (Nguyệt cầm – Xuân Diệu)

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)

Nam đình nghe động trống chầu đai doanh. (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên. Xuân Diệu viết hai dòng toàn bằng để gợ tả điệu nhạc du dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

Câu thơ của Bích Khê sở dĩ đầy nhạc tính như ta cảm thấy chính là vì đã tập trung được các thanh bằng một cách dày đặc nhất:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông…
(Tỳ bà)

Tản Đà trong hai câu thơ "Tài cao phận thấp chí khí uất/Giang hồ mê chơi quên quê hương" đã sử dụng một nhịp điệu đặc biệt trên cơ sở tương phản về thanh điệu như hai vế đối lập. Câu trên là một tình thế bất công, một cảnh ngộ uất ức. Câu thơ bị dồn chặt, đóng chặt bởi những từ ngắn mang thanh trắc giống như uất ức bị nén lại. Câu thơ sau là một hướng giải quyết tiêu cực và buông xuôi, toàn bộ câu thơ trôi đi trên thanh bằng như một sự buông tỏa, giải thoát, không có phương hướng, không có gì níu giữ lại. Câu thơ thứ nhất với chủ âm thanh trắc, câu thơ thứ hai chủ âm thanh bằng diễn đạt được trạng thái buông xuôi của nhà thơ, chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không nói hết.

Nói đến yếu tố tạo tính nhạc cho thơ phải kể đến vai trò của nhịp điệu. Maiacovki từng khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ”. Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối.” (Isokrate). Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là kết quả của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong thơ.”. Nhịp thơ có thể dài, ngắn, đọc lên có thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc:

Nhiều đấy ư em/ mấy tuổi rồi?
- Hai mươi.
- ờ nhỉ/ tháng năm trôi
Sóg bồi thêm bãi / thuyền thêm bến
Gió lộng đường khơ/ rộng đất trời!
(Tố Hữu)

Ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp như sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên trước sự đổi thay của thời đại. Dòng 4,5 nhịp dài ra như niềm vui trải rộng.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, tính nhạc là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ ca. Chính vì đặc điểm này mà rất nhiều trường hợp các nhạc sĩ sử dụng ngay những bài thơ có sẵn làm chất liệu sáng tác cho bài hát của mình. Vô số những bài thơ phổ nhạc được nhiều người yêu thích và có sức sống khá bền lâu như: Vàm cỏ đông (Thơ Hoài Vũ), Tình ca Tây Bắc ( thơ Cẩm Giàng), Tiếng đàn bầu ( Thơ Lữ Giang), Bóng cây kơnia ( dịch thơ dân tộc Hrê)…

Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người (Hữu Đạt). Dovậy, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc phong phú của ngôn ngữ.

Thơ là thể loại “ý tại ngôn ngoại”. Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan trọng đối với nhà thơ. “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu sa thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì phải nói ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị. Ý hết mà lời dừng là cái lời hết mực song lời dừng mà ý chưa hết thì lại càng hay tuyệt” (Hải Thượng Lãn Ông). Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy. Lựa chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Nói như Maiacôpxki, quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc quặng radium:

Lấy một gam phải mất hàng năm lao lực.
Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ.

Trong một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa..., người viết cần liệt kê vài từ để chọn. Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi chọn từ “khô” để đưa vào câu thơ: Non cao những ngóng cùng trông/ Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề non nước). Nếu thay từ khô bằng từ tuôn, hay từ trôi thì hiệu quả sẽ như thế nào? 

Hay từ “ép” trong câu: Tuổi già hạt lệ như sương/ Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan là một “nhãn tự” (mắt chữ) trong bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Ta bắt gặp trong Nguyễn Du, một bậc thầy về ngôn ngữ thơ ca, những sáng tạo kỳ diệu. Chỉ trong một câu thơ ngắn Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, với chỉ một từ tót thôi, Nguyễn Du đã giết chết tên Giám Sinh họ Mã (Hoài Thanh). Hay Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào. Với một từ lẻn, Nguyễn Du đã lột trần bản chất con người Sở Khanh.

Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ thơ ca cô đúc, chặt chẽ với sỗ từ rất hạn định nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn. Vấn đề đặt ra với mỗi nhà thơ là phải chọn một cách nói tốt nhất đến mức đô người ta cảm thấy không thể khác được. 

Nguồn: http://www.go.vn

Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa âm thanh và ý nghĩa, hình ảnh. Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ thi ca hòa quyện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẫm mỹ của câu thơ.Thơ không phải là một mớ lý thuyết mà là một thực thể ngôn ngữ,. Và thơ ca ám ảnh người đọc phải chăng cũng vì vẻ đẹp toát ra từ “thực thể ngôn ngữ” ấy. Vũ trụ tâm hồn thi nhân có hòa điệu với tâm hồn người đọc không, có “tri âm” với người tiếp nhận hay không, tất cả phải thông qua chiếc cầu ngôn ngữ, nói như Bùi Giáng “thi ca vẫn có sức đưa dẫn người ta vào giữa huyền nhiệm của cuộc sống. Ngôn ngữ thơ bao giờ cũng là hóa công của người nghệ sĩ. Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân. Vì “Thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng. Làm văn xuôi, chữ không có sức mạnh ma quái như vậy (…) thi nhân là một thần linh nói một thứ chữ riêng mà thế nhân phải diễn tả dài dòng thô lậu” (Nguyên Sa).


Cương thổ - Tiếng gọi của đất nước, dân tộc

Một tác giả lớn tuổi đã gửi sáng tác của ông về với cuộc thi "Đây biển Việt Nam". Cương thổ là một bài thơ xúc động với ý chí đanh thép quật cường, với sự am tường về lịch sử và văn hóa của dân tộc. Hội viên Hội VHNT tỉnh Quảng Nam - ông Nguyễn Đức Dũng - đã viết những vần thơ bằng cả tâm tình và những trải nghiệm quý báu của cuộc đời. Đọc thơ ông, thấy bóng dáng những ý tứ Đất nước - Nhân dân của Nguyễn Khoa Điềm:

"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn ngàn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước....."

Và hàng chục năm sau, từ tỉnh Quảng Nam - miền Trung thân yêu, khúc ruột của Tổ quốc - đã lại cất lên một tiếng nói lão thành đáng kính trọng thay, đáng tự hào thay.

Mời độc giả VietNamNet cùng thưởng thức bài thơ: Cương thổ

Nguyễn Đức Dũng
Cương thổ

đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung 
giáo mác Trường Sơn
cọc nhọn Bạch Đằng 
đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận
chiếc roi cày rần rật máu cha ông 

đất nước sinh ra huyền thoại tiên rồng
bọc trứng trăm con lên rừng xuống biển 
mẹ lội suối trèo non 
cha bạt ghềnh chắn sóng
mong mai sau nên vóc nên hình

đất nước quặn đau con sóng vỗ ru ghềnh
hồn biển động lời vỏ sò vỏ ốc
ta xăm ngực thuồng luồng mò trai lượm ngọc
thân vùi đảo xa mờ
ma đói lạnh trùng khơi

đất nước mỗi ngày lên đón ánh mặt trời
thấy dung mạo tiền nhân nhắc lời di huấn
nghe vị mặn mồ hôi thấm đầu sông cuối  bãi
vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh 

đất nước đổi bao xương máu mới yên bình 
ta yêu nước là yêu những điều gần gũi nhất
yêu giọt mưa mái tranh 
yêu reo cười lửa bếp
mẹ từng chiều nhen ấm áp cơm rau

vẫn biết rằng chưa sang cả đẹp giàu 
nhưng ta quý những gì ta có được
ta giữ từng câu hát ru
từng tượng đồng bia đá
từng vạt áo nâu già mẹ cặm cụi ngoài sân

có đất nước nào như đất nước ta
lưng gánh mưa nguồn ngực phơi giông bão
mỗi góc ruộng bờ cây là mỗi niềm xương máu
mỗi tên người tên đất cứ rưng rưng
    
đất nước ơi từng chặng  tủi mừng
như đứa trẻ lớn lên mỏi mòn cha mẹ
con nhà nghèo lòng thảo thơm từ bé
nghe tiếng gà nhảy ổ cũng nâng niu

đất nước ơi cay khói bếp chiều 
đường đánh giặc nhớ mẹ già muốn khóc
cứ ưng về làm cúi núi rơm thơm 
tóc mẹ bạc còn tro than lấm láp
    
đất nước ơi qua mỗi chặng đường
qua mỗi chặng lớn khôn
nhớ viên bi tuổi thơ sân trường lăn bảy màu ký ức 
thương nhành ổi bên nhà đong đưa bím tóc 
thương cánh diều rủ  rê trốn học
thương câu Kiều thầy giảng buổi bình văn

đất nước còn đau giọt lệ quá quan 
gạt bịn rịn thường tình hoá sao khuê Nguyễn Trãi
đất nước còn buồn tiếng thở dài cha từng mùa cấy hái 
cơn nồm nam tàu chuối biết se lòng

đất nước nuôi ta thành những anh hùng 
ta giữ đất bốn ngàn năm không nghỉ
đất nước dạy ta trở thành thi sĩ
ta giữ nước bằng nhân hậu bao dung

ta giữ đất nước bằng hào khí cha ông
từng thế hệ trao truyền ngọn lửa hồng tim máu
đất nước mến yêu ơi 
bốn ngàn năm trang sử không nguôi giờ giông bão 
những đàn con lại tiếp bước lên đường

                                                   Quảng Nam 19/8/2011
                                                      Nguyễn Đức Dũng

Theo VietNamNet



SỐNG CHỤ SON SAO - TẬP ĐẠI THÀNH CỦA VĂN HỌC THÁI

SỐNG CHỤ SON SAO   - TẬP ĐẠI THÀNH CỦA VĂN HỌC THÁI

THÁI DOÃN HIỂU  

VH&HV vừa nhận được bài viết "Sống chụ son sao - Tập đại thành của Văn học Thái"  và toàn bộ truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Sóng chụ son sao) do dịch giả Nguyễn Khôi gửi qua E. mail. Do dung lượng tác phẩm quá dài, VH&HV không thể giới thiệu với bạn đọc và các em học sinh toàn bộ tác phẩm. Bạn đọc nào có nhu cầu đọc toàn bộ tác phẩm, xin liên hệ với VH&HV qua địa chỉ E. Mail: phanthanhvan.htk@gmail.com.

Truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Sóng chụ son sao) là một thiên trường ca trữ tình kết hợp giữa truyện dân gian và thơ ca dân gian. Theo truyền thuyết, đây là câu chuyện tình của một đôi trai gái ở bản Panh và bản Sái thuộc xã Tranh Đấu, huyện Thuận Châu (tức mường Muổi, Sơn La ngày nay).Sóng chụ son sao là đỉnh cao của văn học Thái đen biểu trưng cho ngôn ngữ Thuận Châu, Mường La. Ra đời trong xã hội thịnh trị của thế kỷ XVII ở vùng Tây Bắc Đại Việt, ngôn ngữ thơ đã đạt đến trình độ điêu luyện, hầu hết các thể thơ Thái thông dụng đã được sử dụng trong Sóng chụ son sao, từ thể Khắp bắc cầu

dài 11, 12 chữ đến thể Thống khái câu ngắn 5, 6 chữ. Các thể thơ này được dùng xen kẽ với nhau khá nhuần nhuyễn. 

Tiễn dặn người yêu   - áng thơ tuyệt diệu xin được tóm tắt như sau : Một đôi nam nữ sinh ra cùng lứa. Khi đến tuổi cập kê, họ bén duyên nhau, chàng trai sắm lễ vật sang nhà dạm hỏi. Nhưng bố mẹ không ưng, chê nghèo, ép gả cô cho người khác giàu và ở một bản xa. Chàng trai thất tình, đeo nặng nỗi buồn thương, phẫn chí bỏ sang Lào đi buôn mong kiếm đủ bạc vàng chuộc lại người yêu. Nhưng chợ đời đâu dễ kiếm tiền, chàng trai lam lũ vật lộn gian nan ở quê người. Là phận gái, cô dâu đau buồn vẫn không vượt qua bức tường lễ giáo, cam chịu cho số phận an bài, buộc phải lấy một kẻ xa lạ. Thấm thoắt sáu bảy năm trời, đã hết hạn ở rể của chồng, sau nhiều lần cố trì hoãn chờ người yêu trở về, cô đành nhắm mắt đưa chân bước đi đến người nhà làm dâu. Đúng ngày vu quy, thình lình người yêu cũ về đến nhà. Bao ước vọng tan tành. Không thể xoay chuyển tình thế, chàng dành cải trang thành khách đưa tiễn dâu về nhà chồng để dọc đường tranh thủ than thở tâm tình với người yêu cho vơi nỗi cay đắng. Chàng và nàng đau khổ hẹn thề rằng không lấy được nhau thời trẻ sẽ tìm mọi cách để lấy cho được nhau lúc về già. Cuối cùng, cái ngày ước nguyện định mệnh đã thành. Họ gặp nhau trong cảnh ngộ bi thương. Sau hai đời chồng, nàng bị người chồng thứ hai đem ra chợ bán và oái oăm thay được người tình xưa tình cờ đổi lấy bằng một nắm lá dong gói bánh ! Từ đó, họ mới được thật sự sống trong hạnh phúc vợ chồng.

Thông qua mối tình đẫm đầy nước mắt của hai nhân vật chính, những phong tục tập quán, bao đời chi phối nhân duyên, bao nỗi lao đao thăng trầm, những buồn vui, sướng khổ… được dồn nén trong thiên bi tình sử này và nó đã trở thành bộ từ điển bách khoa của đời sống tinh thần dân tộc Thái. Người Thái thuộc và hátTiễn dặn người yêu trong  những cảnh huống tương thích giống như người Kinh thuộc và bói Kiều vậy.

Đã từng sống hàng chục năm ở Tây Bắc, lòng quê Quan họ thấm đượm hương sắc mường bản, Nguyễn Khôi đã hóa thân vào chàng trai Thái để dịch, chuyển thể song thất lục bát tập đại thành của văn học Thái ra tiếng Việt. Chúng ta có thể khảo sát công trình công phu đó của nhà thơ :

  1. Nguyên văn tiếng Thái :

 

“Cộp chụ tạu cáy khăn

Pha lăng phăn mữa xú hườn hươn chọi

Hên tò, mek dắn dọi lồng tồng xí puông

Mươi luông tặp cháy cá hươn ông pêng piếng

Tả chụ pên niếng nắc hặc pên niếng niêu

Hứa chaư điêng bánh xong xữ đảy”

Cầm Cường dịch :

Bên nhau tận thâu đêm gà gáy

Đeo giấc mơ về tới nhà, trăng xế đầu núi

Màn sương buông đồng làng làm bốn mảng

Sương lạnh sa mái nhà “ông” thành tảng

Lời tình xôi nén chặt

Thương tình xôi nén chắc vào xôi

Mảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.

Nguyễn Khôi chuyển thể :

Có đêm chuyện chừng quên gà gáy

Đeo mộng về trăng rải như mơ

Mù dâng sương tỏa  mịt mờ

Tơ duyên xe lối hẹn  hò bền lâu.

  1. Nguyên v ăn tiếng Thái :

 

“Nham bok pục, đất bok pục nằng cong

Nhám bók tong, đất bók tong nằng thả

Nham bók mạ, đất bók mạ nằng thả hướm lay”

Cầm Cường dịch nghĩa :

Mùa hoa bưởi, ngắt hoa bưởi ngồi trông

Mùa hoa vông, ngắt hoa vông ngồi chờ

Mùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài.

Nguyễn Khôi chuyển thể :

Cho dù đã vợ người ta

Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau

Mùa hoa bưởi, hoa ngâu hẹn đợi

Hoa mạ vàng chờ tới tàn phai

Hoa tàn em nhúng sương mai

Hai mươi năm gói khăn  mùi còn thơm.

  1. Nguyên văn bằng tiếng Thái :

 

“Mửa lồng hươn, phắc cón hính pên bửa

Bát làu lửa, xửa ón nọi ma ták têm chăn”

Cầm Cường dịch nghĩa :

Lúc ra đi hạt cải mới nẩy mầm

Tới ngày về, áo con trẻ phơi đầy sân.

Nguyễn Khôi dịch và phóng tác :

Khi anh đi cải ngồng cánh bướm

Anh trở về, cải muộn ra hoa

Khi đi piêu mới rủ là

Khi về áo trẻ đầy nhà dăng phơi

Lá trầu vàng rụng rơi khỏi cuống

Cây tre sầu chết đứng vườn bên

Bạn bè nên lứa nên duyên

Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng .

 

Nhưng rất nhiều chỗ anh lại rút gọn lại. Vào đầu câu chuyện, nguyên tác dùng đến 180 câu tả cảnh thai nghén của Mẹ yêu, Nguyễn Khôi tước bỏ những chỗ không cần thiết “gom” lại 12 câu khá chuẩn:

Mẹ anh yêu nhói đau bên phải

Đều thèm ăn món gỏi cá chua
Bé xinh hai tháng có thừa
Mẹ thèm ăn dở me chua bên vườn
Chửa ba tháng gỏi lườn Cá Giếc.

Chắm nấu măng ngỡ tiệc tháng tư
Tháng năm Cá Pộc đã chờ
Cá Chày … sáu tháng mẹ sờ thấy con
Tháng thứ bảy Cá Mương làm gỏi
Cá Vũ ngon quẫy đợi tháng sau
Bé xinh mẹ nặng mang bầu
Đợi chờ chín tháng qua cầu nở sinh
Máng nước xối lanh tanh róc rách
Chú thím mừng, mẹ mệt vẫn cười
Mười ngày, chín tháng, đủ đôi.

Hai ta cùng lúc chào đời khóc oe
Anh rơi sấp bà chìa tay đỡ
Mẹ đẻ ra rơi ngửa thành em
Nâng niu bú mớm lớn lên
Cùng phi ngựa trúc chơi liền bên nhau

Chất thi sĩ của người Kinh Nguyễn Khôi đã nhập vào hồn những câu thơ Thái rất đẹp và duyên dáng. Chúng ta có thể nhặt thêm : “Trời hoàng hôn nắng khép cửa rừng” (câu 78); “Quả câu nhỏ buộc dây trầu gỡ sao” (câu 120); “Người đi xa quẩn quanh vía bám – Dây trầu leo lên quấn hồn yêu” (câu 249-250);  “Vừa đi vừa ngoái đầu về bản – Chân bước xa càng nhớ càng đau” (câu 309-310); “Không ăn bụng đã đói mềm – Ăn vào tắc họng như tên bắn vào” (câu 640-641); “Chán nhau nhựa trám quyện mau – Hai đuôi con mắt, vai đầu quyện thương” (câu 792-793) ; “Đêm nằm không mảnh lót lưng – Cơm ăn như cát đói từng đêm đêm” (câu 888-889); “Đồi dong chớp loáng bên bờ – Mưa sa núi trám gió đưa bước nàng” (câu 1000-1001).

.

Nguyễn Khôi không có ý định bám sát nguyên tác để dịch mà bám sát từng ý, từng đoạn thơ Thái hay nhất, rút được cái thần thái nguyên bản để chuyển thành thơ. Dịch thơ là một sự sáng tạo. Sức sáng tạo của Nguyễn Khôi thật đáng kể. Nhà thơ đã khéo chọn thể thơ song thất lục bát độc nhất vô nhị của Việt Nam ra đời cùng thời thế kỷ XVII với Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm và Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc – một thể thơ có khả năng vừa tự sự vừa trữ tình thích hợp cho truyện thơ để dịch.

Nguyên tác Sống chụ son sao dài 1.846 câu, Nguyễn khôi chuyển thể và rút gọn thành 1.025 câu mà cốt truyện vẫn đầy đủ ý nghĩa, hồn vía vẫn giữ trọn. Bản dịch thật tao nhã, lời Kinh hồn Thái nhuần nhị, nó là một công trình nghệ thuật có giá trị văn học cao, vượt trội các bản dịch khác của Điêu Chính Ngâu (1914-1958), Mạc Phi (1928-1996). Có thể nói Nguyễn Khôi đã gần như sáng tác lại trên nền tảng của nguyên tác trứ danh này. Công lao của Nguyễn Khôi đối với Tiễn đặn người yêu chẳng khác gì Nguyễn Du đối với Truyên Kiều.

_________ 

Nguyễn Khôi: sinh 1938, quê Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh..NR; 259/39 phố Vọng – Hà Nội.
- Hội Viên Hội Nhà Văn Hà Nội
- UV BCH Hội Văn nghệ  Dân Gian Hà Nội
- UV BCH Hội VHNT các Dân tộc Thiểu Số VN (Khóa 2)
Chuyên viên Cao cấp, nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội Việt Nam
Các tác phẩm đã xuất bản :
Trai Đình Bảng (thơ) nxb Văn Học 1995,vhtt 2000
Gửi Mường bản xa xăm (thơ) nxb vhdt 1998 – Giải thưởng Hội VHTH các DTTS VN 1998.
Trưa rừng ấy (thơ tứ tuyệt 100 bài) nxb vhdt 2005
Bắc Ninh thi thoại (biên khảo) đã tái bản lần thư 3.
Các dân tộc ở Việt Nam-cách dùng họ và đặt tên (biên khảo nxb Vhdt 2006.
Cổ Pháp cố sự- 4 tập, 920 trang nxb vhdt,viết về cội nguồn nhà Lý.
- Có thơ in ở:tuyển tập thơ Việt Nam 1945-2000 (nxb lao động); tuyển tập thơ
Việt Nam 1975-2000, nxb Hội Nhà Văn; tuyển tập Văn học Miền Núi-nxb giáo
dục1998; tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ 20 (nxb giáo dục-2005) vv…

Dịch thuật :
Sống chụ son sao (Tiễn dặn người yêu) – truyện thơ dân tộc Thái
Tiếng hát làm dâu (dân ca Hmông) vv…

 

Giải thưởng :
- Giải thưởng viết về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, bài thơ ” Về Hà Nội”.
- Giải thưởng Văn học Nghệ Thuật Thủ đô 2008 cho Bộ sử Làng Cổ Pháp cố sự.



VẬT CHỨNG TRƯỚC THỜI GIAN

VẬT CHỨNG TRƯỚC THỜI GIAN

  

alt

  

VẬT CHỨNG TRƯỚC THỜI GIAN

  (Về tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung,Nxb Thế giới, 2011)

                                                                     Lê Hồ Quang

  1. Tiêu đề Những kỉ niệm tưởng tượng không hẳn là một cách chơi chữ. Đó là  phúng dụ về hiện thực qua một cách nhìn khác. Ở đó, thế giới được thiết lập nên bởi nhiều chiều kích của kí ức và sự tưởng tượng, chúng tạo nên tính chất mơ hồ, bất định và đôi khi nghịch dị trong “những ý nghĩa thỏa thuận” của ngôn từ. Ở đó, thời gian không trôi theo trật tự tuyến tính viên miễn, nó bị đảo ngược, xâm thực, chồng lấn, xóa nhòa những ranh giới hiển nhiên, tạo nên những tương tác huyễn tưởng, phi thực - đó là thời gian để bắt đầu những suy niệm trừu tượng. Cũng ở đó, quá khứ và hiện tại, hiện thực và tưởng tượng, điều đã có và cái chưa từng diễn ra…, tất cả đều có thể đồng hiện và đan cài vào nhau trên cùng một mặt cắt thời gian. Tồn tại trong thơ Trương Đăng Dung là một đời sống đã được gián cách hóa. Nhà thơ biết giữ khoảng cách để cái hiện thực sự kiện “sống sít” được lắng lại, và thông qua màng lọc tâm hồn, biến chúng thành cái hiện thực ưu tư. Chính khoảng cách này cho phép ông nhìn về thế giới không phải như nó là, mànó trong sự hình dung là. Và bởi vậy, Những kỉ niệm tưởng tượng không chỉ là cái tên gọi, nó còn là chìa khóa để mở ra một hiện thực khác – hiện thực của thi ca.

  

2. Ý niệm về thế giới của Trương Đăng Dung gắn liền với cảm thức thời gian. Thực ra, khi con người bắt đầu ý thức về mình như một cá nhân thì đồng thời với điều đó, ý thức về thời gian cũng được mài sắc hơn bao giờ hết. Thời gian qua hình ảnh mái tóc “mới sớm còn tơ xanh chiều đã tuyết” (Lí Bạch) trong thơ xưa hay cảm giác “cái bay không đợi cái trôi/ từ tôi phút trước sang tôi phút này” (Xuân Diệu) trong Thơ mới, dù ở những mức độ khác nhau, đều được nhìn từ thước đo cá nhân này. Nhưng với Trương Đăng Dung, cảm thức thời gian ấy gắn liền với nỗi ưu tư về thân phận con người trong một thời đại đầy biến động: những chuyến tàu chạy ngược chiều kí ức/ không bao giờ vào ga/ những gương mặt người lướt qua/ như con số đếm giây trên đồng hồ điện tử (Thành phố phía chân trời)… Cảm thức ấy không chỉ giúp nhà thơ nhận ra sự nhỏ bé của “những kiếp người” đã “tan trong sương khói”, mà nó còn đẩy ông dấn sâu thêm trong những suy tư hiện sinh. Một mặt ông nhận ra cái kết cục bi đát của phận người nói chung - “sinh ra để rồi chết”: một ngày kia hết mọi buồn vui/ chui xuống cỏ ta sẽ nằm dưới cỏ/ bàn tay ta bất động giữa đất dày/ bàn tay ta thôi tìm nhau run rẩy (Ảo ảnh); nhưng cùng với điều đó, ông  nhận ra sự “sinh sôi” như một quy luật tiếp nối vĩnh hằng: Em ở lại/ một lần nữa cùng anh giữa mùa trăng sắp lụi/ ta nghe tiếng muôn loài hấp hối/ tiếng côn trùng trong cát bụi sinh sôi (Ảo ảnh)…Chính vì vậy, thời gian có thể biến mắt trong từng khoảng khắc thực tại (Khi môi ta rời nhau/ hơi ấm đã thuộc về quá khứ - Vật chứng), đồng thời nó có thể được kéo giãn đến vô cùng trong vòng sinh hóa bất tận: Có thể em quên rằng anh đã gặp em/ hai mươi ba ngàn năm về trước…/Anh không biết dòng sông trôi về đâu/ bốn mươi sáu ngàn năm nữa (Có thể)…. Có thể diễn tả ý niệm thời gian của Trương Đăng Dung qua một cặp phạm trù tương phản mà thống nhất, đó là thoáng chốc và vĩnh viễn. Đi cùng cảm giác về cuộc đời chỉ như một “ảo ảnh”, chỉ là “nơi bình minh tạm trú trước hoàng hôn”; nhà thơ cũng đồng thời “cảm nhận thời gian qua từng giọt nước/ hai mươi ba ngàn năm trong giọt nước mắt này”. Cái vĩnh viễn đã trở thành một thoáng chốc và ngược lại. Ta có thể nói đến một thứ “triết học thời gian” trong thơ Trương Đăng Dung, nó là phản chiếu của một nội tâm quen nhìn sự vật trong tính quy luật và sự tồn tại bản chất của chúng.

 

3. Thực ra, với Trương Đăng Dung, ý niệm thời gian tương đối ấy là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Nhãn quan này cho phép nhà thơ dễ dàng phối trộn, lắp ghép giữa quá khứ / hiện tại, không gian/ thời gian, phương Đông/ phương Tây, thực/ ảo… Vì vậy mà trong Có thể, ông dễ dàng tồn tại trong cái trạng thái phân thân giữa cái tôi bây giờvà cái tôi “hai mươi ba ngàn năm về trước”. Vì vậy mà trong Tôi lại nhìn thấy họ, ông có thể nhìn thấy “những người vợ suốt đêm vá lưới/ mắt quầng thâm nhìn chồng”  và “từng đoàn người tay xách nách mang, lầm lũi đi qua cánh đồng bạc trắng” ở một làng chài nghèo khó quê ông giữa một “trời Âu” hoàn toàn khác biệt và xa lạ - “đêm đêm giữa trời Âu/ những người tôi mới gặp lần đầu/ những người tôi chưa từng được gặp”… Suy tư về thời gian trong thơ ông thực chất là sự suy tư về phận người. Không phải về một cá nhân riêng lẻ mà là thân phận con người nói chung. Đó là những thân phận bé nhỏ, đơn độc, mệt mỏi, sợ hãi. Điều đó được khẳng định rất rõ trong những câu thơ như hành động truy vấn tinh thần này:

 

 Anh hỏi dòng sông về hạnh phúc trên đời

 sông trả lời anh sông chỉ biết trôi,

 anh hỏi ngọn núi

 núi trả lời anh núi chỉ biết ngồi,

 anh hỏi con người

 người trả lời anh bằng nước mắt rơi!

(Ảo ảnh)

  

Như vậy, trong thơ Trương Đăng Dung, thời gian được diễn tả như một phúng dụ về trạng thái nhân thế phổ quát. Điều này cho thấy một tâm trạng có phần bi quan của nhà thơ, vì xuyên qua trục không – thời gian ấy, cái mà ông luôn nhìn thấy, như là sự lặp lại giễu cợt của lịch sử, là một hiện thực không lí tưởng, đầy bất trắc, thậm chí phi lí. Những kỉ niệm tưởng tượng (bài thơ được lấy tên làm tiêu đề chung cho cả tập và cũng là tác phẩm, theo tôi, là nổi bật nhất của tập thơ này), thể hiện rất tập trung tư tưởng ấy.

 

Bài thơ gây một “ám ảnh” (thậm chí “tái ám ảnh”) * mạnh mẽ tới độc giả bởi nhiều lí do. Trước hết là sự độc đáo trong bút pháp. Đó là sự xáo trộn đầy bất thường về không gian (phương Đông/ phương Tây); thời gian (tháng Năm năm 1054/ sáng nay/ ngày sinh lần thứ một ngàn…); Đồng thời với điều đó là sự đứt mạch, “nhảy cóc” trong cảm xúc, câu chữ và sự chuyển đổi đột ngột đối tượng trữ tình. Sự tương phản kì dị, thậm chí “kinh rợn” trong các hình ảnh thơ cũng là một trong những điểm gây ấn tượng mạnh với người đọc. Có thể nhận ra rất rõ dấu ấn của bút pháp siêu thực trong tác phẩm. Tuy nhiên, mục đích của tác giả không phải nhằm đi đến những cách tân thuần túy hình thức. Cách viết đặc biệt này nhằm lột tả bản chất của một trạng huống hiện thực phổ quát. Sự ghép nhập các phiến mảnh không - thời gian vốn xa cách như trên kì thực nhằm để nhấn mạnh sự tương đồng giữa Đông và Tây, xưa và nay, quá khứ và hiện tại... Đó là sự tương đồng - đúng hơn là sự lặp lại - của những quy luật vận hành thế giới. Thoạt nhìn, những hình ảnh, chi tiết thơ có vẻ lộn xộn và không nhất quán (điều mà nhiều người đã nói tới). Tuy nhiên, khi sắp đặt tất cả những chi tiết ấy trong một tổng thể, dưới cái nhìn suy tư về phận người, bài thơ đã tạo nên sự kết nối đầy ý nghĩa các chi tiết nhỏ lẻ và rời rạc. Mối liên hệ kết nối giữa tôi (chủ thể trữ tình) – anh (nhà thơ Hunggary, đối tượng trữ tình thứ nhất) – mẹ (đối tượng trữ tình thứ hai) – em (đối tượng trữ tình thứ ba) được hình thành trên cơ sở tương đồng thân phận. Sự xuất hiện liên tục của những đại từ xưng hô số nhiều: tôi với anh/ ta/ chúng ta; sự lặp lại cố ý của cụm từ “cùng nhau” nhằm tô đậm thêm tính “tất yếu” của số phận con người dù khác màu da, quốc tịch, tuổi tác, dù là tôi/ anh/ mẹ tôi/ em tôi/ bác sĩ/ y tá/ gái điếm/ trẻ nhỏ/ người già… Đó không phải là một nỗi đau siêu hình. Đó là sự lặp lại của tấn bi kịch khi con người vừa là nạn nhân nhưng cũng có khi là đao phủ của chính mình bởi những tham vọng lịch sử mù quáng. Trên nền một thời gian có tính ước lệ, bị xáo trộn, cắt rời, đứt nối vô hạn định, là hình ảnh một cuộc sống với những chi tiết “tả thực” đến gây sốc. Đó là những hình ảnh dồn chứa nỗi đau đồng thời mang một sắc thái châm biếm kín đáo:

 

Chúng ta lớn lên cùng nhau ăn thịt chó

cùng nhau thấy những những con trâu vừa kéo cày

vừa đái bừa xuống ruộng

cùng nhau thấy những gái điếm ngủ dọc bờ sông

đầu gục xuống

và  những chuyến tàu chở đầy ắp vũ khí

trên nóc toa là trẻ nhỏ người già

Và bài thơ kết thúc trong một dự cảm mang màu sắc u mua, nghịch dị:

 

Đã lâu rồi quạ cũng bay đi

có lẽ một ngày kia chúng sẽ trở về mang theo nhiều xương ống

để làm búp bê cho em tôi chơi

để làm dùi cho em tôi đánh trống

  

Ta sẽ còn bắt gặp hiện thực nghịch dị ấy trong những bài thơ khác của Trương Đăng Dung. Chẳng hạn trong Chân trời: Anh đã thấy những người dị dạng/ dang tay đòi hái mặt trời/ những bóng ma thọt chân lang thang/ đòi trở về quê cũ/ Và những đội quân không mũ/ tay súng tay đao chân bước thụt lùi/ những nhà thơ chống gậy đứng cười/ trước những con trâu mông dính đầy mạng nhện…; Chẳng hạn trong Giấc mơ của Kafka: Khắp nơi/ những đôi mắt/ dính trên cổ những người không có mặt/ những tiếng kêu/ phát ra từ miệng những người không có cổ/ những bàn chân/ càng bước càng lún sâu vào đất… Đó là những biểu tượng về một cuộc sống bị áp đảo bởi chiến tranh, bạo lực và nỗi đau, trong đó, thân phận con người xiết bao u tối, nhỏ bé và bất lực.

 

4. Như một phản ứng tâm lí – thẩm mĩ tất yếu, đi cùng nhận thức hiện thực ấy, trong thơ Trương Đăng Dung hiện diện thường trực là nỗi khát khao về cái Đẹp và những giá trị vĩnh cửu. Hãy chú ý đến hình tượng Em trong thơ ông. Đây là một biểu tượng quen thuộc trong thơ, nhất là thơ lãng mạn chủ nghĩa, đó là hình ảnh tượng trưng cho tình yêu, khát vọng hạnh phúc, cái Đẹp thi ca v.v.. Song với Trương Đăng Dung, Em không chỉ là hình ảnh một người tình gắn với những cảm xúc ái ân ngọt ngào. Hình ảnh Em hiện lên trong thơ ông như một bản thể lẻ loi và đơn độc giữa nhân thế:

 

Bao nhiêu lần khép cửa

em vẫn thấy mình chưa ở bên trong

Và cặp môi hồng

mím chặt vào nhau an ủi

          (Thành phố phía chân trời)

  

Nếu trong thơ của nhiều tác giả, Em là một biểu tượng của cái Đẹp thì ở thơ Trương Đăng Dung, Em còn là hình ảnh tượng trưng cho thân phận côi cút và mong manh của chính cái Đẹp trong một đời sống dằn dữ và bất trắc. Cho nên hình ảnh Em gợi nên bao âu lo trĩu nặng:

 

Mỗi ban mai khép cửaâ

anh vẫn ngoái nhìn em lần nữa

ngoài kia mây bay

gió thổi mong manh rèm cửa đóng

ngoài kia trời rộng

ở đâu đó đang gầm lên tiếng súng…

                   (Anh không còn gì ngoài em)

  

Nhìn rộng ra, trong thơ Trương Đăng Dung, Em vừa là một đối ảnh tâm hồn vừa là một bản thể tinh thần trùng khít với cái tôi thi nhân. Bởi vậy, tìm kiếm Em không chỉ là tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc mà còn là tìm kiếm diện mạo tinh thần của chính Anh – nhà thơ. Đó là một hành trình nội tâm dài dặc, không ngừng: Bao năm rồi anh tìm em/ trong những bình minh không không có mặt trời/ trong những lâu đài chỉ có cánh dơi/ trong những giấc mơ không đầu không cuối (Ảo ảnh)…Qua Em, Anh tìm thấy chính mình:

 

Anh nhìn vào mắt em

thấy hình anh ở đó

Nếu mắt em khép lại

ảnh hình kia chỉ còn lại trong em

anh không còn thấy anh trong hiện tại

chỉ thấy em với những hình những ảnh

của mùa hè đang qua

một góc vườn và mấy khóm hoa…

                   (Ảo ảnh)

  Hình ảnh Em và Anh - cái tôi nhà thơ đã trở thành một cặp biểu tượng song trùng, chúng ánh xạ vào nhau, chiếu rọi rõ nét hơn cảm thức thân phận con người. Vì vậy, nếu hiện thực nhân sinh được nhà thơ hình dung như một cõi thế xa lạ, đầy những bức tường ngăn cách và thù nghịch thì Chân trời chính là cái đích khát vọng mà Anh và Em hướng tới. Chân trời đồng nghĩa với sự bí ẩn, nơi gửi gắm những mơ ước và cũng là nơi đánh thức bao nỗi “khắc khoải”: Anh đã đứng trong màn đêm/ khắc khoải chờ em đến/ cùng đi về phía chân trời (Chân trời)… Tuy nhiên, những trải nghiệm cá nhân và cả những kinh nghiệm lịch sử lặp lại khiến nhà thơ, bên cạnh những khát khao trải nghiệm nhằm thỏa mãn nhu cầu lí tưởng, vẫn luôn cảm thấy bất an. Đấy là  một phức hợp cảm xúc, trong đó những cảm nhận về cái Đẹp, về tình yêu luôn đi cùng với cảm giác cô đơn, trống trải và nỗi sợ hãi:

 

Em đã đến

đẹp như ánh trăng

cô đơn như ngọn gió,

chúng ta nằm trên cỏ

sợ hãi trước chân trời

                   (Chân trời)

  

5. Thơ Trương Đăng Dung, với thể thơ tự do và giọng điệu tự sự từ tốn, tha thiết, là một lựa chọn phù hợp với cái đích bộc lộ sự cảm nghiệm đời sống trong những chiều kích thời gian rộng dài và những quy luật vận hành lặng lẽ không ngừng của nó (do xuất phát từ nhu cầu “trình bày tư tưởng” này nên ở một số bài, ông chọn cách nói trực tiếp, điều này dẫn đến việc hơi lộ ý, bù lại nó cho người đọc thấy rõ hơn cái tạng chất triết lí của thơ ông). Thời gian ở đây gắn liền với những thức nhận về đời sống nhân sinh mà cái cốt tủy của nó là cảm giác bất trắc. Ta có thể thấy rõ điều này trong Vật chứng. Đây là bài thơ diễn tả rất hay cảm giác nước đôi phức tạp của con người trước thời gian. Một mặt, con người lí trí tỉnh táo biết rất rõ rằng trước thời gian rồi mọi cái trở nên vô nghĩa, nó biến con người, nói như Xuân Diệu, từ “dương vô cùng đến âm vô cùng”. Nhưng bằng những hành động sinh tồn cụ thế, anh ta vẫn không ngừng khát khao và nỗ lực chống lại cái dòng chảy ghê gớm đó (thực ra, đây là nỗi niềm nhân sinh muôn thuở, thể hiện rất rõ trong văn chương, chẳng hạn trong đoạn độc thoại nổi tiếng của chàng Hamlet). Vì vậy, cái yêu cầu của nhà thơ với người tình: Em đừng xếp lại chăn/ em đừng chải lại tóc/ em đừng tô lại môi/ cứ để nguyên áo quần trên ghế/ cứ để nguyên hiện trạng căn phòng/ Anh cần vật chứng/ trước thời gian (câu này tác giả bài viết in đậm) thoạt nghe có vẻ khá…trái khoáy. Tuy nhiên, đấy là một yêu cầu mang tính triết lí hơn là một hành động thực tế. Trong yêu cầu khẩn khoản đó, ta đọc thấy nỗi lo âu cùng cái khát vọng cưỡng lại dòng chảy thời gian, nhằm “đánh dấu” về sự tồn tại của tình yêu, hạnh phúc – những thứ vốn quá dễ lụi tàn trong đời sống con người, lại càng quá mong manh trước thời gian vô tận. Song, nếu vũ trụ là vô cùng thì đời người chỉ là hạt bụi trên guồng quay “vô tăm tích” của nó. Cưỡng lại vòng quay ấy bằng những “vật chứng” như hơi ấm một làn môi, một lần tình tự, chẳng phải là quá… mơ hồ hay sao? Kì thực đây chỉ là một cách “đặt vấn đề” của Trương Đăng Dung. Sự thật thì trong quan niệm của ông, “vật chứng thời gian” không chỉ có thế. Với ông, sự tồn tại của đời sống, dù là một đời sống đầy thăng trầm, khắc bạc, là có thật. Sự tồn tại của con người, dù trong thân phận hữu hạn và đau khổ, là có thật. Những mơ ước, khát vọng của con người là có thật. Nhưng chúng chỉ thực sự tồn tại như một “vật chứng” trước thời gian khi con người suy tư về chúng. Sự suy tư - ấy là bằng chứng về sự tồn tại đích thực của con người giữa thế giới. Đó là khởi thủy của sự xuất hiện triết học, nghệ thuật, thi ca…, những loại hình ý thức đánh dấu sự tồn tại của đời sống tinh thần của con người, vượt lên thời gian và cái chết. (Về điều này, tôi lại nhớ đến câu nói nổi tiếng của một nhà triết học: tôi tư duy vậy tôi tồn tại. Thơ, với Trương Đăng Dung, xét đến cùng bản chất của nó, hẳn nhằm để bộc lộ sự suy tư đó. Hơn thế, thơ còn chính làtrạng thái suy tư đó. Ở điểm này, ta thấy rất rõ sự giao thoa, gặp gỡ giữa một Trương Đăng Dung – nhà nghiên cứu, lí luận và một Trương Đăng Dung – thi sĩ). Suy tư về sự vô hạn của thời gian, sự phù du và bất trắc của phận người, không phải là để yếm thế buông tay mà để biết đối diện với nó bằng một thái độ tỉnh táo: một mặt không ảo tưởng dễ dãi, mặt khác vẫn biết gạn lọc, nâng niu những giá trị của vĩnh cửu trong cái thoáng chốc của đời người. Sự suy tư ấy cho thấy con người không chỉ tồn tại như một đối tượng bị động mà như một chủ thể tự do, tự tại, biết chủ động ngay trong thế bị động. Và phải chăng đó mới chính là một thái độ “hiện sinh trung thực”?                                                                                                                                                                                                                                                           Vinh, ngày 12/9/2011

  

* Dẫn ra từ các bài viết:

1. Trần Anh Thái, Một bài thơ ám ảnhwww.vanchuongviet.org

2. Đỗ Quyên, Tái ám ánh về một bài thơ ám ảnhwww.vanchuongviet.org

(*) Đã đăng ở tạp chí THƠ, số tháng 10-2011

 

 


Nỗi ám ảnh từ một bài thơ

Nỗi ám ảnh từ một bài thơ   

           Với gần 200 bài thơ của 150 nhà thơ có mặt trong tập "Thơ hay Việt Nam thế kỷ XX" Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và nhà thơ Quang Huy tuyển chọn  (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin liên kết với công ty Văn hóa trí tuệ Việt ấn hành năm 2006); ta gặp rất nhiều bài thơ hay và những tác giả nổi tiếng. Tôi dừng lại ở bài "Thương nhớ" của Nguyễn Hồng Hà.

Thương nhớ

                  Nguyễn Hồng Hà

 

 Thế là tao đợi chết già

 Chứ không chết trẻ như là tụi bay

 Tụi bay đi…thật tiếc thay

  Những thằng lính trận hây hây má hồng.

  

 Tụi bay chưa biết phải lòng

  Cuộc đời trai, những chấm hồng trong tranh

  Nhoàng một cái! Thế là "xanh"

 Chiến trường còn lại những anh lính già

  

  Lính già thắng trận về nhà

   Bao nhiêu tội vạ tà tà chia nhau

  Thằng còn mảnh đạn trong đầu

  Bỗng dưng quẳng áo đi đâu khỏi làng.

  

 Có thằng nhiễm chất da cam

 Đẻ con dị tật lại càng xót xa

 Thoáng tân hôn vợ đã già

 Có chồng thêm khổ, chẳng thà nằm không.

  

  Đi đêm đâu lạc đường rừng

 Giữa đường cái rộng vấp sưng mặt mày

  Ngủ trong hầm hố thì say

  Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường.

  

 Bây giờ cách trở âm dương

  Bao giờ mới vợi nhớ thương tụi mày.

                     1997

  

          Đọc "Thương nhớ", tôi muốn khóc, tâm hồn trĩu nặng một ám ảnh khôn nguôi. Có lẽ cũng không cần phải giải thích và bình luận nhiều bởi bài thơ rất dễ hiểu và viết về một đề tài, rất quen thuộc, rất thật, viết thơ như nói chuyện đời thường. Vậy nhưng, đó lại là đề tài rất nhậy cảm, dễ gây xúc động. Một khi đề cập đến nó thì ai cũng muốn bàn, muốn nói ít nhiều- Đề tài về chiến tranh! về số phận con người!

          Bài thơ viết về người chiến binh thời hậu chiến nhớ thương những đồng đội đã từng chia lửa, sống chết có nhau nơi chiến trường lửa đạn. Đó là lời nói chuyện của một người đang sống với những linh hồn của đồng đội đã chết bởi cuộc chiến ác liệt đã sớm cướp đi cuộc sống của họ. Nói và kể với người đã chết như nói và kể với người đang sống trước mặt. Kể và nói với bạn vừa thân mật, an ủi, vừa như  có cả đùa cợt, khôi hài, chua chát, lạnh lùng trước những thực tế tàn nhẫn mà chính họ và đồng đội phải chịu đựng.

           Hai khổ thơ đầu, ngôi thứ nhất "Tao" nói với ngôi thứ hai "Tụi bay" về chính "tụi bay", những người đã chết! Những đồng đội thân yêu của "Tao" đã bị chiến trận cướp đi giữa tuổi thanh xuân

  "Thế là tao đợi chết già

 chứ không chết trẻ như là tụi bay"

            Cái chết đối với "Tao" (có thể là tác giả) quan niệm như một sự bình thường, kẻ trước người sau :"Thế là taođợi chết già" chẳng hiểu đây là sự may mắn hay sự bất hạnh, tiếc nuối không được chết trẻ. Từ"Thế là" như sự an bài, còn từ"Đợi" như một sự mong ngóng. Thật là nghịch lý, xót xa. Vậy mà sự chết vẫn là một mất mát không mong muốn?

"Tụi bay đi… thật tiếc thay

Những thằng lính trẻ hây hây má hồng"

            Quỹ sống của những người lính trẻ chết trận chẳng được là bao. Những chàng trai vừa lớn lên, dào dạt sức sống, đẹp đẽ thần tiên "Hây hây má hồng", đầy trong sáng, triển vọng và tương lai  rực rỡ, đẹp như "những chấm hồng trong tranh". Những chàng trai chưa hề biết yêu, được yêu "Chưa biết phải lòng" nói theo cách nói cổ xưa, dân dã. Những chàng trai trẻ trung, mới lớn, sớm phải rời xa quê hương, gia đình, bố mẹ và những người thân; rời xa đồng ruộng, nhà máy, mái trường, lên đường ra tuyến lửa. "Thật tiếc thay" Phút chốc họ đã hy sinh trong lửa đạn

 "Nhoàng một cái! thế là "xanh"

Chiến trường còn lại những anh lính già"

           Tuổi trẻ hăng hái và dũng cảm. Họ dễ lập chiến công đấy! và cũng dễ hy sinh đấy. Một thời "dân lính" thường có câu "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực" như một sự xác định rất rõ ràng trước khi ra trận! và như một quy luật, cái mất đi và cái còn lại. Nghịch lý "lá xanh rụng xuống, lá vàng trên cây" ở trường hợp này là một lẽ đương nhiên xa xót.

           Nói với người thân, bạn bè đồng đội đã chết, thuộc về cõi tâm linh, mà không cần cầu kỳ, khách sáo, trang trọng. Ở đây, ta thấy ngôn ngữ thân mật, bỗ bã, đầy chất trẻ trung, khôi hài pha sự riễu cợt chua chát, một thứ ngôn ngữ có cả chất "bụi", rất "quậy", rất "Lính". Các đại từ "Tao", "Tụi bay", "Thằng", những động từ, danh từ chỉ vận tốc thời gian, chỉ cái chết "Nhoàng một cái thế là xanh ", "Tụi bay đi…thật tiếc thay", đó là ngôn ngữ mà thường nhật sống bên nhau họ vẫn quen dùng.

           Ba khổ sau, "Tao" (tác giả) nói với bạn bè "Tụi bay" đã mất, về những "thằng" "lính già" còn sống.

Lính già thắng trận về nhà

Bao nhiêu tội vạ tà tà chia nhau

          Đó là những kẻ "Chiến thắng". Khi nói "Tà tà" "chia nhau; khiến ta quen gặp, quen nghe, tưởng như phải hiểu là hãy từ từ , đừng vội vã, ai cũng có phần. Đó hẳn phải là phúc phần, lộc phần vậy. Thế nhưng ở đây lại là họ  chia nhau gánh vác tội vạ và bất hạnh, những di chứng, hậu quả của chiến tranh khốc liệt, tàn nhẫn! Không cười sao được? không khóc sao được  khi "Tà tà " "chia nhau" như thế? xót xa thay! Ta hãy xem họ được chia và được hưởng những phần nào?

 

Thằng còn mảnh đạn trong đầu

Bỗng dưng quẳng áo đi đâu khỏi làng

          Chỉ hai câu, đã nói rõ cả nhân quả. Vậy mà "Bỗng dưng", sao lại "Bỗng dưng"? Phải! Anh ta đang sống bình thường, anh ta bỗng điên, anh ta tâm thần, anh ta không còn là anh ta, anh ta không biết anh ta là ai? Sống mà không tỉnh, sống mà điên loạn. sống mà chẳng là người!

           Và đây:

Có thằng nhiễm chất da cam

Đẻ con dị tật lại càng xót xa

Thoáng tân hôn vợ đã già

Có chồng thêm khổ, chẳng thà nằm không

            Nhân và quả rõ ràng, không cần bình luận, giải thích, tự nó đã nói tất cả, một cách tường minh. Di hại của cuộc chiến đã để lại cho không chỉ một, hai thế hệ, con người bị thay đổi cả gien di truyền, có thể vô sinh hoặc cho ra đời những sinh linh tật nguyền, quái dị! Thực tế chúng ta đã chứng kiến không ít những mảnh đời, những số phận như thế mà những người lính hậu chiến phải gánh chịu, những người thân, những người ruột thịt của họ phải gánh chịu. Không hiểu hai câu cuối của khổ thơ là lời than vãn, sự gào thét của những người lính không thể  làm chồng, làm bố, hay của những  người phụ nữ không được làm vợ, làm mẹ, hoặc làm vợ mà không được làm vợ, không được làm mẹ? Than ôi! Một trong những Thiên chức và hạnh phúc của người phụ nữ là được làm vợ và làm mẹ. Bao nhiêu phụ nữ thời chiến đằng đẵng chờ đợi để thực hiện được hạnh phúc đó. Còn gì đau khổ hơn cảnh ngộ làm họ phải thốt lên"Có chồng thêm khổ chẳng thà nằm không".

            Những người lính đã từng trải qua biết bao những thử thách cam go, gian khổ. Họ đã từng vượt qua bao rừng sâu, đèo cao, vực thẳm, bao nhiêu sông suối thác ghềnh. Họ đã từng xông pha trận mạc, anh dũng, kiên cường  trước mưa bom, bão đạn. Họ đã đứng vững và chiến thắng. Vẫn những con người đó, thời hậu chiến, họ lại gặp những thử thách làm người, thử thách nhân cách, thử thách lòng dũng cảm chịu đựng những bất hạnh ngang trái khó lòng vượt qua. Chẳng những họ phải chịu đựng những bất hạnh của cuộc đời riêng tư, di hại  chiến tranh mà họ còn phải chứng kiến và chịu đựng những  thử thách, vấp váp nhiều bình diện của cuộc đời vốn có nhiều nghịch lý, bất công!

 Đi đêm đâu lạc đường rừng

giữa đường cái rộng vấp xưng mặt mày

Ngủ trong hầm hố thì say

Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường

          Lại gặp hai câu thơ một, tương phản nhau. Cùng một sự việc, câu trên diễn ra trong chiến tranh, câu dưới diễn ra trong hòa bình.

           Trong chiến tranh, dù đi trong rừng âm u, gai góc, giữa đêm tối, khó xác định đường lối, phương hướng chăng nữa, người chiến sỹ không bao giờ bị lạc. Ta hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng của câu thơ. Đường hướng địa lý và đường hướng cuộc đời!

           Vậy mà trong hòa bình, hậu chiến, dù đi trên đường rộng thênh thang, giữa ban ngày, người chiến binh một thời ngang dọc và đầy bản lĩnh đó, vấp ngã! tất nhiên ta cũng hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng của sự vấp ngã này. Vấp ngã đường đi do tật nguyền chân, mắt? vấp ngã đường đời bởi nghịch cảnh éo le?

           Trong chiến tranh, giữa bom đạn đe dọa sự sống, người chiến sĩ vẫn vô tư ngủ ngon lành trong hầm hố, dẫu ở đó chưa có gì đảm bảo chắc chắn cho sự sống. Hình như lúc đó chỉ có bom đạn là thử thách duy nhất người lính, dẫu khốc liệt nhưng không làm họ bất an một khi họ đã xác định sống chết là sự thường tình của người lính trận.

           Trong thời bình, được nằm trên giường chiếu êm rộng, trong không gian yên tĩnh, trong tình cảm của gia đình, quê hương thân yêu thì họ lại phải "Vật vã", đau đớn, quằn quại, khốc liệt, bất an hơn rất nhiều lần những thử thách đạn lửa chiến trường. Làm sao có được những giấc ngủ ngon như ở hầm hố ngày xưa? Ta liên tưởng đến sự hành hạ của những cơn bệnh hiểm nghèo, cơn đau dữ dội bởi những tật nguyền, những  thương tích mà người chiến sỹ phải đương đầu trên giường bệnh. Ta liên tưởng tới những nỗi đau thể xác và tinh thần của người chiến sĩ, kể cả những bất lực, mâu thuẫn và hậu quả đáng buồn trong chuyện gối chăn: "Chiến tranh vật vã ở ngay trên giường". Ta hiểu đây lại là trận chiến hơn cả những trận chiến họ đã từng gặp lúc chiến tranh. Đây là chiến tranh hơn cả chiến tranh! khó lòng chiến tháng.

           Chúng ta dễ gặp những bài thơ lục bát, thể thơ như quốc thi của dân tộc ,đầy chất trữ tình, thơ mộng, hình ảnh đẹp, câu thơ nhuần nhụy, âm vận, nhạc điệu gợi cảm

          "Thương nhớ" được viết dưới thể thơ lục bát quen thuộc, nhưng không thuộc loại bài thơ như vậy. Tuy nó không lộng lẫy văn chương, hình ảnh, từ ngữ, triết lý không cầu kỳ, cao xa, không có những yếu tố như nhiều bài lục bát hay gặp, nhưng ai đọc nó mà không rơi nước mắt. Bài thơ viết như nói, "ráo hoảnh" nhưng tràn ngập nỗi đau và tình "Thương nhớ" đồng đội, những số phận, kiếp người. Chẳng thấy triết lý truy tìm nguyên nhân cái chết hoặc những bất hạnh, không thấy một lời oán trách. Chỉ có kể lể, giãi bày, liệt kê những  nỗi khổ đau, bất hạnh, cái "Bình đẳng" của kiếp chiến binh: "Chết" và "Sống như chết". Tính cụ thể, tính điển hình, tính khái quát trong kể lể, giãi bày này cũng rất tự nhiên mà chọn lọc. "Thương nhớ" gieo vào chúng ta nỗi ám ảnh khôn nguôi về những khốc liệt của chiến tranh, những hậu quả do chính con người đem lại. "Thương nhớ" đánh thức nỗi đau, lương tâm, trách nhiệm của cả nhân loại tiến bộ. Không phải ngẫu nhiên nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và Quang Huy chọn "Thương nhớ" là một trong ngót 200 bài thơ hay của thế kỷ hai mươi. Tôi hoàn toàn tâm đắc, tán thành với quan điểm và nhận định khái quát về thơ ở lời nói đầu của tuyển tập  đã nêu:

 

          "Thế nào là bài thơ hay thì không phải ai cũng cảm nhận như nhau. Sự cảm thụ ấy do trình độ nhận thức, trình độ văn hóa, gu thẩm mỹ, sự từng trải và tâm hồn của từng người quyết định.

          Có bài thơ đọc xong, lòng ta rưng rưng muốn khóc. Có bài thơ câu chữ tinh tế, điêu luyện, niềm thích thú cứ reo vui trong lòng ta mãi. Có bài thơ giản dị mà thấm thía nỗi đời. Có bài thơ khơi dậy trong ta những cảm xúc mới mẻ, những ám ảnh khôn nguôi…". Và tôi đang khóc, và tôi đang chịu những ám ảnh khôn nguôi của "Thương nhớ".

  Phan Bá Ất                                                                                           

                                                                                              

 

 


Phim phóng sự: NGƯỜI TÌM PHÙ SA BÊN DÒNG LỊCH SỬ -Chân dung cố nhà giáo Phan Huy Ngạn

  Xin chân thành cảm ơn Đài Phát thanh- Truyền hình Nghệ An đã thực hiện bộ phim tư liệu: Người tìm phù sa bên dòng lịch sử. Một phóng sự về Bố tôi - nhà giáo, nhà nghiên cứu Lịch sử .

Trân trọng giới thiệu với quý vị và những người từng là học trò của thầy Phan Huy Ngạn, hiện đang sống và làm việc trên mọi miền đất nước bộ phim này.

Phan Thanh Vân              

Tin và bài viết liên quan : Phim phóng sự tài liệu  ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH NGHỆ AN


Về một kỷ niệm không bao giờ quên (3)

VH&HV  vừa nhận được bài văn của học sinh Phan Thị Thu Hiền, lớp 10B2, THPT Huỳnh Thúc Kháng vào lúc 23h43 phút. Một bài văn chan chứa tình người. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc và những học sinh yêu thích môn văn.

 ÁM ẢNH NGÀY HÔM QUA

  Trong ngăn kí ức ngày hôm qua của mình, tôi có thể quên nhiều thứ nhưng mãi mãi hình ảnh về ngày hôm ấy sẽ là một kỉ niệm buồn khắc ghi trong trái tim tôi suốt cuộc đời.

          Ngày bé, tôi không sống cùng bố mẹ như những đứa trẻ khác. Tuổi ấu thơ của tôi được lớn lên trong vòng tay dịu dàng âu yếm của bà. Vì thế tình cảm tôi dành cho bà cũng như bà dành cho tôi rất sâu đậm không gì có thể chia rẽ được. Còn nhớ hồi còn bé, những lúc rảnh rỗi bà cháu tôi thường dắt nhau ra chợ Cửa Bắc mua đồ ăn. Hai bà cháu đi bộ và còn xách theo chiếc làn màu đỏ to như cái vali. Bà tôi thương tôi nhiều lắm. Có lần bà hỏi: “Cháu yêu bà hay yêu mẹ nhiều hơn?”. Tôi nhanh nhảu trả lời: “Dạ cháu yêu cả hai người như nhau ạ”. Bà cười hiền, xoa đầu tôi và nói: “Chà chà, cháu của bà đáng yêu quá nhỉ!”. Những ngày tháng tuổi thơ trôi qua lặng lẽ nhưng tôi luôn cảm nhận được tình yêu thương ngọt bùi bà dành cho mình.

           Cho đến một ngày, hôm ấy bầu trời âm u, xám xịt, báo hiệu sắp có một cơn mưa lớn đổ xuống. Trời trở mùa, chân đau nhức nhưng bà không nói với ai. Tôi lại cứ nhõng nhẽo đòi bà đi chợ với mình cho bằng được, bà chiều tôi nên đã đồng ý. Lúc đó tôi nhảy cẫng lên vui sướng vì nghĩ rằng mình sẽ được mua thật nhiều đồ đẹp mà đâu biết rằng bà cố tỏ ra vui vẻ, làm mặt cười với tôi còn thật ra bà đang rất mệt, rất đau. Đi chợ thấy bao nhiêu là đồ đẹp tôi đều đòi bà mua cho bằng được. Lúc về chiếc làn màu đỏ nặng trĩu toàn những đồ là đồ nên bà không để tôi xách mà giành phần mình xách cho cháu. Quãng đường từ chợ về nhà không dài lắm mà sao lúc về đến nhà bà ngồi khuỵu xuống, khuôn mặt nhăn nhó như đang có một cơn đau dữ dội hành hạ. Tôi hốt hoảng chạy đi rót nước cho bà nhưng tình trạng của bà vẫn không khá hơn. Hôm ấy, huyết áp của bà tăng vọt, bà nằm một chỗ rồi ngất lịm đi. Tôi khóc, chạy đi gọi điện cho bố, mẹ, cô, dì, chú, bác đến nhà. Một lát sau, tất cả con cái đều có mặt và ngồi quanh bà. Dì Tùng khóc lóc bên cạnh bà, cố lay bà dậy nhưng sao mãi mà bà vẫn không tỉnh lại. Khi ấy, chỉ cần một cái cựa người của bà cũng làm tất cả thoát khỏi tình trạng hồi hộp, lo sợ, sợ rằng sự việc không may đó xảy đến.

          Tôi ngồi một mình, khóc nhưng không để ai thấy, những giọt nước mắt hối hận lăn dài trên má mãi không ngừng được. Tôi sợ bà sẽ không qua khỏi, sợ rằng tôi sẽ vĩnh viễn mất bà, mất đi một phần cuộc sống của mình.  Tôi sẽ không sống nổi nếu thiếu bà, thiếu đi tình yêu thương, sự quan tâm lo lắng hằng ngày bà dành cho tôi. Mọi người gọi xe cấp cứu đến đưa bà đi, để lại tôi và bọn trẻ ở nhà. Trong lòng tôi hoang mang, lo lắng, đứng ngồi không yên. Tôi chẳng làm được việc gì, đôi mắt sưng húp vì khóc. Nghĩ về những việc đã xảy ra, tôi biết là sẽ chẳng ai biết về việc tôi đòi bà đi chợ sáng nay. Tôi thật là một đứa hư đốn, chỉ vì những mong muốn nhỏ bé của mình mà đánh mất một điều quý giá. Trong những giây phút đau khổ tuyệt vọng, tôi mới nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời mình là bà, là tất cả những điều tốt đẹp bà dành cho tôi.

          Bà đi viện, tôi chẳng được đến thăm bà dù chỉ một lần mà chỉ nghe qua lời kể của mẹ với bác Ngọc. Rằng bà không ăn được, cũng chẳng nói được, bác sĩ phải truyền sữa bằng một cái ống nhỏ thông qua mũi. Mỗi ngày, thân hình gầy gò của bà phải chịu hàng chục mũi tiêm đau đớn. Tôi thương bà nhiều lắm, trong thâm tâm mình tôi lại càng hối hận vô cùng vì những gì đã gây ra cho bà. Đêm nào tôi cũng không ngủ được, nước mắt ướt đẫm gối vì lo lắng, tôi biết bà đang rất đau, rất khó chịu, giá mà ông trời hãy trừng phạt tôi, hãy để tôi gánh chịu nỗi đau đó thay cho bà.

          Mấy ngày sau, vào một buổi chiều trời mưa, tin dữ ập uống, mẹ báo điện thoại cho tôi biết: “Bà bị tai biến mạch máu não”. Cầm điện thoại trên tay, tôi run run không nói nên lời. Lúc ấy trong suy nghĩ của mình, tôi thấy mình là một đứa cháu bất hiếu. Đến thăm bà, thấy bà nằm một chỗ, đôi mắt vô cảm nhìn về phía xa nào đó. Lòng đau như cắt, tôi quỳ xuống cạnh bà, bật khóc nức nở, gào lên trong đau đớn tội lỗi. Khi ấy, tôi có thể đánh đổi tất cả mọi thứ để được sống những ngày tháng quý giá với bà như lúc xưa. Nhưng đã quá muộn rồi, thời gian đâu thể quay trở lại. Đó có lẽ là những ngày tháng đau buồn, tuyệt vọng nhất đời tôi mà đến giờ vẫn còn ám ảnh mãi trong tâm trí. Giờ đây, đã 6 năm trôi qua kể từ ngày hôm ấy, ngày nào tôi cũng đến thăm bà, chăm sóc bà, cho bà ăn, mở nhạc cải lương cho bà nghe và cố gắng học thật giỏi để có thể đem về cho bà những niềm vui nho nhỏ. Một ngày nào đó bà sẽ tha thứ cho những lỗi lầm dại dột của cháu bà nhé!

           Đối với tôi, những giọt nước mắt ngày ấy đã trở thành một miền kí ức khó quên. Đôi khi trong những giây phút đau khổ tuyệt vọng, ta mới phát hiện ra được những điều tốt đẹp và quý giá trong cuộc sống. Nhưng dù sao đi chăng nữa, tôi luôn nhận ra một điều: “Đằng sau những gì đã và đang xảy ra đều ẩn chứa một ý nghĩa nào đó để chúng ta suy ngẫm và cảm nhận”.

Học sinh :Phan Thị Thu Hiền, lớp 10B2, K91, trường Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh

 

 

 


Những bóng hồng trong thơ nhạc: Chuyện người con gái hái sim -Hà Đình Nguyên

Những bóng hồng trong thơ nhạc: Chuyện người con gái hái sim

 alt

Bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan được vinh danh là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX” và lập những kỷ lục: Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc nhất (7 ca khúc) và Bài thơ được mua với giá cao nhất (100 triệu đồng, thời điểm năm 2004).

Nhà thơ Hữu Loan thời thiếu niên (đầu thập niên 30 thế kỷ trước) thuộc dạng cực kỳ thông minh. Bố ông là tá điền, nhà nghèo không có điều kiện cắp sách đến trường như các bạn đồng trang lứa, Hữu Loan chỉ được cha dạy cho “chữ có, chữ không”… Vậy mà cậu đỗ đầu kỳ thi cao đẳng tiểu học, rồi rời quê nhà (làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn) để lên tỉnh lỵ Thanh Hóa vừa đi dạy kèm, vừa theo học trường Trung học Đào Duy Từ. Năm 1941, Hữu Loan ra Hà Nội thi tú tài, thi chỉ để “chứng tỏ con nhà nghèo cũng có thể đỗ đạt”. Y như rằng, trong hơn 700 thí sinh, nhưng số người đỗ chỉ “đếm trên đầu ngón tay” ấy lại có tên… Nguyễn Hữu Loan.

 alt
Chân dung Hữu Loan - tranh sơn dầu của Lê Quân

Dạo ấy ở Thanh Hóa có cửa hàng vải và sách báo của bà Tham Kỳ (bà này tên thật là Đái Thị Ngọc Chất, vợ của ông Thanh tra Canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ, nên gọi tắt là bà Tham Kỳ). Bà là người hiền lành, tốt bụng. Thấy “cậu tú Loan” là người hay chữ có tiếng lại thường đến cửa hàng của mình đọc sách, nên đã bàn cùng chồng mời “cậu tú” làm gia sư cho các con của mình, gồm: Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên (tức trung tướng Phạm Hồng Cư sau này), Lê Đỗ An và cô con gái Lê Đỗ Thị Ninh…

Trong hồi ký, nhà thơ Hữu Loan viết: “Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước lên khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em học, dạy viết… Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo… những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…”.

Có một buổi chiều, anh giáo trẻ đưa cô học trò nhỏ lên chơi ở ngọn đồi gần nhà. “Leo đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời… “Thầy có thích ăn sim không?”. Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy, chín mọng… “Thầy ăn đi!”. Quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo.

Cuối mùa đông năm ấy, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em đưa bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn, việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm soạn kịch bản. Tôi bàn chuyện may áo cưới thì em gạt đi, bảo là “yêu nhau cốt là ở cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả!”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại… đẹp trai nên em thường gọi đùa là “anh chồng độc đáo”. Đám cưới được tổ chức tại ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nơi gia đình ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng) - rất đơn sơ nhưng hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần nghỉ phép của tôi trôi qua thật nhanh. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ em không còn là cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này… đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống!

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948. Em ra giặt quần áo ngoài sông Chuồn, vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi nên trượt chân chết đuối… Khi ấy, chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra… Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu, những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nàng có ba người anh đi bộ đội/Những em nàng/Có em chưa biết nói… Tóc nàng xanh xanh/ngắn chưa đầy búi/Em ơi giây phút cuối/không được nghe nhau nói/không được trông nhau một lần/Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím/áo nàng màu tím hoa sim…”.

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương. Viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu tím hoa sim…”.

Sau năm 1975, nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Sài Gòn. Một hôm đang đi trên phố ông bắt gặp một người đàn ông cụt chân ôm cây guitar cũ kỹ hát xin tiền. Lời bài hát nghe quen quá: “Những đồi hoa sim ơi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai. Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về. Rồi một chiều mưa bay, từ nơi chiến trường Đông Bắc đó, lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi…”. Hỏi, mới biết đó là bài Những đồi hoa sim mà lần đầu tiên Hữu Loan được nghe. Ông đề nghị người hành khất hát lại một lần nữa, rồi vét sạch tiền trong túi bỏ vào chiếc ca nhựa và nói: “Tôi là tác giả bài thơ được phổ nhạc”, rồi bước đi với đôi mắt ngấn lệ…

Hà Đình Nguyên
(giới thiệu)

Theo Thanh Niên



Về một kỷ niệm không bao giờ quên (2)

VH&HV xin trân trọng giới thiệu bài viết về một kỉ niệm không bao giờ quên của Lê Phương Anh - HS lớp 10 A8-K91, trường Huỳnh Thúc Kháng. Mong nhận được góp ý động viên của bạn đọc.

MẸ TÔI

Ngồi trong căn nhà ấm cúng và nhìn những cơn mưa rơi ngoài cửa sổ, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại một kỉ niệm buồn của tuổi ấu thơ mà có lẽ suốt cuộc đời này tôi sẽ chẳng bao giờ quên.

Đó là một hôm trời oi bức, Lan - đứa bạn thân của tôi đứng trước cổng chờ tôi đi học. Lan gọi rối rít: “Phương Anh ơi! Nhanh lên, muộn học rồi!”. Tôi cuống quýt mặc quần áo và vội vàng chạy ra cửa. mẹ tôi nhẹ nhàng nói:

-               Con à! Nhớ đem theo quần áo mưa đi, hôm nay trời oi dễ mưa lắm đấy!húc 

Tôi đang vội nên vừa nghe thấy mẹ nói, tôi gắt lên:

-               Mẹ đem cất quần áo mưa đi! Trời như thế này làm sao mà mưa được? Con mang nhiều sách vở, lại cầm thêm áo mưa thì nặng lắm.

Nói xong, tôi và Lan cùng chạy vội đến trường. May sao cho chúng tôi vừa bước vào lớp thì bác bảo vệ mới đánh trống vào học. Bốn tiết trôi qua nhanh chóng. Nhưng đến tiết thứ năm, tôi nhìn ra bầu trời: mây đen ùn ùn kéo đến mỗi lúc một nhiều, gió bắt đầu thổi, sấm chớp liên hồi, báo hiệu một cơn mưa to sắp đến. Tôi bắt đầu lo lắng vì mình không mang áo mưa nên sẽ không về được. Trống tan học vang lên nhưng cơn mưa vẫn không có dấu hiệu tạnh đi. Các bạn của tôi đã đi về hết, bạn thì có áo mưa, bạn thì có người đến đón, chỉ còn lại mình tôi đứng lủi thủi dưới mái hiên. Đứng đợi một hồi lâu, tôi bông thấy mẹ tôi tất tưởi chạy lại mặc áo mưa cho tôi. Tôi lại to tiếng trách mẹ:

-               Sao mẹ mãi bây giờ mới đến? Mẹ biết con không mang áo mưa thì phải đến đón sớm chứ? Làm con đợi mãi!

Mẹ mỉm cười dịu dàng với tôi. Mẹ chỉ mang một bộ áo mưa nên mẹ đã nhường tôi mặc còn mẹ chỉ đọi mỗi chiếc nón cũ. Về đến nhà, dù người vẫn còn ướt sũng nhưng mẹ tôi đã bắt tôi thay nhanh quần áo, lên giường nằm để khỏi cảm. Tôi ương bướng không chịu ăn. Mẹ nhẫn nại đút cho tôi từng thìa cháo nhưng tôi chẳng muốn ăn nên lại gắt gỏng:

-               Con không muốn ăn. Mẹ muốn thì cứ ăn đi!

Vừa nói tôi vừa đẩy bát cháo ra. “Choang!”. Tiếng bát vỡ làm tôi giật mình nhưng vẫn ương bướng, tôi trùm chăn kín mít người lại, không dám nhìn mẹ nữa. Ngồi trong chăn, tôi nghe thấy tiếng loảng xoảng mẹ nhặt những mảnh vỡ của bát cháo. Len lén nhìn mẹ, tôi thấy những giọt nước mắt lăn trên gò má xanh xao, tái nhợt. Lúc ấy, tôi bỗng cảm thấy thật thương mẹ và ân hận biết bao. Thế nhưng, tôi đã không xin lỗi mẹ. Cảm giác mệt mỏi làm tôi chìm vào giấc ngủ sâu.

Sáng hôm sau thức dậy, không còn mệt, tôi cảm thấy thật đói bụng. Tôi kêu to:

-               Mẹ ơi! Mẹ! Con đói quá! Mẹ nấu gì cho con ăn nhé!

Không có ai trả lời. Lạ thật! Tôi liền đi tìm mẹ khắp nhà. Căn nhà trống trải, không có ai. Bỗng tôi nhìn thấy một mảnh giấy đặt ở bàn. Là nét chữ của bố: “Con à! Đêm qua mẹ con lên cơn sốt cao, phải đưa vào bệnh viện. Con ở nhà một mình tự nấu cơm và đi học nhé! Bố phải ở lại bệnh viện chăm sóc mẹ con!”.

Tôi sững sờ tột cùng. Mắt tôi ỗng dưng nhòe đi. Tất cả là vì tôi. Vì tôi mà mẹ phải đi giữa trời mưa mà không có áo mưa. Vì tôi mà mẹ không lo cho mình, chỉ lo lắng cho mỗi mình tôi. Tại sao tôi lại ích kỉ như vậy? Tại sao tôi chỉ nghĩ đến việc tôi bị ướt mà không nghĩ mẹ cũng đã ướt sũng cả người? Tại sao tôi lại hắt đi bát cháo mẹ nấu? Tại sao tôi lại làm mẹ khóc? Những câu hỏi liên tục được đặt ra trong đầu tôi. Càng tự trách mình, tôi lại càng thương mẹ. Tôi liền chạy ngay đến bệnh viện để thăm mẹ. Nhìn mẹ xanh xao nằm trên giường bệnh, tôi ào lên khóc nức nở. Mẹ tôi vẫn hiền dịu nhìn tôi, nhẹ nhàng nói:

-               Đừng khóc nữa con! Mẹ không sao mà! Chỉ sốt nhẹ thôi! Tôi vẫn khgóc không ngừng.

-               Con xin lỗi mẹ! Tại con… tại con mà…mẹ…

-               Con biết lỗi là tốt rồi. Mẹ không giận con đâu. Nín đi con!

Mẹ tôi thật hiền từ, thật rộng lượng. sau đó, ngày nào tôi cũng đến chăm sóc mẹ thật chu đáo và kể những câu chuyện vui cho mẹ đỡ buồn. Chỉ ít ngày sau đó, mẹ tôi đã khỏe hẳn và xuất viện.

Dù chuyện đó xảy ra cách đây đã lâu nhưng nó vẫn luôn khắc sâu trong trí nhớ của tôi. Nó là bài học đáng nhớ và quý giá nhất mà tôi đã học được. Tình yêu thương bao la, là động lực để tôi vững lòng trên con đường đời đầy gian nan phía trước.

 (  Bài viết do học sinh Lê Phương Anh_10A8 - gửi qua E.mail)

 


Về một kỷ niệm không bao giờ quên (1)

VH&HVĐể góp phần phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu học văn, khích lệ niềm yêu thích với bộ môn văn học, kể từ năm học này, VH&HV xin trân trọng lần lượt giới thiệu với bạn đọc, với các bậc phụ huynh và các em những bài văn hay của học sinh trường THPT Huỳnh Thúc Kháng.  

  CHUYỆN CỦA THẢO VÀ TÔI

 (Thái Thị Lê Na, học sinh lớp 10 A8 , K91 trường Huỳnh Thúc Kháng)

 Trong cuộc đời, từ khi còn thơ bé đến lúc trưởng thành, chắc hẳn ai cũng mang trong mình biết bao kỉ niệm. Những kỉ niệm về gia đình, thầy cô, bè bạn,… sẽ luôn theo mãi bên ta đến mọi phương trời. Và với tôi cũng vậy, một kỉ niệm mà tôi sẽ không bao giờ quên, đó là kỉ niệm về một người bạn - người luôn hiểu và ở bên tôi mỗi khi tôi cần.

Lần đầu tiên gặp bạn, tôi đang học lớp 5. Sáng hôm đó, tôi đến trường, cũng như mọi ngày, cô giáo bước vào lớp với nụ cười hiền hậu. Trước khi bắt đầu bài học, cô giới thiệu với lớp có bạn gái mới chuyển đến. Chúng tôi hân hoan, vỗ tay rất to để chào đón bạn mới. Nhưng khi bạn bước vào tiếng vỗ tay dường như tắt hẳn. 10 tuổi, chúng tôi không để ý nhiều đến vẻ bề ngoài nhưng quả thực lúc đó bạn để lại ấn tượng không tốt lắm với chúng tôi. Bạn khá mập, khuôn mặt bị che khuất một phần bởi mái tóc xoăn và có phần rối. Lớp chúng tôi ai nấy đều im lặng, tất cả đều nhìn về phía bạn. Cô giáo như nhận ra điều đó, cô giới thiệu và dẫn bạn về chỗ ngồi của mình, bên cạnh tôi. Suốt buổi học hôm ấy, bạn không hề nói một lời nào trừ những lần cô gọi bạn phát biểu, lúc đó tôi nghĩ bạn thật ít nói và rất rụt rè. Các buổi học sau đó cứ diễn ra như vậy, tôi với bạn vẫn không nói chuyện với nhau nhiều, tôi mới chỉ biết được bạn tên Thảo, gia đình bạn mới chuyển từ một thị xã lên qua lời giới thiệu của cô giáo. Nhưng cho đến một ngày, mọi suy nghĩ của tôi về Thảo dường như thay đổi hẳn. Hôm đó buổi sáng trời rất đẹp nhưng đến lúc ra về trời bỗng mưa rất to. Tôi đang loay hoay không biết làm thế nào để về thì Thảo đã chạy lại đưa ô cho tôi và nói:

-         Bạn cầm lấy ô mà về, mình chờ một lúc nữa là mẹ đến đón rồi!

 Tôi hơi hạc nhiên nhưng rồi cầm lấy ô và cảm ơn Thảo. Hôm đó trời mưa rất to. Sáng hôm sau đến lớp tôi định trả ô cho Thảo mới biết bạn bị ốm. Có lẽ vì cho tôi mượn ô mà bạn bị cảm, tôi chỉ muốn học xong thật nhanh để đến thăm Thảo. Nhà Thảo đang xây nên phải thuê nhà trọ cách trường một quãng cũng không xa lắm. Tan học tôi cùng Hương đến nhà Thảo. Trong căn phòng nhỏ Thảo đang nằm trên giường, trán đắp khăn ướt. Thấy chúng tôi, Thảo mỉm cười và cố gắng ngồi dậy. Lúc ấy trông thảo thật đáng yêu. Kể từ sau hôm ấy tôi và Thảo thân nhau hơn và cũng nói chuyện với nhau nhiều hơn. Cứ cuối mỗi buổi chiều, sau giờ học chúng tôi cùng nhau chơi đá cầu, nhảy dây rồi cùng nhau về  nhà. Mẹ tôi bảo trông chúng tôi như hai chị em vậy. Vào ngày sinh nhật của tôi Thảo đã tặng tôi một con gấu bông và một  tấm thiệp rất đẹp, tự tay bạn ấy làm. Chúng tôi cùng nhau thổi nến và cầu ước tình bạn của chúng tôi sẽ mãi bền chặt.

Chẳng mấy chốc, chúng tôi đả lên lớp 8, đã lớn thêm nhiều và tình bạn của chúng tôi cũng vậy. Tôi và Thảo vẫn luôn giúp đỡ nhau trong học tập và cùng vui chơi. Nhưng có một lần làm tôi nhớ mãi. Hôm đó tôi đang cầm bài tập vẽ của mình nạp cho cô, bức tranh mà tôi đã thức rất khuya để hoàn thành, nhưng Thảo chạy qua và làm rơi nó xuống vũng nước rồi chạy đi mà không hề xin lỗi. Tôi đã rất giận Thảo, vì bức tranh bị ướt nên tôi bị cô giáo trách mắng không nạp đúng giờ và bị điểm kém. Sau hôm đó tôi không nói chuyện, không đi về cùng Thảo nữa. Buổi trưa hôm ấy trời lại mưa rất to, tôi thấy Thảo đứng tránh mưa dưới cổng trường. Tôi vẫn mang ô theo nhưng vì đang giận bạn về chuyện bức tranh lần trước nên tôi đã bỏ về trước. Tối hôm đó mẹ Thảo gọi điện và nhờ tôi xin cho Thảo nghỉ học, Thảo bị cảm. Thì ra trông bạn ấy mập vậy thôi chứ rất hay đau ốm. Một cảm giác bỗng hiện lên trong tôi, tôi hối hận, hối hận vì mình đã ích kỉ, đã không cùng Thảo đi về cùng, đã không đưa ô cho bạn, lần trước cũng vì đưa ô cho tôi Thảo mới bị ốm, vậy mà… Hôm sau vừa mới tan học, tôi đi nhanh đến nhà Thảo, khi gặp tôi Thảo vẫn cố ngồi dậy, mỉm cười và luôn miệng bảo “Mình không sao!”. Tôi lí nhí xin lỗi vì đã không đưa Thảo về cùng nhưng Thảo bảo: “Không đâu! Chính mình mới phải xin lỗi vì đã làm rơi bức tranh của bạn. lúc đó mình đã không biết, thật đó, vì mình phải đưa cho cô giáo chủ nhiệm tập kiểm tra của lớp. Mãi cho đến hôm qua mình mới nghe Lan kể lại, định xin lỗi bạn nhưng bạn không nói chuyện, không đi về cùng mình..”. Thì ra chính tôi đã không để Thảo nói lời xin lỗi, tôi thấy xấu hổ vô cùng... Thảo nói sang chuyện khác, rồi cả hai chúng tôi lại cùng cười vui vẻ. Ngoài trời vẫn mưa.

Chúng tôi sẽ vẫn đi học cùng nhau nếu không có ngày hôm ấy. Thảo bỗng hỏi tôi:

-         Na này, lần đầu gặp chắc bạn cũng không thích mình đâu nhỉ?

-         Sao Thảo lại hỏi thế?  

-         Vì trước đây, khi mình mới đi học cũng vậy, mình không có nhiều bạn muốn chơi với mình - Thảo có vẻ buồn buồn.

-         Không đâu. Mình và các bạn luôn yêu quý Thảo mà!

Thảo cười và tặng tôi một con hạc giấy được xếp từ những chiếc thuyền nhỏ rất đẹp. Tôi không quá ngạc nhiên vì Thảo vẫn hay tặng tôi những món quà như thế. Nhưng tối hôm đó nghe mẹ tôi bảo, vì công việc của bố, cả gia đình Thảo sẽ phải chuyển đi mơi khác. Thì ra đó là lí do mấy hôm nay Thảo hỏi tôi những câu hỏi lạ như vậy. Thảo còn tặng tôi con hạc rất đẹp nữa. Thảo sắp phải chuyển đi... Từ lâu tôi đã quen nhận quà của Thảo mà đã quên tặng Thảo một món quà. Tối hôm trước khi Thảo cùng gia đình chuyển nhà đi nơi khác, tôi đã cố gắng gấp những bông hoa. Tôi tô lên những cánh hoa nhiều màu sặc sỡ. Trông chúng không được đẹp lắm, nhưng tôi chỉ mong trời nhanh sáng để đưa cho Thảo lọ hoa này. Lúc ở ga tàu, hai đứa vẫn cười nhưng tôi biết Thảo cũng như tôi, không ai muốn rời nhau. “Khi nào nhớ tới mình, Thảo hãy gọi cho mình nhé...”

       Hôm chia tay với Thảo, trời mưa rất to...

Từ khi Thảo chuyển đi, chúng tôi vẫn luôn gọi điện cho nhau, kể cho nhau nghe về những chuyện học tập, chuyện bạn bè. Những món quà mà Thảo tặng,  tôi vẫn luôn giữ mãi. Con gấu bông tôi vẫn ôm ngủ hằng ngày. Cả tấm thiệp, bức tranh mà Thảo đã vẽ lại cho tôi, và cả con hạc giấy nữa... dù không được đi học cùng nhau hằng ngày nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn luôn sâu đậm, vẫn không bị phai mờ bởi khoảng cách và thời gian.

Hôm nay trời lại mưa, như cơn mưa trong ngày đầu tiên tôi gặp Thảo vậy!

 ( Bài viết do học sinh Thái Thị Lê Na _ 10A8 -K91, Huỳnh Thúc Kháng  gửi qua Email)




Về thăm thầy - Nguyễn Đình Cơ

    VH&HV xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc  bài thơ "Về thăm thầy" của tác giả Nguyễn Đình Cơ - học trò cũ của thầy giáo Phan Huy Ngạn 

Về thăm thầy 

(Nhớ Thầy Phan Huy Ngạn)


Con trở về thăm thầy vào một ngày đông buốt giá

Cơn mưa chiều nhè nhẹ rơi

Ngôi nhà vắng không có thầy đứng đợi

Chỉ còn lại trong con một miền cổ tích xa xưa…

 

Tháng 11 năm nay trời lại đổ mưa

Những cơn mưa mang nỗi niềm chất chứa

Cơn mưa chênh chao lạc vào nỗi nhớ

Nỗi nhớ thầy, nhớ lời dạy năm nao.

 

Đã bao lần con thầm lặng ước ao

Được trở về ngày xưa làm cậu học trò nhỏ

Bục giảng đơn sơ thầy ân cần dạy dỗ

Khao khát lòng cháy bỏng những đam mê.

 

Ngày hôm nay con lặng lẽ trở về

Lớp học không còn,

không gian vắng lặng,

lòng con trĩu nặng

Không bàn ghế, bục giảng, phấn trắng

mà cứ ngỡ giọng thầy còn văng vẳng đâu đây!

                                  Thầy ơi…

Học trò thầy: Nguyễn Đình Cơ

Trường Gv THPT Ngô Gia tự, Huyện Gò Dầu, Tây Ninh



THẦY TÔI - Người tìm phù sa bên dòng sông lịch sử -Hoa Mơ

  Người tìm phù sa bên dòng sông lịch sử

   Đã hơn 3 năm, kể từ ngày thầy đi xa, nhưng căn nhà nhỏ ở phường Vinh Tân, TP Vinh, vẫn là địa chỉ để chúng tôi, những cô cậu học trò của thầy tìm về. Ai cũng có cảm giác thanh thản lạ thường khi về lại nơi đây, để được tịnh tâm, an nhiên tự tại; bỏ lại sau lưng bao nỗi lo toan, vất vả đời thường…

  Không biết đã bao nhiêu thế hệ học trò trưởng thành qua sự dìu dắt, dạy dỗ của thầy. Chỉ biết rằng, thỉnh thoảng đâu đó trong dòng đời xuôi ngược, ở ngoài miền Bắc, hay tận  phương Nam, chúng tôi được gặp những người từng là học trò yêu của thầy Phan Huy Ngạn. Trong tâm thức của họ, bao giờ hình ảnh của thầy cũng gợi nhắc những hoài niệm đẹp của thời hoa niên. Hành trang tri thức mà họ tiếp nhận từ thầy đã được tiếp tục vun bồi theo năm tháng, trở thành tấm vé thông hành để đi về phía tương lai. Những người học trò của thầy vẫn thường tìm về căn nhà xưa ấy để ngồi lại bên nhau, lắng lòng lại trong từng phút giây để ngược dòng kỉ niệm.

 Làng Đức Dũng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, miền đất “địa linh, nhân kiệt” quê thầy không chỉ là cái nôi cách mạng, nổi tiếng với tinh thần bất khuất chống xâm lược mà còn là vùng đất của khoa bảng; nơi sản sinh các bậc túc nho, các nhà văn hóa, nhà khoa học.

Thầy thường kể cho chúng tôi nghe về thời thơ ấu, khi thầy còn là một cậu bé chăn trâu. Nhà nghèo, đông anh em, thầy vẫn luôn khao khát được học, ước vọng vươn tới những chân trời của trí tuệ. Xuất thân trong một gia cảnh thanh bần, nhưng với lòng kiên trì vượt khó, đam mê học tập, thầy của chúng tôi, từ một cậu bé nhà nghèo đã trở thành một nhà giáo, nhà nghiên cứu lịch sử có uy tín. 
          Vào quân ngũ và trở thành giáo viên dạy văn hóa trong quân đội khi vừa tròn 20 tuổi. Kể từ đó, nghề dạy học đến với thầy như một “cơ duyên” gắn bó suốt cả cuộc đời. Bao thế hệ học trò đã được thầy thắp lên ngọn lửa khát vọng, tự hào về truyền thống lịch sử hào hùng và sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam
          Tháng 9-1960, sau khi tốt nghiệp Khoa sử, ĐHSP Hà Nội với thành tích xuất sắc, thầy được giữ lại làm giảng viên Khoa Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam. Từ đó, thầy bắt đầu chặng đường dài gắn bó tâm huyết với sự nghiệp trồng người và  nghiên cứu lịch sử dân tộc.

Phân kì lịch sử cận hiện đại Việt Nam là đề tài nghiên cứu được thầy bắt tay ngay sau khi trở thành giảng viên khoa Sử, ĐHSP Hà Nội. Đến sau này, quan điểm của thầy đã nhận được nhiều ý kiến đồng tình của các nhà nghiên cứu, trở thành phân kỳ đưa vào giảng dạy ở bậc học phổ thông.

Năm 1967, sau 3 năm học tập, nghiên cứu tại Khoa Lịch sử, trường Đại học nhân dân Bắc Kinh, Trung Quốc, trở về nước, thầy được phân công làm tổ trưởng Tổ lý luận và Lịch sử của Viện khoa học giáo dục Việt Nam. Công tác ở viện khoa học giáo dục, thầy vẫn là người nghiên cứu lịch sử. Bài viết về Truyền thống giáo dục Việt Nam của thầy ngày ấy đã thu hút sự quan tâm của người đọc, nhất là những người trong ngành giáo dục.

Nhận thức thức một cách sâu sắc rằng, lịch sử Việt Nam vẫn còn ẩn chứa nhiều tầng vỉa của trầm tích cần khám phá, minh định và kiến giải một cách trung thực trên tinh thần khoa học, trong đó những vấn đề về nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Từ nhận thức ấy, thầy đi vào nghiên cứu Tìm hiểu quá trình hình thành của giai cấp nông dân tập thể miền Bắc nước ta… Quả thật, không khó để nhận ra niềm say mê, sự hứng thú với lịch sử dân tộc của thầy qua những bài viết ấy.

 Tại trường ĐH Vinh, những hình ảnh về thầy giáo Phan Huy Ngạn được lưu giữ một cách trân trọng... Trong quá trình hình thành, phát triển của trường hôm nay, có đóng góp của nhiều thế hệ giảng viên, CBCNV, mà thầy Phan Huy Ngạn là một người trong số đó.

Năm 1970, khi đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Nghệ Tĩnh là một trong những tuyến lửa của cuộc chiến tranh. Thầy chuyển về công tác ở khoa Lịch sử trường đại học SP Vinh. Vừa làm công tác giảng dạy, thầy vừa là Bí thư Đảng uỷ, phó chủ nhiệm khoa trong một thời gian dài. Trong hồi ký của thầy, những kỷ niệm “không thể nào quên” là những giờ lên lớp ở trong Nam, ngoài Bắc, là những chuyến đưa sinh viên đi “nghiên cứu khoa học trên các hiện trường lịch sử”.., là những lần đi thực tế ở Quỳnh Lưu để nghiên cứu về ba cuộc cách mạng ở nông thôn... là chuyến vào Nam (sau giải phóng 1975) để giảng dạy cho sinh viên các trường ĐHSP, Cao đẳng ở Huế và bồi dưỡng chuyên môn, quan điểm sử học cách mạng cho giáo viên THPT của các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng...
          Những học trò của thầy ngày ấy, bây giờ nhiều người đã là tiến sĩ, PGS, là những nhà quản lý giáo dục… Không ít người trong số họ nhiều năm là cộng sự của thầy trong nghiên cứu giảng dạy lịch sử dân tộc.

Nhận thức một cách sâu sắc vai trò, vị trí của Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc, thầy đã giành tâm huyết để nghiên cứu về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Thầy đã viết hàng loạt bài về tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền; Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghề thầy giáo và người thầy giáo; Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ… Có những bài đã được thầy công bố từ những năm 70 của thế kỷ trước, và có những bài đang dừng lại ở những trang bản thảo chưa kịp hoàn thành, khi thầy ra đi. Những trang giấy ố vàng, những dòng chữ đều đặn, rõ đến từng nét chữ của một người thầy mô phạm và cả những dòng tẩy, xoá trên những trang di bút đã phần nào giúp chúng tôi hiểu hơn về niềm đam mê, sự nghiêm túc của thầy. Với chúng tôi, đó là bài học quý báu – một bài học không có trên lớp học.

Hơn 30 năm sau khi thầy viết về Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một đối tượng nghiên cứu có tính độc lập của ngành khoa học xã hội, và học tập tư tưởng HCM đã trở thành cuộc vận động lớn trong toàn Đảng toàn dân.   

 Năm 1980, sức khoẻ giảm sút, không thể tiếp tục công việc ở trường Đại học, thầy về hưu, sống tại căn nhà nhỏ này. Những tưởng sẽ được nghỉ ngơi, nhưng niềm đam mê với nghề giáo, với môn Lịch sử vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí thầy. Được sự cổ vũ, động viên về mặt tinh thần của người vợ hiền, thầy lại đọc, viết và dạy lịch sử cho những cô cậu học trò phổ thông như chúng tôi.

Tại ngôi nhà bình dị của mình, thầy đã mở lớp bồi dưỡng môn Sử, cho những học sinh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình… thi vào đại học. Lớp học tại nhà riêng của thầy đã trở thành một địa chỉ nổi tiếng, là nơi tìm đến của những cô cậu học trò say mê văn chương, lịch sử. Bạn bè chúng tôi đã có người đạp xe hàng chục cây số, bất chấp nắng mưa, gió rét từ Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghi Xuân, Can Lộc… đến nhà thầy để được nghe thầy giảng về lịch sử. Từ nơi đây, hàng ngàn cô cậu học trò như chúng tôi đã vào đại học. Thành tựu ấy, có một phần không nhỏ công lao dạy dỗ của thầy. Chúng tôi không chỉ học ở thầy kiến thức, mà còn được tiếp thêm nghị lực và sự hứng thú, tự tin qua mỗi giờ lịch sử. Cho đến những ngày cuối đời, khi sức khoẻ đã suy giảm, thầy vẫn miệt mài với từng bài giảng, kỹ lưỡng với mỗi mỗi lời phê trên bài kiểm tra lịch sử của học trò.

Ai từng được nghe thầy giảng bài đều có một ấn tượng mạnh về vốn tri thức sâu rộng, giọng giảng bài truyền cảm, sự nhiệt huyết đến đam mê, và một phong cách sư phạm mẫu mực của thầy. Lịch sử là bộ môn tưởng chừng khô khan, chỉ toàn là những con số, sự kiện, bài học kinh nghiệm… Thế nhưng, với cách giảng cuốn hút của thầy, bằng những ví dụ sinh động, cụ thể, sự liên hệ gần gũi, những câu chuyện dí dỏm, chúng tôi  đã yêu môn Lịch Sử tự lúc nào chẳng rõ. Có không ít người trong chúng tôi đã tiếp bước con đường của thầy, trở thành những nhà giáo, nhà nghiên cứu Lịch sử.

 Ra đi từ một vùng quê nghèo lam lũ, thầy luôn nặng lòng với quê hương và day dứt khi chưa giúp được gì cho quê hương, dòng tộc. Những tháng năm học tập, công tác, thầy chưa có điều kiện để dành thời gian cho quê hương. Trong những nắm tháng cuối đời, thầy đã dành nhiều thời gian, tâm huyết thu thập tài liệu, hình thành đề cương và chủ biên cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Đức Dũng, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh từ năm 1930 - 2005. Cùng thời gian đó, là hậu duệ của dòng họ Phan Công, thầy đã nghiên cứu gia phả dòng họ, tìm hiểu về công lao của dòng họ Phan Công đối với đất nước trong hơn 300 năm để lập luận chứng khoa học, đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh công nhận nhà thờ họ Phan Công là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Và 11 năm sau, tháng 8 năm 2011, chính quyền, nhân dân xã Đức Dũng và con cháu dòng tộc Phan Công đã long trọng đón bằng Di tích văn hoá cấp tỉnh. Ngày vui ấy, vắng  thầy, nhưng không một ai quên công lao của thầy đối với dòng tộc, quê hương. Với thầy tôi, đó là niềm vui, là sự thể hiện một chút đền trả nghĩa tình với quê hương.

Hơn 30 năm làm nghề thầy giáo, hơn ai hết, Thầy thấu hiểu được giá trị của cái sự học đối với người nghèo. Mỗi lần về quê là mỗi lần Thầy nhớ lại thuở vừa đi học vừa chăn trâu, lòng rưng rưng thương con cháu ở quê không có tiền ăn học. Thầy vẫn  nói với chúng tôi: “Muốn vượt phận, muốn thoát khỏi cơ hàn thì phải có trí tuệ. Muốn có trí tuệ thì phải không ngừng phấn đấu học hành”. Biết vậy, muốn giúp đỡ con cháu mình mà lực bất tòng tâm, bởi lương hưu nhà giáo đâu có nhiều để thực hiện những điều mình mong ước. Nghĩ vậy, Thầy bàn bạc với Hội đồng tộc biểu dòng họ Phan lập ra quỹ khuyến học cho dòng họ để động viên con cháu học tập. Và thầy là người đầu tiên, tự nguyện đóng góp vào quỹ khuyến học số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng). Ngày nay, quỹ khuyến học được bổ sung bởi những tấm lòng thơm thảo của con cháu gần xa. Số tiền ủng hộ được gửi vào sổ tiết kiệm, chi vào việc trao phần thưởng cho các cháu đạt thành tích cao trong học tập vào dịp rằm tháng bảy ở nhà thờ dòng họ, trước sự chứng dám của tổ tiên. Ghi nhận công lao, đóng góp của thầy, Hội đồng họ tộc đã đề nghị giải thưởng mang tên thầy: Giải thưởng Phan Huy Ngạn.

 Vẫn như khi thầy còn sống, chúng tôi kể với nhau và kể cho thầy giáo của mình biết về một năm qua… chúng tôi đã cố gắng học tập và làm việc như thế nào? Chúng tôi đã không phụ công thầy, phụ tấm lòng và sự gửi gắm của thầy.

Cảm ơn thầy! Bằng nén hương thơm, chúng em xin được nói với thầy câu nói đơn giản nhất ấy, vậy mà gần 20 năm cũng không nói được một lần. Thầy ơi, Thầy hãy yên lòng, chúng em dù mỗi đứa một phương, mỗi đứa một nghề, nhưng niềm tin, khát vọng của tuổi trẻ mà thầy đã gieo từ ngày ấy sẽ vẫn là hành trang quý giá, giúp chúng em vững bước trên con đường tương lai của mình. Những ký ức về thầy sẽ là hành trang quý mà chúng em luôn trân trọng mang theo.

Tác giả bài viết: Hoa Mơ

Nguồn tin: Truyền hình Nghệ An



LỚP 10B3 - Niềm vui ngày 20-11

Lớp 10B3 trong ngày 20-11

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011

 

 

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011

12B3 2011


Lớp 10B2 -Niềm vui ngày 20-11

20-11-2011

Tập thể lớp 10B2 ngày 20-11-2011

20-11-2011

Chúng em chào cô ạ...

20-11-201120-11-201120-11-2011

20-11-2011

20-11-2011

Cô trò chụp ảnh


Hội thảo quốc tế về “Cuộc đời và Di sản vĩ đại của Tagore”

Hội thảo quốc tế về “Cuộc đời và Di sản vĩ đại của Tagore”

( Hà Anh)

  Nhân dịp kỷ niệm 150 năm sinh nhà thơ Ấn Độ Tagore, trong hai ngày 9-10/11 tại Hà Nội diễn ra Hội thảo quốc tế về Cuộc đời và Di sản vĩ đại của Tagore.

 Buổi Hội thảo có sự tham gia của Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam ông Ranjit Rae, ông Sukanta Chaudhuri điều phối viên Hội thảo, ông Phạm Quang Vinh - thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các nhà khoa học đến từ các quốc gia Indonesia, Bangladesh, Sri Lanka, Thái Lan, Hàn Quốc cùng nhiều nhà văn Việt Nam.

Rabindranath Tagore (1861-1941) là một trong những thiên tài vĩ đại của Ấn Độ và là nhà thơ châu Á đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học vào năm 1913. Mặc dù Tagore chủ yếu được biết đến trong vai trò nhà thơ, nhưng ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, viết báo, tiểu luận, hội hoạ… ông cũng khẳng định tên tuổi của mình. Ngoài ra Tagore còn là một nhà cải cách xã hội, một nhà yêu nước, một triết gia. Ông là nhà thơ duy nhất sáng tác quốc ca của hai nước Ấn Độ và Bangladesh.

Tagore đã từng đến Sài Gòn, Việt Nam vào năm 1929. Sự đồng cảm của hai dân tộc đang cùng nỗ lực tìm con đường tự giải phóng khỏi sự thống trị của thực dân đã đem lại không khí nồng nhiệt hiếm có cho cuộc chào đón Tagore thời điểm ấy, ông đã trở thành “người dẫn đạo tinh thần dân tộc” của xứ sở Ấn Độ.

Hội thảo về cuộc đời và di sản của Tagore không chỉ đánh giá, nhìn nhận về đóng góp nghệ thuật của ông mà còn làm rõ tác động của di sản Tagore đến khu vực Đông Nam Á và Đông Á, các vấn đề chính trị - xã hội, tư tưởng về cuộc sống truyền thống và hiện thực hôm nay.

Lần lượt các tham luận của các học giả, nhà khoa học và nhà văn được trình bày: 

Các tham luận được trình bày tại Hội thảo:

- Tư tưởng Tagore về một Châu Á hồi sinh (GS. Swanpan Majumdar).

- Rabindranath Tagore với đối thoại Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX (PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh).

- Đạo Phật Ấn Độ và hình ảnh Rabindranath Tagore trong lòng bạn đọc Việt Nam (Hoàng Thúy Toàn).

- Châu Á trong tư tưởng của Tagore (GS. Radha Chakravarty).

- Những ảnh hưởng của Rabindranath Tagore đến nhà thơ Đông Hồ (Đào Thị Diễm Trang).

- Tagore, Governor Mantra và lễ hội nghệ thuật Bali (Sugi Lanus).

- Rabindranath Tagore – một họa sĩ tài ba (GS. Ha Jin Hee).

- Rabindranath Tagore tình yêu và lòng nhân ái cao cả hiến dâng nhân loại (Lê Thanh Nghị).

- Đạo Phật và một số tác phẩm của Rabindranath Tagore(PGS. Đỗ Thu Hà).

- Rabindranath Tagore và văn chương Phật giáo (GS. Pramita Mallick).

- Rabindranath Tagore dừng chân ở Sài Gòn (GS. Supriya Roy).

- Tagore ở Sri Lanka: du hành, tác phẩm dịch và ảnh hưởng (TS. Sandagomi Coperahewa).

- Radical Departures: những bức họa của Rabindranath Tagore (GS. Indrapramit Roy).

- Tư tưởng “phục hưng” và sự hoàn thiện tinh thần Ấn Độ truyền thống của Tagore trong truyện ngắn (ThS. Lê Thanh Huyền).

- Quan điểm cả Tagore về tái xây dựng nông thôn và kinh tế làng xã (Mofidul Hoque).

- Tích hợp Đông – Tây, truyền thống và hiện đại trong kịch Rabindranath Tagore, qua tác phẩm “Chandalika” (PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền).

Phát biểu tại buổi hội thảo, nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá Tagore: “Nếu bao nhiêu quyết liệt, dữ dội, bi tráng được Tagore thể hiện trong văn xuôi thì cũng bấy nhiêu ngọt ngào, ngân rung và diễm lệ được ông biểu lộ trong thơ. Và để cho vẻ đẹp trữ tình của ông trở nên mầu nhiệm, thơ ông luôn luôn thổn thức như một lời cầu nguyện. Ông nói về Chúa run rẩy và nồng nàn như nói về tình yêu và nói về tình yêu thành kính và nghiêm trang như nói về Chúa. Chính vì thế, tình yêu của ông là sự khăng khít hài hoà giữa lý tưởng và trần thế, giữa những cao vọng và những cái ở ngay trước tầm tay. Cần phải hiểu Tagore, Chúa trong thơ ông không phải là biểu tượng của các thế lực thần bí, siêu phàm, ngược lại, nó là ẩn dụ được ông khoác cho một thiên chức mang tính khát vọng bất tận về cái đẹp, về sự tận thiện, về sự hài hoà tôn kính. Chúa của ông là một với cuộc đời. Chính vì thế, R. Tagore nói "Thờ phụng người không làm thế giới nghèo đi."

Giữa Ấn Độ và Việt Nam có nhiều nét văn hoá tương đồng, và có ảnh hưởng lớn, nhất là đạo Phật. Thời gian gần đây việc nghiên cứu, in sách về văn học, văn hoá và con người Ấn Độ tại Việt Nam được mở rộng. Sắp tới, chính phủ Ấn Độ sẽ cung cấp 3 tỉ USD để khôi phục tháp Chăm ở Mĩ Sơn của Việt Nam. Bên cạnh đó là việc thành lập Trung tâm Văn hoá Việt Nam tại Ấn Độ. Những việc làm này có thể xem là kết quả của tinh thần hợp tác tốt đẹp, củng cố mối quan hệ hữu nghị, truyền thống, sự giao lưu văn hoá khoa học chặt chẽ giữa Việt Nam và Ấn Độ cũng như toàn châu Á. 

Lễ đặt tượng thi hào Rabindranath Tagore tại Bảo tàng Văn học Việt Nam

alt

Tượng thi hào Rabindranath Tagore

Sang ngay 10/11/2011 tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam cùng Đại sứ Ấn Độ trân trọng tổ chức Lễ đặt tượng thi hào Rabindranath Tagore

Tới dự có Ngài Ranjit Rae - Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam; NSND Chu Thúy Quỳnh - Phó chủ tịch Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, Chủ tịch Hội nghệ sỹ múa Việt Nam; nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Tiến sĩ Lê Thị Bích Hồng – Phó vụ trưởng Vụ Văn hóa – Văn nghệ Ban Tuyên giáo TW; nhà văn Nguyên An – phó giám đốc Bảo tàng Văn học Việt Nam; các cơ quan ngoại giao Hội Hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ; các nhà văn, nhà thơ là Ủy viên BCH, Hội đồng thơ, lãnh đạo các cơ quan thuộc Hội Nhà văn Việt Nam; các nhà khoa học, nhà lí luận văn học các quốc gia dự hội thảo về Rabindranath Tagore tại Hà Nội; các cơ quan thông tấn báo chí đến dự và đưa tin, bạn đọc yêu mến thơ Tagore…

alt

Nhà thơ Hữu Thỉnh đọc diễn văn khai mạc Lễ đặt tượng

Nhà thơ Hữu Thỉnh đề cập đến sự nghiệp thi ca vô cùng đồ sộ của thi hào Tagore, sau đó nhà thơ nhấn mạnh trong diễn văn rằng: "Rabindranath Tagore là danh nhân văn học quốc tế đầu tiên được đặt tượng tại Bảo tàng Văn học Việt Nam". Một điều quan trọng và có ý nghĩa hơn nữa trong buổi lễ khi nhà thơ Hữu Thỉnh nói đến việc Bảo tàng Văn học Việt Nam đã chính thức nhận quyết định thành lập sau 5 năm duy trì xây dựng và hoàn thiện như hiện nay.

alt

Đại sứ Ấn Độ, ngài Ranjit Rae phát biểu tại Lễ đặt tượng

 alt

Giáo sư Sucata Chudary phát biểu tại Lễ đặt tượng

 alt

Nghệ sĩ Pramitat Maly hát ca khúc Ấn Độ

 alt

Nhà thơ Hữu Thỉnh, ngài đại sứ Ấn Độ Ranjit Rae, Tiến sĩ Lê Thị Bích Hồng, NSND Chu Thúy Quỳnh

cùng làm lễ cắt băng đặt tượng

-------------

Kết thúc buổi Lễ, khách mời tham dự bữa tiệc thân mật tại nhà hàng Hoa Sấu trong khuôn viên Bảo tàng VHVN.


* Một số hình ảnh tại buổi Lễ:

alt

alt

alt

alt

alt

Các nhà khoa học (PGS.TS Phan Thu HIền. PGS.TS Nguyễn Văn Hạnh, PGS. TS Đỗ Thu Hà...) và nhiều đại biểu khác cùng chụp ảnh  ngài đại sứ Ấn Độ Ranjit Rae

alt

alt

--------

Bài viết liên quan

Rabindranath Tagore, tình yêu và lòng nhân ái cao cả hiến dâng cho nhân loại

 


MỘT BÀI THƠ ẤM LÒNG...

Sau một tuần nghỉ ốm, sáng nay tôi lên lớp giảng bài. Vừa kết thúc tiết dạy ở lớp 10 A11, một học sinh đưa bài thơ vừa viết vội trong 15 phút cuối giờ để kịp tặng cô. Tôi cảm động vô cùng. Càng đọc càng thấy ấm lòng bởi tình cảm mà cô học trò giành cho tôi thật chân thành, hốn nhiên và trong sáng... Xin giới thiệu  bài thơ "Cô ốm" của trò Bùi Thị Phương Thảo-lớp 10A11, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng để bạn đọc cùng chia sẻ.

CÔ ỐM
(Kính tặng cô PTTV)
 alt
Lớp học bỗng sôi nổi
Biết tin cô ốm rồi
Cả lớp vỗ tay cười
Hoan hô cô bị ốm

Giờ vắng cô thật tuyệt
Cả lớp phá một chầu
Ước gì cô ốm lâu
Để tự do còn mãi

Rồi thứ năm, thứ sáu
Bao giờ cô khỏe đây
Cả lớp ai cũng thấy
Sao nhớ cô lạ thường

Lớp học đầy căng thẳng
Bỗng trở nên vui tươi
Cô đến với nụ cười
Dường như cô đã khỏi

Lớp học lại sôi nổi
Biết tin cô khỏe rồi
Cả lớp ai cũng mong
Ước sao cô đừng ốm.

(Bùi Thị Phương Thảo- 10 A11- THPT Huỳnh Thúc Kháng)

 


SỰ CÁCH TÂN CẤU TRÚC CỦA THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI...TS Nguyễn Thị Phương Thùy

SỰ CÁCH TÂN CẤU TRÚC CỦA THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

(TRÊN TƯ LIỆU CHÙM THƠ 3 BÀI

CỦA NHÀ THƠ-NHÀ GIÁO NGUYỄN TRỌNG HOÀN)

                       TS Nguyễn Thị Phương Thùy

                  (In trên tạp chí Ngôn ngữ số 11/2006)

 

          Thơ Việt Nam hiện nay phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Có không ít nhà thơ vẫn lưu giữ trong mình dòng chảy nguyên vẹn của thơ truyền thống. Cũng không ít nhà thơ đã tạo ra những bước đột phá, cách tân cho thơ. Sự đột phá ấy tạo ra mầm mới cho thơ hiện đại đâm chồi nảy lộc theo nhiều nhánh khác nhau trên cái gốc thơ truyền thống bền vững. Vì thế, thơ hiện đại dù có “thoát xác” khỏi hệ thống “khuôn vàng thước ngọc” đến đâu cũng vẫn còn nồng đượm hoặc phảng phất cái sắc khí của thơ xưa.

       Trong 237 bài thơ của 159 nhà thơ trong Tuyển thơ nhà thơ- nhà giáo của Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam, chùm 3 bài thơ của Nguyễn Trọng Hoàn (“Không dưng mà nhớ”, “Ngẫu cảm”, “Nỗi nhớ”) tạo ra một ấn tượng khá độc đáo về phong cách. Điểm nổi bật là chỉ với 3 bài thơ, cấp độ sáng tạo về hình thức thơ được thể hiện theo ba mức độ khác nhau.

       Ở cả ba bài thơ đều có dấu hiệu của sự tiếp nối liền mạch về hình thức giữa các câu thơ. Bài “Không dưng mà nhớ” được viết theo thể lục bát (câu trên 6 tiếng, câu dưới 8 tiếng). Nếu ở các bài thơ lục bát mỗi khổ có 2 câu, khi xuống dòng, các nhà thơ đều viết hoa ở câu 8 thì ở bài “Không dưng mà nhớ”, Nguyễn Trọng Hoàn đã viết liền một mạch, tuy vẫn ngắt dòng giữa câu 6 tiếng và câu 8 tiếng nhưng sự liền mạch về hình thức được đánh dấu bằng việc không viết hoa chữ đầu tiên của câu 8:

      “Thung thăng bước dạo phố phường

 bỗng hun hút nhớ nẻo đường không tên

 

Quên người nhớ, nhớ người quên

tan tành vỡ nát- nhớ bền vững xưa

 

Gặp người đón, nhớ người đưa

tránh người quen- nhớ người chưa biết mình

 

Thoảng qua – nhớ cuộc chung tình

 nửa đêm nay- nhớ bình minh thuở nào

 

Nhà chật thấp- nhớ trời cao

 vườn mận sực nhớ vườn đào đương hoa

 

Bên mình- chợt nhớ người ta

 ban mai ngơ ngẩn nhớ ra buổi chiều

 

Cuộn dây lặng nhớ cánh diều

không dưng- quặn nhớ những điều không đâu…”

       Việc không viết hoa ở chữ đầu dòng 8 tiếng trong 2 câu lục bát/ khổ cũng tạo ra một sự gần gũi về hình thức giữa 2 câu/khổ thơ với 1 câu thơ được diễn xuôi vậy. Ta có thể viết liền 2 câu/ khổ thành 1 câu như sau: “Thung thăng bước dạo phố phường, bỗng hun hút nhớ nẻo đường không tên”; “Quên người nhớ, nhớ người quên, tan tành vỡ nát- nhớ bền vững xưa”; “Gặp người đón, nhớ người đưa, tránh người quen- nhớ người chưa biết mình”; “Thoảng qua nhớ cuộc chung tình, nửa đêm nay- nhớ bình minh thuở nào”… Khi viết liền như vậy, câu thơ vẫn giữ được nhịp điệu nhưng cái ý tứ, tư tưởng, tình cảm của người viết như được diễn xuôi, như một lời tâm sự, bộc bạch, như một lời độc thoại, chia sẻ tâm trạng. Mỗi cặp câu thơ/ khổ đều nằm trong một hệ liên tưởng rất chặt với những cặp từ trái nghĩa, với những cặp từ trong cùng một trường nghĩa. Từ phong thái “thung thăng” (trạng thái tương đối thoải mái, thư giãn), tác giả chuyển sang trạng thái “hun hút nhớ”. Nếu “hun hút” dành cho những nẻo đường, những con phố thì người ta chỉ thấy cảm giác rất sâu, rất xa và không có điểm dừng của không gian. Nhưng “hun hút” ở đây được dành cho tâm trạng của con người khi đi giữa phố phường. Người đọc cũng như chìm vào trong cái khoảng không dài và sâu vời vợi, bị ngợp và hút vào trong sức cuốn không đáy, không điểm dừng của nỗi nhớ. Nếu cái hun hút của không gian (như hun hút những con đường, hun hút những hàng cây…) bao giờ cũng tạo cho con người cảm giác chông chênh, mất đi, hẫng hụt đi, nhỏ bé hơn trong một không gian kéo dài vô tận theo chiều sâu thì cái hun hút của nỗi nhớ lại càng vô định và miên man hơn. Cái vô định, miên man ấy lại được lồng ghép trong một cái phông rất “ăn ý”: nẻo đường không tên. Người ta thường nhớ về những kỉ niệm, về những dấu ấn khó phai mờ trong tâm khảm hay những khoảnh khắc làm ngưng đọng kí ức chứ mấy ai nhớ về cái không xác định như “nẻo đường không tên”? Nhưng tư duy về cảm xúc thì không nhất thiết phải theo quy luật thông thường ấy. Có thể, “nẻo đường không tên” đó là một nẻo đường tự hiện lên trong nỗi nhớ một cách đột ngột, được bất chợt đưa vào nỗi nhớ của nhà thơ- một nẻo đường không định hình, chưa được xác định, còn đang ở phía trước… Cũng có thể, nẻo đường ấy không tên nhưng là nẻo đường được định hình thường trực trong nỗi nhớ của nhà thơ. “Nẻo đường không tên” ấy tưởng như mơ hồ nhưng có thể lại là hình ảnh khắc sâu trong tâm tưởng của nhà thơ. Song, “hun hút nhớ” mà được gắn kết một mạch với “nẻo đường không tên” thì cảm giác không xác định, có chút gì như chơi vơi vẫn là xúc cảm trọng tâm, rõ nét của cả 2 câu thơ. Rất tự nhiên, “Thung thăng dạo bước phố phường” trở nên tương phản với “hun hút nhớ nẻo đường không tên”, tương phản ở sự thanh thản, bình thản bề ngoài với chiều sâu hun hút bất tận, khôn nguôi của tâm trạng bên trong. Nếu đặt 2 ý ở 2 câu trên 2 dòng thơ, sự tương phản ấy lại càng rõ nét. Nhưng việc không viết hoa ở đầu dòng câu 8 tiếng làm 2 ý trên nối vào nhau một cách tự nhiên, tuy được tách trên 2 dòng thơ. Điều đó làm người đọc vẫn thấy được sự tương phản trong suy nghĩ, tâm trạng với dáng vẻ bề ngoài của “người dạo phố” nhưng vẫn hiểu được tính 2 mặt, tính đa diện về tâm trạng trong một dòng suy nghĩ, một dòng tư duy- tâm trạng, suy nghĩ ấy được truyền tải vào dòng 6 nối liền với dòng 8 thành 1 khối chữ, không có sự tách biệt bằng cách không viết hoa chữ cái ở đầu dòng 8: tính tương phản trong một thể thống nhất! Tương tự như vậy, xúc cảm của nhà thơ được đẩy lên mạnh mẽ hơn ở 2 câu thơ trong khổ 2:

 “Quên người nhớ, nhớ người quên

 tan tành vỡ nát- nhớ bền vững xưa.”

Lại một loạt cặp từ trái nghĩa được đan xen vào nhau, như những tâm trạng, những mảng miếng của quá khứ và hiện tại, của thời gian và không gian được hoà trộn trong bảng màu của hội hoạ vậy. Xét theo dòng chảy thứ tự của từng chữ ta có các cặp trái nghĩa: “quên”- “nhớ”, “người nhớ”- “người quên”, “tan tành vỡ nát- bền vững”, “quên…nhớ- nhớ…quên”. Người đọc cũng liên tưởng đến các hệ nghĩa nhân- quả: quên- tan tành vỡ nát: vì quên nên tan tành vỡ nát; nhớ- bền vững: vì nhớ nên nhiều thứ vẫn còn bền vững. Cũng có thể có các hệ nghĩa khác: hiện tại đã “tan tành vỡ nát”, mất mát, khổ đau, không tốt đẹp thì “nên quên đi” và những gì bền vững, thuộc về sự thủy chung, về những điều tốt đẹp thì vẫn cứ nên “nhớ”. Xét theo trục dọc của 2 câu thơ, ta có các trường nghĩa, các hệ liên tưởng: “quên- tan tành vỡ nát”; “nhớ- bền vững”; “quên”: có cả hiện tại và quá khứ đan xen với nhau –“nhớ”: có cả hiện tại và quá khứ đan xen với nhau- “tan tành vỡ nát”: hiện tại – “bền vững xưa”: quá khứ. Nghĩa là, ở câu 6 tiếng, có “quên” và nhớ”: hiện tại và quá khứ vẫn còn đan xen với nhau, hoà nhập trong nhau nhưng đến câu 8 tiếng thì hiện tại “tan tành vỡ nát” và quá khứ “bền vững xưa” được tách biệt rõ ràng, được phân chia bằng ranh giới về ngôn từ, về tâm trạng và cả bằng một dấu gạch ngang nữa. Nhưng điều đáng bàn ở đây là, sự chuyển mạch từ nhớ và quên- từ hiện tại đan xen với quá khứ sang “tan tành vỡ nát” và “nhớ bền vững xưa”- hiện tại và quá khứ được tách biệt rõ ràng, được thể hiện bằng một điểm nhấn khá “thanh nhã” về hình thức: tác giả không viết hoa ở đầu câu 8! Vì thế, trên hình thức cả khổ, 2 câu 6 tiếng và 8 tiếng với 2 nội dung như đã phân tích được “gói gọn” trong từng câu nhưng chính việc không viết hoa chữ cái đầu dòng 8 tiếng đã làm cho từng câu thơ được “gói bằng cùng một dây lạt mềm mại” mà thôi. Ý của câu 6 vẫn tiếp nối chảy xuống câu 8 như một dòng nước chảy trong tự nhiên, có chút dừng lại ở dòng thứ nhất, do việc tách dòng trên- dưới (như dòng nước gặp đá ở giữa dòng, có bị cản trở một chút) nhưng vẫn mải miết chảy tiếp về phía trước không ngừng nghỉ, chảy một mạch liên tục xuống câu 8 ở dòng 2 (do không có sự tách câu, không viết hoa chữ đầu câu 8). Đến khổ thứ 3, việc không viết hoa ở câu 8 tuy vẫn là để duy trì sự “bắt mạch”, “liền mạch” giữa câu 6 tiếng và câu 8 tiếng nhưng sự liền mạch về nội dung đã có sự chuyển biến:

 “Gặp người đón, nhớ người đưa

Tránh người quen, nhớ người chưa biết mình”.

       Vẫn dùng những cặp từ trái nghĩa để làm bật lên hai mặt tương phản, đối lập trong tâm trạng nhưng tính khách quan và chủ quan trong từng tình huống đã thay đổi. Nếu khổ 2 chỉ diễn tả sự tương phản về tâm trạng và thực tế hiện tại-quá khứ thì khổ 3 còn là cả một thái độ ứng xử với các tình huống tương phản, có cả tính chủ quan hay không chủ quan trong đó. “Gặp người đón, nhớ người đưa” có thể chỉ diễn tả thực tế sự tình “gặp người đón” và tâm trạng xuất hiện một cách tự nhiên “nhớ người đưa”, như một kiểu “ôn cố tri tân”. Nhưng đến “tránh người quen” thì dường như đây lại là một sự chủ ý, cố tình chứ không chỉ là do hoàn cảnh như ở câu 6 tiếng: vì gặp người đón nên “vô tình”, “bất chợt” nhớ người đưa! Những lại có một sự tiếp nối về “cái vô tình” ở đây là khi chủ ý “tránh người quen” thì nhà thơ lai “nhớ vu vơ” đến “người chưa biết mình”. Có lẽ, đấy cũng là điểm nhấn vào chủ đề “không dưng mà nhớ” của cả bài thơ. Nhớ đến một người, một người chưa biết mình nhưng ta vẫn có thể liên tưởng rằng “mình” (=nhà thơ) biết đến người đó và nhớ đến người đó, dù người đó còn “vô tình” chưa biết đến nhà thơ! Sẽ thấy thú vị, nếu cảm nhận rằng sự cố tình không viết hoa chữ cái đầu câu 8 tiếng ở khổ thứ 3 này là để nối mạch cảm hứng về sự vô tình- cố tình- hữu tình- vô tình, không chủ ý và có chủ ý của nhà thơ. “Gặp người đón” là sự tình hiện thực mà chủ thể phải thực hiện – “nhớ người đưa” là tâm trạng bất chợt, “vô tình” đến khi ở tình huống “gặp người đưa”- “tránh người quen” là sự chủ ý, lánh mặt, cố tình không gặp gỡ- “nhớ người chưa biết mình”: có cả sự cố tình và vô tình (khi “tránh người quen” thì vô tình (= bất chợt) nhớ tới người chưa biết mình, nhưng nỗi nhớ đó lại hoàn toàn không vô tình mà lại là nỗi nhớ của một người “đầy tình”, chan chứa tình; người được nhớ đến (= người chưa biết mình) thì lại “vô tình” chưa biết “mình” (= nhà thơ). Sự cách tân tinh tế ở đây là thể lục bát “khuôn vàng thước ngọc” vẫn được lưu giữ rất tài tình, khổ thơ vẫn gồm 2 câu thơ, câu trên 6 tiếng, câu dưới 8 tiếng. Nhưng cái cấu trúc “lục bát” đó đã được làm “rạn nứt” khéo léo từ chính một điểm đánh dấu nho nhỏ về hình thức: không viết hoa chữ đầu câu 8. Vì thế mà cái mạch liên tưởng về vô tình- cố tình- hữu tình- vô tình mới xuyên suốt không ngắt quãng đầy ý tứ đến như vậy! Thực ra, với những sự liên kết về nội dung và “mạch lạc” của hai câu thơ trong khổ, người đọc có thể cảm nhận được mạch tư duy và xúc cảm vô tình- cố tình- hữu tình- vô tình trong 2 câu thơ trên. Song, sự liền mạch về dấu hiệu hình thức (không viết hoa ở đầu câu 8 tiếng) là sự phù hợp rất hợp lý, nhịp nhàng với nội dung cần thể hiện, nó thể hiện tính thống nhất giữa hai mặt nội dung và hình thức. Câu lục bát trong khổ thứ 3, vì thế, vẫn giữ được phần nào “cái vỏ hình thức” của câu lục bát truyền thống nhưng rõ ràng nó đã có sự chuyển biến, “lột xác” khỏi cái gốc lục bát truyền thống, đã liền hơi nối ý từ câu 6 tiếng sang câu 8 tiếng theo trật tự tuyến tính.

          Nếu ở bài “Không dưng mà nhớ” đã có dấu hiệu của sự “thoát xác” khỏi cấu trúc cố hữu của câu lục bát truyền thống, tạo ra sự chuyển biến mới trong cấu trúc câu thơ, khổ thơ và cả bài thơ thì đến bài “Ngẫu cảm”, sự nối dài các câu thơ đã được nâng lên một bậc. “Ngẫu cảm” là bài thơ phần lớn gồm các câu thơ 8 chữ, thi thoảng có đan xen một vài câu 7 chữ chứ không được làm theo thể lục bát. Bài này chỉ có 4 khổ thơ, mỗi khổ không lặp lại đều đặn 2 câu/ khổ như “Không dưng mà nhớ”. 3 khổ thơ đầu mỗi khổ có 4 câu, khổ thơ cuối cùng chỉ có 2 câu thơ. Mỗi ý thơ trong 1 khổ thơ không được hoàn thiện trên mỗi dòng thơ mà được ngắt ý thành 2 lần trong 1 khổ thơ theo quy luật: chữ đầu câu thứ 1 được viết hoa, câu 1 vắt dòng xuống câu 2 và chữ đầu câu thứ 3 được viết hoa, câu 3 vắt dòng xuống câu 4. Riêng ở khổ thơ cuối cùng, do chỉ có 2 câu nên câu thứ 1 vắt dòng xuống câu thứ 2 và kết thúc ý thơ- khổ thơ ở câu thứ 2, đương nhiên chỉ có chữ đầu của câu thứ 1 được viết hoa.

 “ Bất ngờ mùa khô thổi vơi rừng chiều

 vó ngựa Đồng Văn bồn chồn Mũi Né

 Bất ngờ mùa mưa bazan lộ tẻ

 heo hút ngược đường tạm biết Pleiku

 

  Bây giờ mùa xuân bây giờ mùa thu

  miền đông Lêvitan miền tây xào xạc

Bây giờ nóng nam bây giờ rét bắc

tình vật mai đào tràn lên khuôn toan

 

Lau lách khơi vơi lan cúc nồng nàn

 vi vút thông reo dầm chân đước lấn

Náo nức gừng cay thâm trầm muối mặn

rộn rã ánh ngày ngọt lịm hương đêm

 

 Bây giờ là anh bao giờ là em

vô chừng mờ xa vô chừng đồng hiện.”

Cả một hệ thống các từ đối lập được nhà thơ sử dụng với mật độ dày đặc, tạo nên tính “ngẫu cảm” một cách chủ ý của thi nhân. Tất cả đều như thể “bất ngờ” tràn tới, liên tục nối tiếp nhau theo sự tuần hoàn, theo vòng quay của tạo hoá, liên tục nối tiếp nhau trong thế đối lập, san sẻ và bù đắp cho nhau: mùa khô/ mùa mưa, mùa xuân/ mùa thu, miền đông/ miền tây, nóng/rét, nam/bắc, thông/đước, náo nức/thâm trầm, ánh ngày/hương đêm... Những cặp đối lập đó đi cùng với nhau tạo nên các cặp đối lập lồng ghép, có ý nghĩa tăng cường hoặc các cặp đối lập lâm thời: nóng nam/rét bắc (đối lập lồng ghép, tăng cường); náo nức gừng cay/thâm trầm muối mặn, rộn rã ánh ngày/ ngọt lịm hương đêm (đối lập lâm thời). Đây chính là sự sáng tạo của nhà thơ theo phong cách khá hiện đại. Thực ra, có thể thấy trong thơ ca những giai đoạn trước, kể cả thơ đậm đà chất truyền thống, tính song song, đối nghĩa, đối cấu trúc là một trong những đặc tính khá nổi trội. Vì điều đó tạo nên tính đối xứng trong câu thơ, khổ thơ, bài thơ, về cả mặt hình thức và ý nghĩa. Việc dùng các cặp từ đối nhau trong thơ xưa không hề khan hiếm! Chẳng hạn, “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ có tính đối xứng khá cao. Điều đó được thể hiện rõ nét ở hàng loạt các câu thơ (chú ý các cặp từ:lom khom/lác đác, dưới núi/bên sông, tiều vài chú/ chợ mấy nhà, nhớ nước/thương nhà, đau lòng/mỏi miệng, con cuốc cuốc/ cái gia gia….; ở đây, bài viết này chưa kể thêm đến sự đối xứng về thanh điệu, về các cặp câu thơ có đối theo luật bằng-trắc, đối xứng về nhịp điệu…):

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

 Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại, trời, non, nước

 Một mảnh tình riêng, ta với ta.”.

Ở bài “Ngẫu cảm”, tính đối xứng cũng có hệ thống rõ ràng. Song, tính đối xứng ấy không còn là sự đối xứng “quá quy củ” theo niêm luật thơ Đường mà nó được hình thành theo kiểu “ngẫu cảm” với hệ thống từ đối lập về nghĩa, nếu xét theo trường nghĩa. Chỉ có điều, khác với thơ xưa, cái tố chất về “tính đối xứng” được thể hiện qua các cặp từ đối ở bài thơ này đã được sơn một lớp vỏ mới với cấp độ dày đặc hơn, chi tiết hơn. Xét thử một câu thơ cuối cùng của khổ thơ thứ 3 làm ví dụ: “rộn rã ánh ngày ngọt lịm hương đêm”. Đây là câu thơ có 3 cặp đối lập. Cặp đối lập danh từ “ngày/đêm” là cặp đối lập cốt lõi. Các cặp từ rộn rã/ ngọt lịm, ánh/hương vốn không có ý nghĩa đối lập. Nhưng khi các cặp từ ấy được đi kèm với cặp đối lập ngày/đêm thì các cặp từ ấy đã cộng hưởng với cặp từ ngày/đêm để tạo ra những cặp từ ngữ đối lập mới - đối lập một cách lâm thời. Đây chính là sự sáng tạo tầng lớp của một tư duy mới trên cái vốn sẵn có là đảm bảo tính đối xứng gốc cội của thơ ca theo lối niêm luật. Ta có các cặp đối lập theo 3 cấp độ trong cùng 1 câu thơ trên như sau:

Cấp 1:         ngày/đêm

Cấp 2:        ánh ngày/hương đêm

 Cấp 3:       rộn rã ánh ngày/ ngọt lịm hương đêm

          Điều thú vị ấy còn xuất hiện ở một vài cấu trúc khác ở một số câu thơ khác trong bài: “Bây giờ nóng nam bây giờ rét bắc”, “Náo nức gừng cay thâm trầm muối mặn”. Câu thơ “Bây giờ nóng nam bây giờ rét bắc” có 2 cặp đối xứng nóng/rét, nam/bắc. 2 cặp từ ấy kết hợp với nhau làm cho ý nghĩa đối lập tăng tiến lên gấp đôi: nóng nam/rét bắc. Nhưng, nét độc đáo vẫn là từ 2 cặp từ trái nghĩa ấy, tác giả tạo ra sự đối lập của 2 cụm: bây giờ nóng nam/ bây giờ rét bắc. Cùng một điểm thời gian mà có sự đối lập cao độ cả về điều kiện khí hậu và không gian (vị trí, khu vực, vùng miền) như vậy tạo ra sự dồn dập trong khoảng khắc, tạo ra sự khu biệt cao độ của từng ý thơ. Và rất tự nhiên, người đọc có cảm giác “bây giờ”cũng đối lập với “bây giờ” (= một khoảng thời gian đối lập với chính nó!), dường như sự đối xứng được đẩy lên đến đỉnh điểm. Thực ra, cấu trúc ấy đã xuất hiện ở câu thơ đầu tiên trong khổ thơ thứ hai: “Bây giờ mùa xuân/ bây giờ mùa thu”- đâylà sự đối lập về thời gian và không gian. Cũng như vậy, “Náo nức gừng cay/ thâm trầm muối mặn” không chỉ tạo ra sự tương phản về hương vị, mùi vị mà còn tạo ra sự tương phản về các cung bậc, sắc thái tình cảm. Một loạt các cặp từ nối tiếp nhau trong hệ thống như vậy, tạo ra một cảm giác gấp gáp về thời gian, không gian, về tâm trạng, tình cảm ở các cấp độ khác nhau: khơi vơi (cảm giác hơi xa xôi, hơi tản mạn)/ nồng nàn (cảm giác ấm áp, gần gũi, không thể thiếu); bây giờ là anh/ bao giờ là em (đối lập về hiện tại, về thời điểm có thể biết (bây giờ) với thời gian trong tương lai,chưa thể biết trước được (bao giờ), từ đó mà thấy giữa “anh” và “em” có điều gì như xa cách, như không dễ gần); vô chừng mờ xa/ vô chừng đồng hiện (đối lập giữa sự xa xôi, không rõ ràng mãi mãi (vô chừng mờ xa) với điều hiện hữu cùng một lúc không có giới hạn (vô chừng đồng hiện).

          Cả bài thơ gồm có 4 khổ, 3 khổ đầu mỗi khổ có 4 câu thơ, mỗi dòng thơ có 7 tiếng hoặc 8 tiếng. Đễn khổ thứ tư thì có sự đột phá về cấu trúc bài. Bài thơ kết thúc bằng 1 khổ thơ chỉ vẻn vẹn có 2 câu, mỗi câu có thể được ngắt nhịp 4/4 làm người đọc liên tưởng đến những bước chân, những nhịp đếm vậy: bây giờ là anh/bao giờ là em; vô chừng mờ xa/ vô chừng đồng hiện. Nhà thơ dùng lối nói diễn xuôi của một câu trần thuật có từ hỏi (bao giờ) để thể hiện ý hỏi, ý thắc mắc “bây giờ là anh bao giờ là em”, gần gũi như một câu hội thoại hàng ngày vậy. Và câu trả lời cũng đầy tính ngẫu cảm: “vô chừng mờ xa vô chừng đồng hiện”.

          Khác với nỗi nhớ “không dưng” trong “Không dưng mà nhớ”, khác với muôn vàn sắc thái, cung bậc tình cảm thăng trầm trong “Ngẫu cảm”, tâm trạng trong bài “Nỗi nhớ” được định hình cụ thể hơn, rõ ràng hơn, cô động hơn, có trọng tâm hơn. Nỗi nhớ ấy, tâm trạng ấy được lồng trong một cách diễn tả mạnh mẽ hơn, tuôn chảy hơn, nối tiếp nhau không ngừng của những ý thơ, câu thơ. Hình thức thơ đã bước thêm một bước “đột phá” so với hai bài thơ trước: mỗi khổ thơ gồm 4 câu thơ, chỉ có từ đầu tiên của câu thơ đầu tiên trong khổ mới được viết hoa, các chữ đầu các dòng thơ còn lại trong khổ không được viết hoa, thể hiện sự nối ý từ dòng trên xuống dòng dưới theo kiểu vắt dòng:

          “ Hình như tiếng còi tàu vừa thảng thốt chào ga

          lối rẽ Phúc Yên có người xuống đấy?

          mới chợt nghĩ đã chạnh lòng run rẩy

          có ai về cùng lại với tôi không?

 

          Có ai về cùng lại những đêm trăng

          “quán chiếu thiên nhiên”, hàng long não ngát

          đêm nào thức khuya, sớm nào cay mắt

          những vui buồn trong vắt thuở sinh viên?

 

          Có ai về cùng lại buổi đầu tiên

          với thư viện, giảng đường, kí túc…

          giếng thì sâu, trời xanh mà nước đục

          đói cồn cào mà cười nói râm ran

 

          Làng Văn, làng đồi mùa hoa bưởi hoa xoan

          vấn vít tỏa hương dòng Cà Lồ uốn khúc

          trong nỗi nhớ, như là hư là thực

          bóng núi Thằn Lằn, Tam Đảo phía mờ xa

 

          Hình như tiếng còi tàu vừa mới vào ga…”

 

Đó là sự “mở” để ý thơ có thể chảy xuống dòng thơ tiếp theo. Mặc dù trong khổ thơ thứ nhất đến cuối dòng thứ hai và cuối dòng thứ tư lại có dấu hỏi để ngắt một ý về nội dung, chuẩn bị chuyển sang một ý mới, nội dung mới mà sau đó vấn không viết hoa. Hình thức trình bày một khổ thơ đa dạng như vậy tưởng như là có sự mâu thuẫn, nhưng thực chất lại làm cho câu thơ chặt chẽ hơn, ý thơ quấn quyện với nhau hơn.

          Bài thơ không chỉ là nỗi nhớ day dứt, thường trực về mái trường mà còn là những hồi ức, những kỉ niệm về một thời sinh viên. Những câu hỏi thao thức mãi khôn nguôi: có ai cùng về lại với tôi không?/ Có ai cùng về lại những đêm trăng/ Có ai cùng về lại buổi đầu tiên. Ngoài ra, một trong những nét đặc sắc của bài thơ là sử dụng các cấu trúc so sánh. So sánh không có từ để so sánh, so sánh bằng sự tương phản về thời gian: đêm nào thức khuya, sớm nào cay mắt. So sánh có sử dụng từ so sánh và nhấn mạnh: “giếng thì sâu, trời xanh mà nước đục”; “đói cồn cào mà cười nói râm ran”. Trong gian khổ vẫn thấy tươi roi rói niềm tin, sự lạc quan và sức sống của thế hệ trẻ (sinh viên), của con người trước những gian lao. Trong khó khăn, con người không chỉ lạc quan để sống mà còn sống với những giây phút lãng mạn, có chút “ngao du”, thả hồn vào thhiên nhiên, hoà mình vào không gian vô tận, gắn bó với những kỉ niệm của một thời để nhớ, đẹp đến trong vắt, đẹp đến nao lòng người: về lại những đêm trăng, “quán chiếu thiên nhiên”, hàng long não ngát; làng Văn, làng đồi mùa hoa bưởi hoa xoan,vấn vít tỏa hương dòng Cà Lồ uốn khúc trong nỗi nhớ như là hư là thực….

          Bài thơ gồm 5 khổ, kết thúc bằng 1 khổ chỉ có 1 câu. Người đọc hơi hẫng vì sự kết thúc hơi đột ngột như thế. Nhưng sự đột ngột ấy được dung hòa bởi ý thơ có tính phỏng đoán (chính ý thơ này làm cho không gian câu thơ mở rộng ra vô tận trong sự tưởng tượng cả về không gian và thơ gian, về kí ức và hiện tại, vượt rất xa khuôn khổ hình thức của một câu thơ):

   “Hình như tiếng còi tàu vừa mới vào ga….”

          Ba bài thơ của Nguyễn Trọng Hoàn đều có sự cách tân về hình thức. Nổi bật nhất là việc không viết hoa các chữ cái ở một số dòng thơ theo các quy luật khác nhau (tùy thuộc từng bài) tạo ra sự liền mạch, không dứt ý giữa các câu thơ trong khổ. Việc kết thúc các bài thơ có nhiều khổ (trong đó, phần lớn là mỗi khổ có 4 câu) bằng những khổ thơ chỉ có 1 câu hoặc 2 câu tạo ra điểm dừng đột ngột, điểm nhấn ấn tượng cho chủ đề của cả bài. Mỗi bài thơ đều có các cặp từ đối lập theo bậc (1 cặp/ câu – bậc 1, 2 cặp/ câu- bậc 2, 3 cặp/ câu- bậc 3) tạo nên thi hứng khi thì dồn dập, khẩn trương lúc thì thong dong, miên man, day dứt. Những nét mới về hình thức thơ ấy phản ánh một tư duy thơ đã vượt ra khỏi khuôn mẫu quy ước nghiêm ngặt của thơ xưa, là một trong những điều kiện quan trọng để cho ý thơ được thả sức tuôn trào, diễn tả các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau, các chủ đề khác nhau trong cuộc sống. Hơn thế nữa, ở một số câu thơ đã có sự xuất hiện của những cấu trúc câu theo lối nói diễn xuôi hoặc lối nói trong hội thoại. Song, dù có những nét mới về hình thức thì thơ Nguyễn Trọng Hoàn vẫn giàu tính nhạc, có nhịp điệu, có vần có đối. Điều đó thể hiện thơ ông vẫn chịu những ảnh hưởng nhất định của thơ ca truyền thống. Tuy nhiên, cách làm thơ, viết thơ như Nguyễn Trọng Hoàn là cách làm thơ rất mới, nó là những nốt nhạc tạo nên giai điệu cho “bản nhạc” thơ Việt Nam hiện đại đang phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau hiện nay.

 

Tài liệu tham khảo.

1.      Nguyễn Phan Cảnh, 2001, “Ngôn ngữ thơ”, NXB Văn hóa Thông tin.

2.      Nguyễn Tài Cẩn, “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004,397trang.

3.      Trần Quang Đạo, 2005, “Cấu trúc trong thơ trẻ sau 1975”, bài trên mạng internet.

4.      Hữu Đạt, “Ngôn ngữ thơ Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh, 2000,358trang.

5.      Hữu Đạt, 2001, “Phong cách học tiếng Việt hiện đại”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

6.      Đinh Văn Đức, “Ngữ pháp tiếng Việt-từ loại”, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp,Hà Nội, 1986, 211trang.

7.      Đinh Văn Đức – Nguyễn Thị Phương Thùy, “Bước đầu nhận xét về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ mới bảy chữ tiếng Việt” (trên tư liệu các tập thơ của Xuân Diệu,Tố Hữu và Nguyễn Bính), Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1, năm 2003, trang 6-17.

8.      Hà Minh Đức (chủ biên), “Cơ sở lý luận văn học”, Nhà xuất bản Giáo dục, TP.Hồ Chí Minh, 1976, 127 trang.

9.      Dương Quảng Hàm,“Việt Nam văn học sử yếu”- Trung tâm học liệu, Sài Gòn.

10.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, “Từ điển thuật ngữ văn học”, Nhà xuất bản Giáo dục, 1992

11.Hoàng Ngọc Hiến, “Văn học và học văn”, Nhà xuất bản Văn học,Hà Nội,1997,277trang.

12.Bùi Công Hùng, “Sự cách tân thơ ca Việt Nam hiện đại”, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002, 444trang.

13.Trần Đình Sử, “Văn học và thời gian”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, 462 trang.

14.Hoài Thanh, Hoài Chân, “Thi nhân Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, 439 trang.

15.Lý Toàn Thắng, “Thơ mới của Xuân Diệu: Khổ thơ và luật thơ”, Kiến thức ngày nay, số 333, 1999, từ trang 3 đến trang 7.

16.Nguyễn Thị Phương Thùy. Một số nhận xét về thơ mới bảy chữ tiếng Việt

     trên tư liệu Gửi hương cho gió của Xuân Diệu và Từ ấy của Tố Hữu, Kỷ yếu     

     Hội nghị Ngữ học trẻ 2003 tại Đà Nẵng, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà  

     Nội 2003, trang 535 đến trang 540.

17. Nguyễn Thị Phương Thùy. Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ (Trên tư liệu các tập thơ của Xuân Diệu, Tố Hữu), Tạp chí Ngôn  ngữ, số tháng 11, 2004, từ trang 68 đến trang 79.

18. Đinh Văn Đức- Nguyễn Phương Thùy, Chương IV “Ngôn ngữ văn học thế kỉ XX: ngôn ngữ thơ mới bảy chữ tiếng Việt trong quá trình tự do hóa” trong Phần tám “Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỉ XX”, sách “Văn học Việt Nam thế kỉ XX” do Phan Cự Đệ chủ biên, NXB Giáo dục, từ trang 899 đến trang 926.

19.Nguyễn Thị Phương Thùy. Một vài nét về sự chuyển biến và cách tân của cấu trúc thơ từ 1945 đến 1975 trên tư liệu thơ của một số nhà thơ-nhà giáo, tạp chí Ngôn ngữ, số tháng 11, 2005, từ trang 51 đến  trang 67.

20. Roman Jakobson, 2001, “Ngôn ngữ học và thi học”, Cao Xuân Hạo dịch, Tạp chí Ngôn ngữ, số 14, từ trang 51đến trang 58.

 (Bài do tác giả gửi qua E.mail)

 


1 2 3 ... 18 19 20  Sau»