Về một cách hiểu ngữ nghĩa bài thơ tình “Я вас любил” của A.X.Puskin - Bùi Huy Bằng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

PTV vừa nhận được bài viết của tác giả Bùi Huy Bằng (181- Định Công Thượng - Phường Định Công Quận Hoàng Mai - TP Hà Nội) - Về một cách hiểu ngữ nghĩa bài thơ tình “Я вас любил” của A.X.Puskin. Xin được đăng lại toàn bộ bài viết của ông trên trang VĂN HỌC & HỌC VĂN để các bạn cùng tham tham khảo:

       Về một cách hiểu ngữ nghĩa bài thơ tình “Я вас любил” của A.X.Puskin

 Nhân đọc: Я вас любил - Tôi yêu em -Bài thơ không hình ảnh

Ngô Tự Lập

(Viet-Studies 17-11-10)

 

Xin chép lại bài thơ tiếng Nga bài dịch nghĩa của ông Ngô Tự Lập và bài thơ dịch của ông Thúy Toàn:

 

                      Я вас любилa

          Александр Сергеевич Пушкин 

Я вас любил: любовь еще быть может a
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.
Я вас любил безмолвно безнадежно
a
То робостью то ревностью томим;
Я вас любил так искренно так нежно
Как дай вам Бог любимой быть другим.

Dịch nghĩa:

Tôi yêu Em: tình yêu có lẽ
Trong lòng tôi vẫn chưa tắt hẳn;
Nhưng thôi chớ để nó quấy rầy Em thêm nữa.
Tôi không muốn làm Em buồn vì bất cứ điều gì.
Tôi yêu Em lặng thầm vô vọng
Bị giày vò khi vì rụt rè khi bởi ghen tuông.
Tôi yêu Em chân thành đến mức nâng niu đến mức
Lạy Trời mà Em lại được ai khác yêu như vậy.

 

Còn đây là bản dịch của Thúy Toàn:


TÔI YÊU EM
Alexander Sergeyevich Pushkin

Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
Nhưng không đ em bận lòng thêm nữa
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài

Tôi yêu em âm thầm không hy vọng
Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em yêu chân thành đằm thắm
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em

                                             (Thúy Toàn dịch)

 

Đây là lần đầu tiên tôi được biết bài thơ này. Bởi vậy những điều nêu ra dưới đây nếu có trùng lặp ở đâu đó thì xin thành thật cáo lỗi.

Tôi có ấn tượng với hai câu thơ dịch thứ 2 và 4. Chúng được diễn đạt rất hay. Có lẽ do hai câu này kết hợp với hoàn cảnh xuất hiện của nó mà bài thơ dịch được nhiều người yêu thích. Chính vì vậy ông Ngô Tư Lập đã viết: ”Tôi yêu em” là một trong những bài thơ dịch nổi tiếng nhất ở nước ta nói chung”. Nhưng cũng đánh giá: “Tuy nhiên không có bản dịch nào là hoàn thiện tuyệt đối”. Cũng với lẽ đó tôi trình bày một số suy nghĩ riêng trong cách  hiểu ngữ nghĩa bài thơ tiếng Nga khác hai ông dựa vào từ điển tiếng Nga của X.I. Ôgiegôv xuất bản tại Maxcơva năm 1973.

I- Về bài tiểu luận của ông Ngô Tự Lập và bài thơ dịch của ông Thúy Toàn:

1- Những điều trao đổi chung về ngữ nghĩa và ngữ pháp trong bài thơ:

a- Về ngữ pháp любил- phải dịch là ĐÃ YÊU. Về ngữ nghĩa có như vậy thì tình yêu mới CÓ THÊ VẪN CÒN (câu thứ 1) CHƯA TẮT HẲN (câu thứ 2) chủ thể (Я)  mới để tình yêu vẫn còn ấy không tác động thêm đến khách thể (ВАС) (câu thứ 3 và 4) và cầu mong điều tốt cho khách thể (câu thứ 8). Đây là cốt lõi quyết định ý nghĩa của bài thơ vì không phẩi ngẫu nhiên mà nhà thơ diễn đạt động từ ЛЮБИТЬ ở thì quá khứ.

b- Từ ВАС (có thể là thiếu nữ hoặc phụ nữ) phải dịch là CHỊ BÀ QUÝ BÀ bởi lẽ:

- Đây là cách xưng hô theo phép xã giao của người Nga khi đối tượng chưa phải là người thân (ở đây chỉ là yêu đơn phương) và cũng là cách xưng hô phổ biến trong giới quý tộc Nga thời đó. Nêu dịch như từ ТЕБЯ (EM BẠN MÌNH) vừa sai ngữ pháp vừa  tỏ ra suồng sã.

- Theo ông Lâp: “với từ “em” tôi đề nghị dùng cách viết hoa” (Em) lại càng khiên cưỡng.

Vậy ở đây chọn từ NÀNG là phù hợp nhất.

c- Trong từ điển tiếng Nga động từ ТОМИТЬ (giày vò day dứt...) không có cấu tạo thể tính động từ nên nghĩa ТОМИМ là (CHÚNG TA – chủ ngữ ẩn) DAY DỨT (giày vò) nhau chứ không phải BỊ DAY DỨT (bị giày vò). Thực ra chỉ có chủ thể tự day dứt (giày vò). Nhưng dù dịch ТОМИМ là BỊ GIÀY VÒ hoặc HẬM HỰC khi ghép với từ РОБОСТЬЮ ( bởi rụt rè dè dặt…) thì cách diễn đạt “Bị dày vò khi vì rụt rè” hoặc “Lúc rụt rè khi hậm hực...” là không thuần Việt và không phù hợp ngữ nghĩa.

d- Với từ РЕВНОСТЬЮ (bởi ghen tuông sốt sắng nhiệt thành…) dịch là GHEN TUÔNG hoặc LÒNG GHEN thì không phù hợp ngữ cảnh vì chủ thể không biểu hiện ghen tuông hoặc lòng ghen với ai. Còn sử dụng từ HẬM HỰC vừa không sát ngữ nghĩa vừa hạ thấp nhân cách của chủ thể trong bài thơ.

2- Những điều trao đổi thêm về bài tiểu luận của ông Ngô Tự Lập:

a- Tôi đồng tình rằng cụm từ “chừng có thể” (câu thứ 1) là “không trung thành với ngôn từ trong sáng của nguyên bản”. Nhưng khi đề xuất: “tốt nhất là cứ dịch giản dị sát nghĩa thành: …: tình yêu có lẽ” thì ông đã bỏ qua từ ЕЩЁ với nghĩa vẫn còn làm cho cụm từ này tối nghĩa. Vậy phải dịch là: “tình yêu vẫn còn có thể (có lẽ)” hoặc tình yêu có thể vẫn còn– đấy mới là mệnh đề hoàn chỉnh.

b- Cụm từ “Ngọn lửa tình” (câu thứ 2) mà người dịch thêm vào chính là chủ ngữ ẩn của động từ vị ngữ УГАСЛА. Nhưng sự giải thích về động từ này (ở điểm 2 của tiểu luận) là không thỏa đáng về ngữ nghĩa và ngữ pháp. Thực ra đây là động từ thể chưa hoàn thành có nghĩa đã tắt nhưng chưa trọn vẹn phù hợp với “vẫn còn” (ở câu thứ 1). Từ НЕСОВСЕМ (không hoàn toàn) là nhằm nhấn mạnh thêm và đắc dụng cho cách gieo vần НИЧЕМ của tác giả.

c- Việc dich nghĩa cụm từ “Nhưng thôi chớ đ nó…”  (đầu câu thơ thứ 3) đã phá vỡ cấu trúc ngữ pháp của câu. Nguyên nghĩa phải là “Nhưng hãy đ nó…”.

d- Trong từ điển tiếng Nga nói trên không có ý nào giải  thích từ НЕЖНО là NÂNG NIU và sử dụng cụm từ YÊU NÂNG NIU (dịch nghĩa câu thứ 7) cũng xa lạ với tiếng Việt.

đ- Tôi cũng đồng tình rằng “hiệu quả nhất là hai câu cuối cùng cũng là hai câu ông Thúy Toàn hiểu sai ý tác giả”. Nhưng khi dịch nghĩa lại chưa xác đáng (câu thứ 8) vì ”được ai khác yêu” (khách thể ở thế bị động – như là được ban phát) không đồng nghĩa với “được yêu bởi ai khác” (khách thể ở thế chủ động – người khác phải để mắt tới mới đúng). Nói cách khác khách thể chỉ như mục tiêu để người khác “yêu trộm nhớ thầm”. Thế mới đúng tình yêu của chủ thể là tình yêu đơn phương (xem tiết 3.b).

 Riêng cụm từ - thành ngữ: ДАЙ…БОГ - cầu Trời phú cho (phù hộ cho) biểu  đạt mong muốn hay cụm từ: ТАК…КАК - đến thế…như thế biểu đạt so sánh   chỉ cần hiểu đúng như trong từ điển và diễn đạt đúng khi dịch là đủ. Không nên mượn ý của người khác để luận giải như giảng văn đến mức xa ngữ nghĩa của bài thơ.

3- Những điều  trao đổi thêm về bài thơ dịch của ông Thúy Toàn:

a- Mệnh đề “Đến nay chừng có thể” (câu thứ 1) chỉ mang nghĩa lượng hóa mức độ yêu không phù hợp ngữ nghĩa (tình yêu còn vương vấn) của câu thơ (xem tiết 2.a). Mặt khác mệnh đề này không ăn nhập với nội dung câu thứ 2.

        Trong câu thứ 2 cụm từ “В душе моей - Trong tâm hồn tôi” nếu được thể hiện ở hình thức nào đó thì câu thơ dịch mới đủ ngữ nghĩa.

b- Tình yêu của chủ thể (Я) là tình yêu đơn phương còn khách thể (ВАС) không bị chi phối bởi tình yêu đó (ít nhất là biểu hiện trong thơ). Cho nên cách diễn đạt hai câu thứ 3 và 4 mang tính áp đặt chủ quan bởi khách thể chưa từng “bận lòng” và “gợn bóng u hoài”. Nhưng có người  cho rằng khách thể biết tình yêu đơn phương đó nên có thể xảy ra các tình huống trên. Nếu được phép suy diễn như vậy thì liệu có tình huống khách thể “khó chịu” hoặc “giận dữ”? Khi đó sẽ chẳng có bài thơ này!

c- Theo ngữ pháp tiếng Nga hai câu cuối (câu thứ 7 và 8) dù đã dịch lặp lại ý dịch thừa cụm từ “như tôi đã yêu em” vẫn không diễn đạt rõ thể so sánh “đến thếnhư thế”.

d- Cũng theo ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Nga cần phân biệt nội dung câu thứ 8 như sau:

- Đây là điều cầu mong cho khách thể trở thành người đươc yêu (đáng yêu) (ЛЮБИМОЙ БЫТЬ) bởi ai khác (ДРУГИМ) chứ không phải “được người tình (người khác)… yêu em” (БЫТЬ ДРУГИМ ) (xem điểm 2.đ).

- Do yêu đơn phương nên chủ thể (Я) và ai khác (ДРУГИМ không có lý do để tự coi mình là NGƯỜI TÌNH của khách thể.

- Trong từ điển tiếng Việt và tiếng Nga từ NGƯỜI TÌNH (tình nhân) đều có nghĩa là người (nam nữ) có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân hợp pháp. Như vậy người dịch đã làm cho mối tình đơn phương trong bài thơ mất đi vẻ đẹp và sự trong sáng vốn có.

 II- Về đề xuất dịch nghĩa và chuyển ngữ:

 Dịch nghĩa:

                   TA ĐÃ YÊU NÀNG

 Ta đã yêu nàng: tình yêu vẫn còn có thể (có thể vẫn còn)              

Trong tâm hồn ta [tình yêu] đã tắt [nhưng] chưa hoàn toàn (chưa tắt hẳn);

Nhưng hãy để nó (tình yêu) không làm xao động nàng thêm nữa;

Ta không muốn gây ưu phiền nàng chút nào (bằng bất cứ cớ gì).

Ta đã yêu nàng âm thầm vô vọng

Khi dằn lòng lúc nhiệt thành day dứt;

Ta đã yêu nàng chân thành đến [hết] mức dịu dàng đến [hết] mức

Cầu Trời phú cho nàng được yêu đến [hết] mức như thế bởi ai khác.

 Để dịch bài thơ trên tôi lựa chọn những ngữ nghĩa chủ yếu sau đây:

1- Dù người phụ nữ trong bài thơ có thật hay không tôi vẫn nghĩ chủ thể chính là A.X. Puskin nên mối tình đơn phương đó mới thi vị đến thế. Vì vậy tôi dịch Я là TA mới xứng với vị thế hào hoa phong nhã khí phách của nhà thơ. Dịch từ ВАС là NÀNG (xem tiết 1.b).

2- ТРЕВОЖИТЬ : gây xao động (lay động – theo từ điển tiếng Việt) gây sóng gió gây bất an… Dịch là LAY ĐỘNG.

3- ПЕЧАТЛИТЬ  gây ưu phiền gây u sầu… Dịch là GÂY ƯU PHIỀN.

4- РОБОСТЬЮ (РОБОСТЬ): bởi rụt rè dè dặt sợ sệt… Chọn nghĩa: DÈ DẶT.

Suy diễn: sự dè dặt tạo nên trạng thái DẰN LÒNG NÉN LÒNG. Dịch là NGHẸN LÒNG.

5- РЕВНОСТЬЮ (РЕВНОСТЬ): bởi ghen tuông sốt sắng nhiệt thành… Chọn nghĩa: SỐT SẮNG + NHIỆT THÀNH. Dịch là CHÁY BỎNG.

6- ТОМИМ (ТОМИТЬ): giày vò day dứt hành hạ… Chọn nghĩa: DAY DỨT.               

Suy diễn từ  các cụm từ : 

- МЕНЯ ТОМИТ ЖАЖДА: tôi khát.

- ТОМИТЬСЯ ЖАЖДОЙ ЧЕГО-Л.: khát khao điều gì đó.

Tôi liên tưởng DAY DỨT đến CỒN CÀO và KHAO KHÁT. Dịch là KHÁT KHAO.

7- НЕЖНО: một cách dịu dàng âu yếm trìu mến… Dịch là DỊU NGỌT.

Xét đến cùng việc dịch thơ là chọn ngôn từ và hình ảnh (nếu có) để diễn đạt cho đúng ngữ pháp ngữ nghĩa ngữ cảnh và ngữ điệu vốn có của bài thơ ở mức tối đa. Như vậy là thể hiện sự tôn trọng bạn đọc nhất là với bạn đọc chưa biết ngoại ngữ nguyên tác. Ngay cả khi thực hiện phóng tác cũng vẫn cần sát nghĩa. Ví như ở bài thơ ĐỢI ANH VỀ của C. Ximiônôv do nhà thơ Tố Hữu dịch rất hay cũng chỉ chú giải là “phỏng dịch”.

Tôi xin dịch bài thơ trên như sau:  

                  TA ĐÃ YÊU NÀNG

            Alecxanđr Xergeevitr Puskin

 Ta đã yêu nàng: tình vẫn còn có thể

Trong hồn ta chưa tắt hẳn lửa lòng;

Nhưng không để mộng tình lay động nàng thêm nữa;

Gây ưu phiền nàng ta chẳng chút cầu mong.

Ta đã yêu nàng âm thầm vô vọng

Khi nghẹn lòng lúc cháy bỏng khát khao;

Ta đã yêu nàng thật chân thành dịu ngọt

Cầu Trời nàng được yêu thế bởi ai nào.

 BÙI HUY BẰNG

Hà nội   02 /2011

BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

 TÔI YÊU EM -Puskin
http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/86463#comments

More...

Em đi tìm anh trên bán đảo Ban Căng - Khổng Văn Đương

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Chuyện tình không biên giới
và bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX

                                                                          

          Chàng là một sinh viên Việt Nam tài hoa với rất nhiều tài lẻ du học tại Rumani những năm 60 cuả thế kỷ XX. Nàng là sinh viên người bản xứ xinh đẹp tóc vàng mắt biếc. Như duyên trời định họ bất ngờ gặp và quen nhau trong một kỳ nghỉ hè bên bờ Biển Đen. Và họ yêu nhau. Tình yêu nồng nàn đắm say của tuổi trẻ dạt dào như sóng biển. Thế nhưng do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ quá khắc nghiệt chàng bị "tổ chức" bắt buộc phải chia tay nàng mà không được tiết lộ với người yêu nguyên do... Bỗng dưng chàng biến mất cô gái đã phát bệnh tâm thần và lang thang đi tìm người yêu ở tất cả những nơi trước đây 2 người đã từng hò hẹn từng chỉ non thề biển... Chàng trai đau khổ đến tột cùng khi phải câm lặng chứng kiến nỗi đớn đau vì bị phụ tình của cô gái trong trái tim mình chàng đã bật lên những lời thơ mà lúc ấy chàng không hề nghĩ rằng nó đã lập tức trở thành những áng thơ tình bất hủ và sau này còn được bình chọn là một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX...

          Rụt rè... vụ kiện đòi nhận bản quyền của "thi phẩm bất hủ"

Hơn 30 năm qua các thế hệ sinh viên VN đặc biệt là SV miền Bắc và những người yêu thơ đã cực kỳ yêu thích bài thơ "Em đi tìm anh trên Bán đảo Ban- căng" một bài thơ tình với những lời thơ nồng nàn da diết: "Em đi tìm anh trên Bán đảo Ban-căng/ Tìm không thấy chỉ thấy trời im lặng/ Một mình em trong màn đêm thanh vắng/ Tim bồi hồi chân bước vội dưới trăng". Chúng tôi đã thuộc đã chép cho nhau truyền tay nhau những câu thơ tình bất hủ mặc dù không biết tác giả là ai nhưng ai cũng nghĩ rằng đó là câu chuyện tình của những chàng trai cô gái châu Âu xa xôi. Cho đến năm 1990 khi NXB Văn hoá cho ấn hành cuốn sách Almanach Người mẹ và phái đẹp trong mục "Những bài thơ tình hay của Việt Nam và thế giới" đã tuyển chọn bài thơ này và ghi rất rõ tác giả là Onga Becgon (một nữ thi sỹ nổi tiếng của nước Nga) thì chúng tôi càng hồn nhiên tin rằng đó là một tác phẩm xuất sắc của thi ca châu Âu mặc dù NXB không ghi rõ ai là dịch giả.

          Thật bất ngờ cuối năm 2004 trong một lần gặp gỡ bạn bè thân thiết ở TP Hồ Chí Minh ra công tác Hà Nội vô tình tôi được tiếp xúc với kỹ sư hóa học Khổng Văn Đương. Thấy chúng tôi nói chuyện văn chương Khổng tiên sinh rụt rè thổ lộ rằng thời trẻ ông cũng từng làm thơ ông có bài thơ "Em đi tìm anh trên Bán đảo Ban-căng" được in trong cuốn Almanach nhưng tiếc rằng NXB lại nhầm là của Onga Becgon. Chúng tôi vô cùng sửng sốt. Nhưng sau khi nghe ông kể lại toàn bộ câu chuyện tình của ông khi còn là chàng SV Việt Nam trên đất Rumani với cô gái người bản xứ tóc vàng bi kịch bị ép buộc phải từ bỏ tình yêu của mình và bức thư oán trách của cô gái đã là khởi nguồn cho bài thơ ra đời thì chúng tôi đã thực sự bàng hoàng kinh ngạc. Và chúng tôi càng kính trọng tác giả của bài thơ hơn khi biết rằng suốt mấy chục năm qua ông đã giữ im lặng hoàn toàn cho dù hàng triệu người yêu thơ cũng như rất nhiều nhà xuất bản nghiễm nhiên coi "đứa con tinh thần" của ông là của người khác. Thấy chúng tôi chân thành khuyên ông nên làm đơn gửi kèm các chứng cứ đến Trung tâm quyền tác giả văn học (thuộc Hội Nhà văn VN) yêu cầu xác minh chứng nhận bản quyền Khổng Văn Đương rụt rè thổ lộ: ngay sau khi cuốn Anmanach do NXB Văn hoá xuất bản ông đã viết một bức thư định gửi cho NXB yêu cầu đính chính nhưng đắn đo mãi đến nay vẫn chưa gửi.

           

Chuyện tình không biên giới của chàng SV Việt

          Khổng Văn Đương sinh năm 1945 tuổi ất Dậu quê ở Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Ông không chỉ học rất giỏi mà còn làm thơ hay. Đến nay ông vẫn còn lưu giữ nhiều bài thơ trong số hơn 100 bài do ông sáng tác từ sáng tác "đầu tay" khi còn là HS phổ thông cho đến khi ông phải "ngửa mặt lên trời than rằng "từ nay ta không làm thơ nữa" và bẻ gãy cây bút vào năm 1969 bởi nỗi lòng đau khổ vì yêu"- theo như ông tâm sự. Năm 1965 ông được Bộ Giáo dục chọn đi học Đại học Hoá học tại trường Đại học Bách khoa Georges Dej Bucarest Rumani. Số phận run rủi hay duyên kỳ ngộ khiến mùa hè năm 1966 khi đi nghỉ mát tại Biển Đen Khổng Văn Đương đã gặp Valentina một cô gái Rumani tóc vàng hạt dẻ mắt xanh cô 17 tuổi học sinh lớp 12.

-Một năm sau vào dịp nghỉ hè năm 1967 Valentina lên nhà ông chú ở Bucarest chơi ngay chỗ tôi đang học. Nàng gọi điện cho tôi đến chơi. Run bắn lên vì sung sướng tôi vội vàng đi gặp nàng. Chúng tôi đã gắn bó với nhau suốt kỳ nghỉ hè. Đó là một thời gian tuyệt đẹp - Khổng tiên sinh bồi hồi nhớ lại. Tình yêu của hai chúng tôi nảy nở tốt đẹp chúng tôi yêu bằng cả trái tim chân thành và trong sáng. Tôi đã cùng người bạn học thân thiết là anh Doanh về thăm nàng tại quê vào mùa đông năm 1967. Hôm đó bão tuyết mịt mùng khi thấy tôi nàng mừng đến nỗi nhảy chồm lên ôm lấy tôi rồi nàng giới thiệu tôi với bố mẹ. Sau đó mỗi lần tôi đến chơi mẹ nàng lại cho lúc giỏ táo lúc trứng gà lúc rượu trái cây. Nhưng tiếc rằng thời điểm đó chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang vào giai đoạn khốc liệt nên chuyện yêu đương của bất cứ một SV Việt Nam nào với người bản xứ đều không được Ban chấp hành Đoàn và tổ chức SV tại Rumani chấp nhận. Tôi bị tổ chức phát hiện bắt làm kiểm điểm và yêu cầu phải chấm dứt quan hệ. Thấy rõ nguy cơ nếu tiếp tục duy trì tình yêu thì sẽ bị trục xuất về nước lúc đó thì gia đình họ hàng dòng tộc chắc không ai thèm nhìn mặt tôi nữa vả lại thâm tâm tôi cũng thấy phần nào có lỗi với các chiến sỹ ta đang chiến đấu ở chiến trường khốc liệt do đó trong một lần đi chơi với Valentina tôi đã đề nghị và quyết định hai chúng tôi phải cắt đứt quan hệ mà không nói lý do thực. Tôi hoàn toàn không ngờ việc đó đã gây ra một hậu quả rất đau buồn đối với nàng. Sau đó khoảng nửa tháng tôi nhận được một lá thư  của Valentina với lời lẽ hết sức bi thiết và oán hận. Xúc động trước tình cảm chân thành tha thiết này tôi đã viết bài thơ "Em đi tìm anh trên bán đảo Bancăng" chỉ trong một buổi chiều. Bài thơ đã phỏng lại gần như toàn bộ nỗi niềm ai oán giận hờn của Valentina thể hiện trong thư nàng và tâm hồn tôi lúc đó cũng vô cùng trơ trọi trống vắng. Một điều hết sức đau khổ nữa là sau cú sốc đó đang là SV trường Đại học Tổng hợp Bucarets Valentina bị ngẩn ngơ đến nỗi phải nghỉ học mất một năm. Còn tôi bị tổ chức tịch thu tập thơ (trong đó có khoảng 50 bài tôi viết cho nàng) cả thư từ ảnh chụp với nàng. Vì vậy tôi đã bẻ bút thề không làm thơ nữa... Và cho đến nay 40 năm trôi qua tôi quả thực không hề làm một câu thơ nào nữa nhưng tôi có thể sẽ công bố một số bài thơ sáng tác lúc còn... chưa bẻ bút...

 Kết thúc có hậu chính từ tình yêu đẹp trong cuộc sống

          -Vậy thời gian sau đó ông có thông tin gì về nàng không?

          -Sau khi về nước công tác tôi vẫn canh cánh trong lòng nỗi niềm và lo lắng cho nàng. Nhưng thật may mắn năm 1979 có dịp đi công tác tại Tiệp Khắc tôi đã hồi hộp tìm kiếm cơ may gặp lại nàng. Đến Tiệp Khắc tôi liền điện thoại tìm nàng. Mấy hôm sau nàng đã cùng chồng và một đứa con có mặt tại Tiệp Khắc thăm tôi. Lúc ấy nàng đang làm việc tại Hội hữu nghị Rumani-Đức. Tôi thật vui mừng khôn xiết vì nàng khoẻ mạnh vẫn xinh đẹp và đã có hạnh phúc gia đình không như tôi vẫn canh cánh lo cho nàng...

          Câu chuyện tình của Khổng Văn Đương quả có một kết thúc có hậu và câu chuyện về bài thơ bị thất truyền của ông cũng đã kết thúc có hậu. Đó là sau khi nghe theo lời khuyên của chúng tôi ông gửi hồ sơ đến Trung tâm Bản quyền của Hội Nhà văn VN Trung tâm đã xác minh và bài thơ "Em đi tìm anh trên Bán đảo Ban-Căng" đã được trả lại tên cho khổ chủ Khổng Văn Đương được cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả.

Nhưng còn một bất ngờ nữa mà chàng thi sỹ từng "bẻ bút rồi ngửa mặt lên trời thề không làm thơ nữa" này không hề ngờ tới đó là khi câu chuyện về tác giả đi tìm lại bản quyền thơ sau gần 40 năm của ông được chúng tôi đăng tải trên một tờ báo lập tức có hàng nghìn bạn đọc ở khắp nơi trong nước và nước ngoài đã gửi thư điện thoại liên hệ với ông và với toà soạn. Nhiều người bạn cùng học biết rõ về ông về hoàn cảnh và xuất xứ bài thơ thì vui mừng vì tìm lại được bạn cũ sau mấy chục năm xa cách còn những người khác là SV cùng thế hệ với ông tại Rumani thuộc bài thơ yêu quý bài thơ nhưng không hề biết mặt tác giả hoặc quên mất tên tác giả dù họ đều biết xuất xứ bài thơ là của một chàng SV Việt sáng tác tại Rumani. Khổng tiên sinh vui vẻ khoe:

-Ông Lâm Quế- nguyên là Bí thư thứ 2 Đại sứ quán VN tại Rumani phụ trách lưu học sinh thời ấy cũng vừa đến thăm và an ủi tôi "Khổng Văn Đương nên coi chuyện cũ là một kỷ niệm...".

          -Thế là nhà hóa học Khổng Văn Đương bỗng nổi tiếng như cồn với tư cách một nhà thơ có tác phẩm bất hủ của thế kỷ?

          -Cuộc đời quả không định trước. Tôi bỗng nhiên gặp các bạn khiến "máu" văn chương nổi lên thế là đem câu chuyện gần 40 năm không ai biết ra kể. Thực ra cũng đã có lúc tôi định gửi thư cho NXB Văn hoá sau khi họ in Amanách nhưng tôi lại sợ không ai tin mình chứ. Khi các bạn khuyên tôi nên gửi đơn đến Trung tâm bản quyền tôi cũng làm theo với suy nghĩ không nhằm đòi hỏi một quyền lợi gì về vật chất mà chỉ mong bất kể ai cũng có thể sao chép vào những mục đích tuyên truyền văn hoá lành mạnh tôi chỉ muốn bài thơ thêm chút thi vị và những bạn yêu thơ có quyền biết về nguồn gốc ra đời của tác phẩm...

                                    

Em đi tìm anh trên bán đảo Ban-căng

                      Khổng Văn Đương

Em đi tìm anh trên bán đảo Ban-căng

Tìm không thấy chỉ thấy trời im lặng

Một mình em trong màn đêm thanh vắng

Tim bồi hồi chân bước vội dưới trăng

Em trèo lên đỉnh núi cao Các-pát

Nhìn theo anh mất hút biết về đâu

Chân ai đi xa lắc tím trời Âu

Dòng nước mắt bỗng trào ra chua chát!

Em lại đến Biển Đen xưa dào dạt

Sóng xô bờ liên tiếp gọi triền miên

Buồn! Chao ôi gió làm em phiêu bạt

Thân cô đơn kinh khiếp cả trăng hiền!

Ôi dòng xanh rầm rì sông Đa- nuýp

Mây trời in lồng lộng giữa dòng sông

Nên ngàn năm êm đềm trôi một nhịp

Chỉ mình em nhức nhối vết thương lòng!


Hỡi trái đất rộng làm chi bao la

Cho loài người chia biên giới thế gian

Cho sa mạc nổi bùng cơn bão cát

Cho tình anh chưa bén đã lụi tàn?


Em xin hỏi Trời cao và Đức Phật

Cõi Niết Bàn có mãi mãi mùa xuân

Đâu trời Tây đâu xa gần cực lạc

Mà trần gian đầy bể khổ trầm luân?


Con lạy Chúa Jêsu ban phép lạ

Cho nước Người hết ly biệt chia phôi

Hai chúng con quỳ trước Người đa tạ

Xin hoà tan làm một ngàn đời!


Em cầu nguyện. Còn anh anh chẳng biết

Trái tim anh sao giá lạnh thờ ơ?

Và hôm nay dù tình anh đã hết

Em vẫn mong vẫn hy vọng vẫn chờ...


Vẫn trèo lên đỉnh cao Các-pat

Vẫn theo dòng Đa-nuýp những đêm trăng

Em lại đến Biển Đen xưa dào dạt

Đi tìm anh trên bán đảo Ban-căng!

                             Bucarest 19-3-1969

More...

Số phận một con người - của Solokhov

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Tóm tắt truyện "Số phận con người"

Gần một năm sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc mùa xuân năm 1946 trên đường đi công tác tác giả gặp Xôcôlốp và anh đã kể cho tác giả nghe về cuộc đời vô cùng gian truân và đau khổ của mình. Chiến tranh bùng nổ anh ra trận để lại quê nhà vợ và 3 con. Sau một năm chiến đấu hai lần anh bị thương nhẹ vào tay và chân. Tiếp đó anh bị bắt làm tù binh bị đày đọa suốt 2 năm trời trong các trại tập trung của phát xít Đức. Lao dịch nhục hình đói rét tử thần đêm ngày đe dọa. Năm 1944 giặc bị thua to trên mặt trận Xô-Đức bọn phát xít bắt tù binh làm lái xe. Nhân cơ hội đó Xôcôlốp đã bắt sống một tên trung tá Đức lái xe chạy thoát về phía Hồng quân. Lúc này anh mới biết tin về vợ và 2 con gái anh đã bị bom giặc giết hại. Anatôli cậu con trai giỏi toán của anh nay đã trở thành đại uý pháo binh Hồng quân. Hai cha con cùng tham dự chiến dịch công phá Beclin sào huyệt của Hitle. Đúng ngày 9/5/1945 ngày chiến thắng một tên thiện xạ Đức đã bắn lén giết chết Anatôli niềm hy vọng cuối cùng của anh.

More...

Mối tình thầm lặng của nhà thơ Garcia Lorca

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 
G. Lorca (5.6.1898-19.8.1936) là một nhà thơ nhà soạn kịch ông còn nổi tiếng là nhạc công và họa sĩ. 

Mùa hè năm 1936 cả nước Tây Ban Nha sững lặng khi nghe tin người con thân yêu của mình - nhà thơ Garcia Lorca - hy sinh lúc ông vừa tròn 38 tuổi. 

More...

Thơ Tuyệt Cú Haikư và Lục Bát - TS. Nguyễn Thị Bích Hải

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

      Ba thể thơ Tuyệt Cú Haikư và Lục Bát đều là thể thơ cách luật ngắn nhất trong văn học dân tộc của Trung Quốc Nhật Bản và Việt Nam. Hẳn là không chỉ ba dân tộc này mới có thể thơ ngắn của mình nhưng ở đây chỉ giới hạn trong phạm vi ba thể thơ này mà thôi..  

    


Trước hết nói về những điểm tương đồng.

     Ngoài cái dấu hiệu quy mô nhỏ đến kinh ngạc của chúng ra ba thể thơ này còn có nhiều điểm giống hoặc gần gũi nhau.

     Về sự hình thành có thể thấy chúng đều có nguồn gốc từ thơ ca dân gian được các nhà thơ sống gần gũi với nhân dân tiếp thu và phát triển để rồi đạt đến đỉnh cao ở các nhà thơ lớn thời trung đại của mỗi dân tộc. Đó là Lý Bạch và Đỗ Phủ ở Trung Quốc Bashô ở Nhật Bản và Nguyễn Du ở Việt Nam. Đương nhiên đó là nhìn đại thể còn con đường hình thành và phát triển của chũng cũng có những sự khác biệt sẽ đề cập đến sau.

     Về mặt tính chất nếu chúng ta chỉ xét lục bát ở cấp độ một đơn vị chỉnh thể tối thiểu tức là một chu kỳ 6 + 8 đủ để làm nên một bài lục bát đơn giản nhất thì cả ba thể thơ tuyệt cú haikư và lục bát đều chủ yếu là thể thơ trữ tình. Nói "chủ yếu" là vì trong quá trình phát triển chúng đều có thể thích dụng với tự sự trào phúng triết lý...

     Cả ba thể thơ này đều có một đặc trưng cơ bản giống nhau: hàm súc cao độ. Điều này như một lẽ đương nhiên và là lý do tồn tại của thể thơ. Bởi vì chúng rất ngắn nếu chúng không có khả năng ngụ ý và gợi ý thì chúng đã chẳng có sức sống lâu bền đến thế. Tiền đề của sự hàm súc là sự ngắn gọn. Trong ba thể thơ dài nhất là tuyệt cú cũng chỉ 4 câu với 28 âm (nếu là thất ngôn tuyệt cú) thứ đến là haikư với 17 âm ngắn nhất là lục bát với 14 âm. Không rõ trên thế giới có thể thơ nào ngắn hơn lục bát nữa không. Quy mô rất nhỏ nếu không nói là cực nhỏ mà điều gửi gắm trong đó gợi lên từ đó lại rất phong phú sâu xa.

"Bên đê cổ tha thướt

Liễu như vòm khói xanh.

Giá mà tơ chẳng đứt

Níu giữ buộc thuyền anh".

(Ung Dụ Chi - Liễu ven sông)

"Dù tan đi vỡ lại

Vầng trăng nới đáy nước

Còn mãi".

(Shiki)

"Qua cầu rút ván tháo đinh

Đó đà ở bạc với mình thì thôi".

(Ca dao)

     Có lẽ không nên phân tích bởi vì mọi sự phân tích sẽ "cố định hóa" nội dung thâm hậu và sức gợi của tác phẩm theo chủ quan của người phân tích làm giảm sự huyền diệu linh lung và khả năng gợi mở vào tâm hồn người đọc của những thế giới tinh tế đến vậy.

     Một điều cũng đương nhiên do tính hàm súc của thể thơ đưa lại khiến chúng gặp nhau ở một điểm có tính quy luật: ở cả ba thể thơ trọng tâm ý nghĩa đều ở cuối. (Có lẽ đây cũng là đặc điểm chung của các tác phẩm có quy mô nhỏ?)

Thơ haikư là thế:

"A sa gao

Chiếc gàu vương hoa bên giếng

Đành xin nước nhà bên".

(Chiyô)

     Hai câu trước chỉ là nền chỉ là giới thiệu bối cảnh để câu cuối thể hiện niềm trân trọng thiên nhiên và cái đẹp.

"Mưa đông giăng đầy trời

Một chú khỉ đơn độc

Cũng mong chiếc áo tơi".

(Bashô

 - Bản dịch của Đoàn Lê Giang)

     Có ba câu ngắn ngủi thôi mà tấm lòng nhân cũng dành cho câu cuối. Câu một là bối cảnh lạng lùng mênh mông. Câu hai Bashô nhìn thấy chú khỉ? Câu ba là chú khỉ nhìnBashô mà "mong chiếc áo tơi". Chú khỉ cô đơn chú khỉ lạnh lùng chú khỉ không nói. Sao Bashô nhận ra? Nhà thơ đã đặt mình vào cảnh ngộ trần trụi giữa mưa đông co ro vì lạnh của chú khỉ mà ngộ ra và "phát biểu" cái mong ước nhỏ nhoi tội nghiệp của sinh linh bé bỏng ấy. Tiếng nói nhỏ nhẹ của haikư đã chở tiếng nói của lòng nhân hậu bao la đến với mọi tấm lòng "tri âm".

Thơ tuyệt cú là thế:

Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mặt đất phủ sương.

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ quê hương.

(Lý Bạch - Tứ đêm lặng)

     Đến nỗi có nhà nghiên cứu tinh thâm về thơ Đường đã nói: "Muốn làm một bài thơ tuyệt cú hay là phải bắt đầu từ câu... cuối". Cũng có thể nói như vậy với Haikư và Lục bát.

     Đành rằng mọi quy luật đều có ngoại lệ thi thoảng cũng có trường hợp phần cuối của bài thơ không hay bằng phần đầu. Chẳng hạn:

Hồ xanh từ thuở chưa hoàn kiếm

Mượn một nơi mà trả một nơi.

Cầm tay mới biết xa Hà Nội

Biết mượn gì đây để ngỏ lời.

(Khuyết danh - Không đề)

     Trong trường hợp này đối với tác giả thì điều muốn nói là ở hai câu sau mà chủ yếu là câu cuối. Còn đối với người đọc thì hai câu đầu đặc biệt là câu thứ hai là rất hay mà hai câu sau khó lòng theo được. Nhưng những trường hợp phần đầu hay hơn là rất hiếm. Nghĩa là nhìn tổng thể thì thơ Tuyệt cú gieo nặng trọng tâm ý nghĩa ở cuối bài. Điều này ta có thể kiểm chứng ở thể thơ Tuyệt cú của Trung Quốc Nhật Bản và ViệtNam. Kể cả thơ cổ và kim. Xin ví dụ một bài Tuyệt cú chữ Hán của một nhà thơ người Nhật:

"Ngọn bút có thần giục sấm vang

Quanh đỉnh Hương Lô khói tía tràn.

Ông trời chẳng tiếc ngân hà nữa

Vì trích tiên trút xuống trần gian

(Thanh Sơn Diên Quang - Lý Thái Bạch ngắm thác núi Lư)

     Và trong thơ hiện đại Việt Nam:

"Sương giăng mờ trên ngõ Tạm Sương

Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm.

Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm

Thương một đời đâu phải Tam Thương".

(Chế Lan Viên - Chơi chữ về ngõ Tạm Sương tức Tạm Thương)

     Xin không nêu dẫn chứng nữa vì vô số bài thơ có thể chứng minh cho luận điểm này.

Vậy còn thơ lục bát?

    Cứ thử lấy ra bất kỳ cặp câu lục bát nào trong hàng ngàn "bài" ca dao mà toàn bài chỉ vẻn vẹn có một câu sáu và một câu tám từ trong một bài thơ gồm nhiều chu kỳ sáu tám thậm chí chúng ta rút ra bất cặp sáu tám nào từ một truyện thơ gồm hàng ngàn cặp sáu tám thì chúng ta cũng hoàn toàn có thể nhận thấy: trọng tâm ý nghĩa bao giờ cũng ở câu tám (tức câu cuối của chu kỳ).

     Câu sáu thường chỉ là bước chuẩn bị cho câu tám. Câu sáu là "đề" câu tám là "thuyết":

"Gió sao gió mát sau lưng

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này".

(Ca dao)

"Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)     

"Gió mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng".

(Nguyễn Bính - Tương tư)

"Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre".

(Nguyễn Du - Tre Việt Nam)

     Như vậy trọng tâm ý nghĩa được dồn vào phần cuối là một đặc trưng thể loại của cả ba thể thơ.

     Còn một điểm tương đồng nữa là trong nền thơ ca của mỗi dân tộc các thể thơ này có thể nói là dễ làm nhưng khó làm được cho thật hay.

     Nhà tiểu thuyết lớn nhất của thời Êđô ở Nhật Bản Ihara Saikaku được gọi là Nimanô (Nhị vạn ông) vì tài làm thơ nhanh. Trong một cuộc thi thơ ông đã đọc hầu như liên tục hơn hai vạn bài Haikư trong khoảng thời gian 24 giờ đồng hồ. Dù con số hai vạn có thể không hoàn toàn chính xác nhưng chắc là Saikaku đã ứng tác rất nhiều bài Haikư liên tục. Có thể do ông có tài ứng tác nhanh nhưng cũng vì thể thơ cho phép người ta có thể sáng tác nhanh nhiều. Đành rằng đôi khi vì quá nhanh quá nhiều nên có thể là cũng ... khó đắt.

     Thể thơ Tuyệt cú cũng để lại những chùm rất sai quả. Chẳng hạn như với một chuyến đường sông. Tiền Hử (thời vãn Đường) hái được một "chùm" "Giang hành vô đề nhất bách thủ". Sau một chuyến hành trình Củng Tự Trân (đời Thanh) có thể cho khắc in một tập thơ 315 bài Tuyệt cú "Kỷ Hợi tạp thi". Trong những chùm thơ hàng trăm bài ấy số bài hay không nhiều.

     Còn ở Việt Nam  Lục bát xuất hiện khắp nơi - trong lời ru trên cánh đồng trên báo tường trên đường phố... (Tất nhiên cũng có nhà thơ chẳng bao giờ "hạ cố" đến lục bát). Gặp trường hợp nào người ta cũng có thể làm lục bát được cả (mà "Bút Tre" là một ví dụ). Nhưng sáng tác được một bài Lục bát hay thật là khó. Ở đây chúng ta tạm chưa giải thích nguyên nhân của hiện tượng này.

     Mặt khác ba thể thơ này cũng có nhiều điểm khác nhau trong đó có sự khác nhau ngay trong những điểm tương đồng.

     Về nguồn gốc điểm chung của chúng ta bắt nguồn từ trong thơ ca dân gian nhưng con đường định hình của chúng lại khác nhau. (Có ý kiến cho rằng có lẽ ở Việt Nam thể thơ lục bát có được từ kết quả giao lưu văn hóa với dân tộc Chăm. Nhưng ở đây tạm thời chưa đủ điều kiện để thảo luận). Tên gọi của các thể thơ này cũng xuất hiện sau trước khác nhau. Cái tên "tuyệt cú" đã được xuất hiện từ đời Lương (502 - 557) cách đây 1500 năm. Thể thơ Lục bát được định danh muộn hơn khoảng đời Hậu Lê. Còn ở Nhật Bản thể thơ 3 dòng 5-7-5 đạt đến đỉnh cao ở thế kỷ XVII với Bashô nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIX mới được nhà thơ Shiki định danh là Haikư. Thực ra nguồn gốc con đường phát triển định hình và định danh rồi lại phát triển của ba thể này là đối tượng những công trình nghiên cứu công phu tường tận. Chẳng hạn như thể thơ Lục bát ở ta quá chừng quen thuộc nhưng nguồn gốc của nó cũng còn nhiều ý kiến tranh luận.

     Nguồn gốc con đường phát triển  khác nhau của ba thể thơ này cũng phản ảnh vị trí số phận của chúng trên văn đàn của mỗi dân tộc cũng như ảnh hưởng của chúng đến văn học các dân tộc khác.

     Trong thơ ca của ba dân tộc Trung Quốc Nhật Bản Việt Nam ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng nhưng ảnh hưởng của chúng đối với thơ ca các nước ngoài thì rất khác nhau.

     Hình thành từ rất sớm (thế kỷ VI) lại theo con đường ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến các nước láng giềng "đồng văn" thơ Tuyệt cú được các nhà thơ Nhật Bản Việt Nam tiếp thu từ rất sớm (cả ở Triều Tiên nữa nhưng hiện tại chúng tôi chưa có tài liệu nên chưa tìm hiểu được thời điểm) có thể nói là ngay từ buổi đầu xây dựng nền thơ ca dân tộc. Nhật Bản từ thế kỷ thứ VII đã xuất hiện thơ Tuyệt cú bằng chữ Hán và cho đến thế kỷ XIX thơ Tuyệt cú vẫn chiếm tỷ lệ rất cao trong thơ chữ Hán của người Nhật. (Chẳng hạn trong cuốn "Nhật Bản Hán thi hiệt anh" có 1451 bài thơ thì thơ Tuyệt cú có đến 906 bài chiếm tỉ lệ 61%. Đành rằng đây chỉ là tuyển tập nên tỉ lệ có thể chưa hoàn toàn trùng với tỉ lệ trong thực tế nhưng tuyển tập thường vẫn có tính chất tiêu biểu nên chắc cũng phản ánh gần đúng thực tế). Ở Việt Nam trong văn học viết thơ Tuyệt cú cũng rất phổ biến. Trong thơ Lý - Trần tức là thơ chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán thơ Tuyệt cú chiếm tỉ lệ rất cao (nếu không nói là áp đảo). Đến các thời kỳ sau tỉ lệ luật thi và thơ cổ thể có thể tăng lên nên tỉ lệ thơ Tuyệt cú không cao như ở thời kỳ đầu. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX khi mà ảnh hưởng của thơ Trung Quốc ở Việt Nam giảm đi thì thơ Tuyệt cú lại là thể được các nhà thơ Việt Namthường sử dụng nhất trong các thể thơ ngoại lai. Hầu như các nhà thơ lớn đều có sáng tác thơ Tuyệt cú. Người Việt Nam  cũng thường làm thơ Tuyệt cú bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ngay cả trong nhiều bài thơ dài được chia làm nhiều khổ 4 câu thì từng khổ ấy cũng mang dáng dấp của bài thơ Tuyệt cú. (Chẳng hạn Đây mùa thu tới Thơ Duyên Tràng giang Đây thôn Vĩ Dạ ...). Điều này ít gặp trong thơ trường thiên Trung Quốc.

     Thơ Haikư thì cho đến thế kỷ XIX trước Minh Trị duy tân chủ yếu chỉ được lưu hành trên đảo quốc Phù Tang. Nhưng cuối thế kỷ XIX sang thế kỷ XX theo đà phát triển của kinh tế xã hội Nhật Bản cùng với sự tiêu dùng hàng hóa Nhật Bản thể thơ Haikư cũng được nhiều nhà thơ nước ngoài biết đến và nhiều người đã tiếp thu thể thơ này. Ngày nay ảnh hưởng của thể thơ haikư đã vươn đến nhiều nơi trên thế giới. Có lẽ chưa có thể thơ nào có cái vinh dự được phổ biến rộng rãi ở nhiều kinh tuyến như thơ Haikư.

"Nằm bệnh giữa cuộc lãng du      

Mộng hồn còn phiêu bạt

Những cánh đồng hoang vu".

(Bản dịch của Đoàn Lê Giang)

     Đây là bài thơ Bashô làm trước khi qua đời. Có lẽ vì nhà thơ quá yêu cuộc đời quá yêu đất nước và con người nên muốn đong đầy tâm hồn mình mọi hình ảnh của xứ sở Phù Tang. Có lẽ trong lần "Nằm bệnh giữa cuộc làng du" này Bashô đã linh cảm được rằng bước chân mình không còn lãng du được nữa nên gửi đến "những cánh đồng hoang vu" mà mình chưa kịp đến tấm "mộng hồn phiêu bạt" của mình chăng? Như vậy dù Bashô không thể đến nhưng nhà thơ đã gửi hồn mình gửi thơ Haikư đến với muôn nơi đến với muôn đời.

     Đành rằng do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc thơ Haikư khi bước vào thi đàn các nước đã có sự biến đổi đáng kể có thể không còn là 17 âm như trên quê hương của nó nhưng sự kiệm lời và kiểu cấu tứ thì vẫn được tôn trọng.

     Trong khi thơ Tuyệt cú chỉ lan tỏa đến những nước "đồng văn"  tức là những nước đã có thời dùng chữ Hán và ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính thì thơ Haikư lan tỏa xa rộng hơn nhiều; còn thơ Lục bát vẫn chưa vượt được lũy tre xanh Việt Nam. Sự khác biệt về khả năng và phạm vi ảnh hưởng của ba thể thơ này là do nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân về sự phát triển kinh tế xã hội. Nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản vẫn là do đặc điểm về cách luật của ba thể thơ này và đặc điểm ngôn ngữ dân tộc. Tuy cùng là thơ cách luật nhưng trong ba thể thơ này mức độ chặt chẽ của cách luật có khác nhau. Có lẽ cách luật của thơ Lục bát là chặt chẽ nhất cách gieo vần cũng phức tạp hơn. Mặc dù có chấp nhận biến thể nhưng về cơ bản là cặp câu Lục bát luôn đòi hỏi gieo vần bằng gần như là thuần âm lại phải gieo cả vần lưng và vần châu. Điều này khiến Lục bát không thể "vào" được các nền thơ của ngôn ngữ đa âm và không có thanh điệu. Thơ Tuyệt cú có nhiều dạng (10 dạng) trong đó loại "cổ tuyệt cú" tương đối tự do hơn nhưng dù là dạng nào cũng phải gieo vần. Còn Haikư với ngôn ngữ liên âm không có thanh điệu dễ được tiếp nhận hơn ở các ngôn ngữ Ấn Âu và điều quan trọng hơn là nó có thể gieo vần hoặc không. Với đặc điểm "dễ dãi" về hình thức ấy thơ haikư dễ "nhập cảnh" hơn nhiều so với Tuyệt cú và Lục bát.

     Một nhà phê bình người Pháp đã nhận xét về thơ Haikư rằng:

"Sự ngắn gọn của haikư không phải là vấn đề hình thức. Haikư không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn mà là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình" (Chuyển dẫn từ: Nhật Chiêu - Thế giới thơ Haikư. Tạp chí Kiến thức ngày nay số 1).

Vậy là ở đâu có một "sự tình vắn tắt" cần tìm cho mình một "hình thức vừa vặn" thì người ta có thể tìm đến haikư bằng chính hình thức ngôn ngữ của mình. Có nghĩa làHaikư đã truyền đi xa cái "thần" của hình thức (chứ không phải bản thân hình thức cố định của nó); nó có thể "vừa vặn" với những ngôn ngữ khác. Ngay ở Trung Quốc ViệtNam nơi đã có Tuyệt cú và Lục bát thì Haikư vẫn được hoan nghênh. Có người nghĩ rằng người Trung Quốc có tính tự đại e rằng không chịu tiếp thu. Không phải thế người Trung Quốc rất chịu khó tiếp thu văn hóa ngoại lai. Ngay cả thể thơ Sonnet của Châu Âu cũng được người Trung Quốc học tập. Không ít nhà thơ Trung Quốc đã làm thơ theo kiểu Haikư (như Hồ Thích Băng Tâm...). Thơ Haikư đến Việt Nam khá muộn nhưng ai đã tiếp xúc với Haikư cũng trọng nể thể thơ này. Có người Việt đã làm thơ ba câu lục bát lục (vị chi là 20 âm-hiện tượng này trong ca dao trước kia đã có những rất hiếm). Và ngày nay cũng có nhiều người Việt Nam làm thơ theo kiểu Haikư. Phải chăng đây là một hiện tượng tiếp thu tự phát Haikư trên cái nền Lục bát?

 

     Có một sự khác biệt rõ nữa giữa hai thể thơ Tuyệt cú Haikư với thể Lục bát. Ở điểm này thì ưu thế lại thuộc về Lục bát. Lục bát ở hình thức tối thiểu của nó chỉ là một cặp hai câu 14 âm vẫn hoàn toàn có thể tự thành một đơn vị tác phẩm như hàng ngàn "bài" ca dao chúng ta thường gặp. Nhưng do đặc điểm vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng của nó lục bát còn có khả năng "lắp ghép" để thành một bài thơ trường thiên như: "Lỡ bước sang ngang" hoặc lắp ghép với thể thơ song thất lục bát rồi các chu kỳ song thất lục bát lại được lắp ghép làm thành những khúc ngâm trường thiên như Chinh phụ ngâm Cung oán ngâm ... Đặc biệt người ta có thể viết truyện thơ bằng cách lắp ghép hàng ngàn (hoặc vô số) cặp câu Lục bát lại. Khả năng "sinh nở" lắp ghép này không thấy có ở Tuyệt cú và Haikư. Người ta có thể sáng tác liền một hơi hai vạn bài Haikư nhưng không thành một truyện thơ. Người ta có thể sáng tác từng chùm cú xoay quanh một chủ đề như "Hí vi lục tuyệt cú" của Đỗ Phủ  "Luận thi thi" của Triệu Dực chùm 100 bài "Giang thành vô đề nhất bách thủ" chùm 315 bài "Kỷ Hợi tạp thi" của Củng Tự Trân nhưng cũng không phải là truyện thơ. Nghĩa là thơ Haikư và Tuyệt cú không lắp ghép được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng lắp ghép các chu kỳ Lục bát thành truyện thơ mà trong phạm vi bài này tạm chưa giải thích nhưng chúng tôi nêu hai nguyên nhân có thể coi là cơ bản: một là khả năng "sinh nở" bằng cách lắp ghép của thể thơ lục bát (người Việt vốn có năng khiếu "lắp ghép"); một nữa là nhu cầu sáng tác những câu chuyện (tiểu thuyết) trường thiên nhưng ở thời trung đại trong văn học Việt Nam thể tài văn xuôi tự sự bằng chữ Nôm chưa kịp phát triển. Người ta bèn dùng hình thức văn vần để sáng tác truyện. Một điều thú vị là những truyện thơ đầu tiên của người Việt lại không bằng thơ Lục bát mà bằng thể thơ Đường luật như "Truyện Vương Tường" "Tô Công phụng sứ". Nhưng những thử nghiệm ấy đã không thành công. Chứng cớ là sau đó không ai làm theo lối ấy nữa và những tác phẩm ấy chỉ được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong văn học sử chứ không được lưu truyền rộng rãi về sau. Lục bát được thử nghiệm trong diễn ca lịch sử trong truyện Nôm bình dân thành công rồi các nhà thơ lớn cũng dùng nó để viết truyện thơ.

     Trong ba thể thơ Tuyệt cú Haikư và Lục bát chỉ có Lục bát được dùng để sáng tác tác phẩm tự sự trường thiên. Đó là cái năng lực kỳ diệu khả đoản khả trường khả thân khả xúc co giãn tùy nhu cầu của thể Lục bát. Thế rồi đôi khi người ta rút từng cặp sáu tám ra nó vẫn có thể đứng độc lập có nghĩa được.

Chẳng hạn:        

"Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng".

"Mấy người bạc ác tinh ma

Mình làm mình chịu kêu mà ai thương"

(Truyện Kiều)

"Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

(Nguyễn Du-Truyện Kiều)

"Trai thì trung hiếu làm đầu

Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình"

(Nguyễn Đình Chiểu - Lục Văn Tiên)

     "Khắc xuất khắc nhập" được thế kể cũng kỳ diệu thật. Có so ra mới thấy cái sở trường kỳ diệu của lục bát xin đừng vì nó quá gần gũi quá quen thuộc mà coi thường.

     Phải chăng khả năng này có quan hệ họ hàng với truyền thống "câu thơ đôi" trong văn học Nam Á và Đông Nam Á? Câu trả lời xin đợi các nhà chuyên môn. Và phải chăng truyện thơ Nôm là một hợp thể giữa hai truyền thống văn hóa Đông Nam Á và Nam Á trên cơ tầng văn hóa Việt Nam? Chứng minh và giải thích giả thiết này có lẽ không phải là công việc của một công trình hay của một người. Rất mong lời giải đáp của các chuyên gia.

     Ba thể thơ Tuyệt cú Haikư và Lục bát với tư cách là ba thể thơ ngắn nhất của ba dân tộc láng giềng. Chúng đã và đang có vị trí quan trọng trong nền thơ ca của mỗi dân tộc. Mỗi thể có ưu điểm và lý do tồn tại phát triển của mình. Nhưng chúng có ảnh hưởng qua lại gì với nhau không? Nếu có thì ở những điểm nào? Và tương tác như thế nào? Đó cũng là vấn đề còn để ngỏ cần được nghiên cứu thêm.

     Cuối cùng  xin lại nói về một điểm tương đồng của ba thể thơ này cái điểm tương đồng đã là điểm xuất phát để chúng tôi nhận thấy cần có bài viết mang tính phác thảo này. Đó  là: ba thể thơ này đều có vị trí quan trọng trong nền thơ ca Trung Quốc Nhật Bản và Việt Nam mà chúng vẫn đang dồi dào sức sống và chúng tôi tin rằng chúng cũng sẽ là những thể thơ quan trọng đối với nền thơ ca của ba dân tộc trong tương lai. Tất nhiên chúng sẽ có những bước phát triển và biến đổi ít nhiều. Biến đổi chứ không biến mất. Điều này do nhiều lẽ nhưng có mấy lẽ cơ bản: trong nền văn minh hiện đại văn chương càng cần sự hàm súc. Những áng thơ văn trường thiên tất nhiên có vị trí quan trọng nhưng những thể tài có quy mô nhỏ mà lại đầy sức gợi hẳn vẫn được ưa chuộng vì nó đáp ứng được nhu cầu của nhiều lớp người ở nhiều trình độ khác nhau và tất cả đều hoạt động với tốc độ cao.

     Điều này cũng diễn ra ở các thể tài tự sự. Những cuộc thi truyện ngắn và cực ngắn ở một số nước trên thế giới trong đó có Trung Quốc Việt Nam nhắc ta nhớ đến những tác phẩm "chí quái" "chí nhân" thời Lục Triều hay truyện ngắn bằng "nắm tay" của Nhật Bản. Cho đến thế kỷ XX rồi XXI người Nhật Bản vẫn tổ chức thi và bình thơ Haikư. Ở Trung Quốc từ những bài ca hai ba câu vườn dài đến Ly Tao Khổng Tước Đông Nam phi lại trở về những bài thơ chỉ 13 hay 15 âm thơ Trung Quốc tìm được thể Tuyệt cú 20 âm. Từ một cặp Lục bát 14 âm người ta lắp ghép để thành truyện thơ hàng ngàn câu. Rồi truyện thơ nhường bước cho văn xuôi hiện đại Lục bát được các nhà thơ dùng để thể hiện những nỗi "tương tư" những nỗi "ngậm ngùi". Rồi nó co lại trở về với dạng nguyên thủy tối thiểu trong thơ dân gian hiện đại mà thơ "Bút Tre" là một hiện tượng đáng chú ý. Chắc có người sẽ buồn cười vì nhắc đến "Bút Tre" sau khi nhắc đến những Nguyễn Du Nguyễn Bính Nguyễn Duy... Nhưng có lẽ hiện tượng "Bút Tre" cũng cần được nghiên cứu. Nó là một hiện tượng "nhại" lục bát. Nhưng nếu như với Đôn-ki-hô-tê Xec-van-tetx đã "nhại" đồng thời khai tử cho tiểu thuyết kỵ sĩ thì "Bút Tre" "nhại" lục bát lại thôi thúc lục bát đổi mới để tìm đường. Nguyễn Duy chẳng xuất hiện sau "Bút Tre" sao? Mà rồi lục bát kiểu "Bút Tre" cũng không bị diệt chủng. Thể thơ ấy khả đoản khả trường co giãn thoải mái thâm thúy cao sang cũng được mà dí dỏm tinh nghịch cũng được. Nó nghiêm cẩn trang nhã mà cũng dễ dãi bao dung.

     Sự vận hành của các các thể loại xem ra cũng mang ít nhiều ý vị "chu nhi phục thủy" của dịch đạo.

     Những thế giới nghệ thuật nhỏ xinh tinh tế chứa đựng những điều ngụ ý và gợi ý sâu xa của tuyệt cú haikư và lục bát không chỉ là kỳ diệu trong quá khứ mà có lẽ vẫn là những thế giới lung linh mời gọi ở tương lai.

Chú thích

 (*) Người viết tạm dịch từ bài thơ chữ Hán của một nhà thơ Nhật Bản. Bài tuyệt cú này in trong sách "Nhật Bản Hán thị hiệt anh" do Vương Phúc Tường Uông Ngọc Lâm Ngô Hán Anh tuyển biên (Ngoại ngữ giáo dục dữ nghiên cứu xuất bản xã Bắc Kinh 1995 tr.501)

Thanh Sơn Diên Quang (1808-1871) là một nh&agr

More...

Lời tự đề tựa có một không hai

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Nhà thơ Raxun
Gamzatốp.

Đó là lời tự giới thiệu cho tập thơ "Những ngôi sao xa" của nhà thơ Raxun Gamzatốp giải thưởng Lênin năm 1963 về văn học nghệ thuật của Liên Xô.


Raxun Gamzatốp sinh năm 1923 ở Đaghextan người Ava bắt đầu được in thơ từ năm 1937 các tập thơ chính: "Mùa xuân Đaghextan" (1955) "Năm tôi sinh" (1950 Giải thưởng quốc gia) "Trái tim tôi trên núi" (1959) "Những ngôi sao xa" (1962)... Raxun Gamzatốp còn viết văn xuôi trữ tình trong đó có tập "Đaghextan của tôi" nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt làm say lòng cả một thế hệ yêu văn chương ở Việt Nam từ ba chục năm trước. Ông cùng với Aimatốp người Kighixtan là hai nhà văn dân tộc ít người mà lại có vị trí hàng đầu trong văn chương Xôviết (1917-1991). Khi Liên bang Xôviết sụp đổ một số giá trị văn hóa được nhìn nhận lại nhưng tên tuổi của Aimatốp và Raxun Gamzatốp thì không hề bị suy chuyển thậm chí còn được đánh giá cao hơn trước bởi giá trị đích thực của nó.

Chúng tôi xin giới thiệu toàn văn lời tự giới thiệu đặc biệt độc đáo cho tập thơ "Những ngôi sao xa" của Raxun Gamzatốp.

Cùng bạn đọc

Chào bạn đọc thân mến của tôi! Hôm nay một lần nữa tôi lại đến với anh. Trước khi bước vào nhà anh tôi đứng bên cửa cẩn thận soát lại tất cả xem có để quên cái gì cần thiết ở nhà không. Tôi lần giở từng trang sách của tôi như lần giở từng trang sách cuộc đời tôi đã sống. Đó là những năm tháng khác nhau như rất khác nhau các tình cảm suy nghĩ quan sát và vui buồn của tôi.

Có nhiều người luôn nghĩ về quá khứ một cách đau buồn và ảm đạm. Ở họ hiện tại và tương lai cũng thường đau buồn ảm đạm như thế. Có nhiều người luôn nghĩ về quá khứ một cách trong sáng đẹp đẽ. ở họ hiện tại và tương lai cũng thường trong sáng và đẹp đẽ như thế. Nhưng cũng có người quá khứ vừa vui vừa buồn vừa trong sáng vừa đen tối; và đối với họ tình cảm suy nghĩ về hiện tại và tương lai cũng khác nhau. Tôi thuộc vào loại người này.

Không phải bao giờ đường tôi đi cũng bằng phẳng cũng như năm tháng đời tôi không phải bao giờ cũng thuận lợi. Tôi và anh bạn đọc cùng thời của tôi chúng ta đang sống giữa trung tâm thế kỷ giữa trung tâm thế giới trong lòng cơn xoáy của các sự kiện lớn - vui và buồn đẹp và xấu cao cả và đê tiện. Mỗi chấn động trên trái đất có thể nói đó là chấn động trong trái tim của nhà văn. Cái buồn cái vui của cuộc sống không thể đi qua hững hờ trước con mắt của người nghệ sĩ. Đó không phải là vết chân trên tuyết xốp mà là vết khắc trên đá. Và bây giờ tôi tập hợp làm một tất cả các bằng chứng về quá khứ và suy nghĩ về tương lai của tôi tôi đến đây đứng trước cửa nhà anh và nói: "Tôi đây chào người bạn tốt bụng của tôi! Hãy mở cửa cho tôi vào nhà anh!".

Thú thật lúc đầu tôi muốn - và người khác cũng khuyên tôi thế - đến với anh không phải chỉ mình tôi thế này mà định cử đi trước tôi một người nào đấy trong số những người có thể giới thiệu tôi với anh và bằng cách ấy sẽ chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc gặp gỡ của chúng ta. Hay nói một cách khác một nhà phê bình nào đấy sẽ viết lời giới thiệu cho tập thơ của tôi dưới một cái tên đại khái như "Về cuộc đời và tác phẩm của Raxun Gamzatốp". Anh ta sẽ phân tích cho anh biết rõ tất cả mọi động cơ nguồn cảm hứng mọi ngóc ngách cũng như mọi cái gốc cái ngọn của thơ tôi sẽ giảng giải kỹ lưỡng cái bài hát không lấy gì làm phức tạp lắm của đời tôi. Anh ta cũng sẽ biện bạch che giấu hộ mọi cái xấu của tôi là phẳng những nếp nhăn trên trán tôi vân vân... Nghĩa là nói chung anh ta sẽ giải phóng tôi khỏi cái công việc khá vất vả là viết lời giới thiệu cho tác phẩm của chính mình. Đúng quả là bất tiện khi tác giả phải kể về bản thân về cuốn sách của mình với người khác. Nhưng biết làm thế nào? Nếu điều đó là cần thiết thì theo tôi thà tự mình làm còn hơn gửi một bà mối hay một người trung gian nào đó đến ve vãn bạn đọc. Bởi vì còn ai nếu không phải là tôi biết rõ lưng của tôi đang ngứa chỗ nào mà gãi?

Theo phong tục của người miền núi chúng tôi khi nhà có khách chủ nhà có quyền đề nghị nâng cốc ba lần nhiều khi không đơn thuần chỉ để uống rượu mà còn để nói những điều không nói được trong những dịp khác. Chiếc cốc trong tay là một cái cớ tốt để làm điều đó. Thưa bạn đọc thân mến bây giờ tôi đang có cái cớ ấy. Tôi muốn nói với anh những gì tôi mang nặng trong tim lâu nay. Tôi sẽ đứng một chân để chỉ nói những điều quan trọng nhất.--PageBreak--

Trong ba lần được nâng cốc cốc đầu tiên tôi muốn nâng cốc chúc sức khỏe của anh bạn đọc thân mến vì sự tốt bụng và lòng tin của anh vì tình bạn và sự nâng đỡ của anh. Ngay từ khi tôi còn trẻ anh đã có một cách nhìn rất bao dung nhân ái đối với những bước đi ban đầu còn bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm của tôi. Anh nói: "Này anh chàng miền núi trong thơ anh không phải không có một cái gì đấy!". Và sau này khi anh vẫn thấy được cái gì đấy trong thơ tôi trên mặt anh đã xuất hiện nụ cười khích lệ mắt anh để lộ niềm tin. Còn khi cái gì đấy bất chợt mất đi hoặc trở nên hiếm hoi anh cũng không phẩy tay thất vọng mà vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Vào cái thời bắt đầu ấy vì hai câu thơ hay anh đã tha thứ cho tôi mười câu dở nhưng dần dần tôi trưởng thành anh đã yêu cầu ngược lại. Không không phải anh muốn tôi trở thành một nhà thơ lớn một nhà thơ vĩ đại. Anh chỉ không muốn tôi bé nhỏ và yếu ớt mãi. Anh bắt buộc tôi phải thành người lớn cứng cáp.

Bây giờ tôi chuyển sang đứng chân thứ hai nâng cốc và nói đôi lời về những người đã làm quen tôi với anh về những người bạn mà thiếu họ sẽ không có cuộc gặp gỡ này của chúng ta cho dù chúng ta có gặp nhau nhưng rồi cũng buộc phải chia tay người nọ không hiểu người kia. Bởi vì thiếu bản dịch đối với anh thơ của tôi chỉ là những âm thanh vô nghĩa của một ngôn ngữ xa lạ. Thế giới quanh ta tràn đầy những âm thanh và tiếng động khác nhau - tiếng khóc của đứa trẻ mới sinh tiếng mưa rơi trên núi tiếng chim hót trong rừng. Thậm chí cả những tảng đá những dòng sông ngọn gió cũng có giọng nói riêng của mình. Nhưng những âm thanh ấy tự mình chưa phải là thơ chưa nói đến những khái niệm khác như tư tưởng hình ảnh cấu trúc v.v...

Nhưng may thay trên đời có những con người kỳ diệu. Họ xuất hiện và làm nên cái điều kỳ diệu là đưa tôi một nhà thơ miền núi ra con đường lớn của thơ ca và nói: "Ê hãy lắng nghe thơ anh ta! Anh ta viết bằng tiếng Ava và chúng tôi đã dịch ra tiếng của các anh!"...

Còn bây giờ thưa các bạn đọc thân mến của tôi trước khi nâng cốc lần thứ ba tôi xin được phép ngồi xuống và mời anh cùng ngồi cạnh chú ý lắng nghe. Tôi sẽ kể đôi lời về tôi và dân tộc tôi. Đúng hơn không phải kể mà chỉ nhắc lại những gì tôi viết nhiều năm trước. Vâng mời anh lắng nghe nó được gọi đơn giản như tôi đã nói.

Đôi lời về bản thân

Ở làng Xôpera Đaghextan - một làng nổi tiếng về những người giỏi đi trên dây - ngày sinh là ngày đầu tiên cậu bé được đi trên dây. Còn ở làng Cubasi của những người thợ mỹ nghệ vàng bạc nổi tiếng sinh nhật là ngày cậu bé mang lại cho bố tác phẩm đầu tiên của mình - chiếc đĩa bạc được khắc những hình hoa văn tinh xảo. Và chỉ lúc ấy người bố mới kêu lên sung sướng: "Thế là cả nhà tôi cũng sinh con trai!".

Về những người không có ước mơ và tài năng không mang lại lợi ích cho người khác bằng lao động của mình không có tình bạn chân thật không dám nghĩ tới chiến công ở miền núi chúng tôi người ta thường nói: "Ông ta sống đến bạc đầu nhưng vẫn chưa sinh ra trên trái đất!".

Bây giờ tóc tôi có chỗ đã ngả màu nhưng thực tình tôi cũng khó nói được chính xác: Tôi đã sinh lúc nào?

Có thể lúc tôi lên mười một tuổi chưa biết cưỡi ngựa nằm trên mái nhà và viết bài thơ đầu tiên.

Tôi cũng không biết lúc nào bố tôi một người nghiêm khắc ít khen con cái đã tự nói với mình: "Và thế là cả nhà tôi cũng sinh con trai!". Hay có thể bố tôi chết đi mà vẫn chưa kịp nói điều đó?

Tôi - con của một dân tộc nhỏ nhưng kiêu hãnh về số dân như người ta vẫn nói cả dân tộc tôi có thể nằm gọn trong lòng bàn tay. Chỉ hai mươi lăm nghìn người Ava trên trái đất! Những đỉnh cao mây phủ khắc nghiệt của vùng núi chúng tôi đã sinh ra những con người có trái tim đại bàng. Đời này qua đời khác dân tộc tôi hát mãi những bài ca kỳ diệu về các anh hùng dũng cảm. Bị dồn vào một vùng núi hẻo lánh dân tộc tôi luôn phải đấu tranh chống đủ các loại xâm lược và áp bức. Chính vì vậy mà có câu tục ngữ: "Người Ava sinh trên yên ngựa". Từ rất trẻ con trai của dân tộc tôi đã phải cầm vũ khí trong tay ít khi được buông xuống cầm bút. Nhưng tôi may mắn được sinh ra vào lúc người Ava chúng tôi có thể yên tâm treo dao găm lên tường không còn lo kẻ thù bất ngờ kéo đến. Tổ quốc của chúng tôi đã trở thành đất nước Xôviết vĩ đại. Bố tôi - nhà thơ nhân dân Đaghextan Gamzát Xađáx - đã viết những bài thơ hay nhất về nó. Và cùng với số phận vĩ đại của nó là thơ của tôi nỗi buồn và niềm vui của tôi.

Vì vậy bây giờ thưa bạn đọc thân mến tôi xin nâng cốc chúc mừng Đaghextan chúc mừng đất nước Xôviết vĩ đại của tôi chúc mừng ngôi sao năm cánh trên áo người Ava năm 1917 người hôm nay đã nối tôi với anh với thời đại với thế giới.

Cuộc đời của tôi chẳng có gì nổi bật hoàn toàn giống cuộc đời của những người đồng hương cùng thời nhưng tôi không muốn thơ của tôi giống thơ của các nhà thơ bè bạn khác. Mong sao cuộc đời của chúng ta chung và giống nhau như con đường quốc lộ nhưng thơ của mỗi người khác nhau như những lối mòn trên núi...

Người ta vẫn nói: "Hãy coi chừng anh chàng Ava nào lúc đầu từ chối không ăn nhưng sau bỗng nhiên lại ngồi vào bàn!". Vâng quả đúng thế. Một khi đã cầm lấy đàn thì cứ muốn chơi mãi. Lúc đầu tôi chỉ định viết mấy lời thế mà bây giờ dòng này tiếp dòng khác một chốc đã thành một lời nói đầu không ngắn. Nhưng đừng lo tôi xong rồi đây. Bây giờ đến lượt anh thưa bạn đọc thân tôi đã nói hết những gì muốn nói.
Nguồn: cand.com.vn

More...

Nhà văn lỗ Tấn và truyện ngắn Thuốc

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

         
                                              Nhà văn Lỗ Tấn

       1.Trung Quốc vốn là một đất nước có truyền thống văn hoá lâu đời có những thời kỳ  đạt đến đinh cao của văn minh nhân loại (Đời Đường).  Nhưng Trung Quốc "đi trước về sau" chế độ phong kiến kéo dài cùng với sự xâm lược và chia cát của các nước đế quốc (Nga Nhật Anh Pháp Đức ...) đã biến Trung Quốc thành một nước nửa phong kiến nửa thuộc địa ốm yếu què quặt lạc hậu và ngày càng lụn bại. 
           Trong hoàn cảnh ấy tuyệt đại bộ phận nhân dân Trung Quốc lại ngu muội lạc hậu.  Trình độ về mọi mặt giữa Trung Quốc và các nước phương Tây  có sự chênh lệch cực lớn. Tuy nhiên cũng có một bộ phận nhân dân Trung Quốc đứng dậy đấu tranh song mọi cuộc vận động và phong trào cách mạng diến ra trong suốt thời kỳ cận hiện đại đều lần lượt thất bại.  (Cách mạng Tân Hợi(1911) tuy có lật đổ triều đình Mãn Thanh đưa lại cho đất nước một cái tên mới là "Trung Hoa dân quốc" song tổ chức nền tảng của XH không đổi "thay thang mà không thay thuốc").  XH Trung Quốc vẫn là một "con bệnh trầm trọng" cần phải có một liều "thuốc"mới để chữa trị.

 2.  Lỗ Tấn (1881 - 1936) là một trong những nhân vật đi tiên phong tìm mọi cách để giúp cho đất nước Trung Quốc thức tỉnh tiến kịp trào lưu tiến bộ của nhân loại. Thời kỳ đầu ông chưa phải là người cộng sản tuy vậy   trước những thất bại liên tiếp của các cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc thời cận đại ông vẫn tin tưởng có một ngày nhân dân Trung Quốc sẽ tìm ra con đường tự giải phóng ( đường là gì? Là dẫm mãi chân lên chỗ không có đương mà thành là phát quang chỗ lắm gai góc mà mở ra.  Trước kia vốn đã có đường sau này mãi mãi cũng phải có đường -  Con đường của sự sống).

           Với niềm tin như thế Lỗ Tấn hăm hở  đi vào các ngành khoa học tự nhiên vì nghĩ rằng khoa học tự nhiên có thể giúp Trung Quốc xoá bỏ tình trạng nghèo nàn lạc hậu.  song sau lần xem phim ở trường Đại học y khoa Tiên Đài tại Nhật bản thấy cảnh người Trung Quốc bị lính Nhật chặt đầu để uy hiếp mà những người Trung Quốc đứng quanh đó vãn thờ ơ ông giật mình mà nghĩ rằng "dân mà ngu muội hèn nhát thì  dù thân thể có khoẻ mạnh cũng chỉ có thể làm thứ người mà người ta đưa ra chém đàu thị chúng và là thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị thế kia mà thôi" nên trước hết phải biến đổi tinh thần của họ mà muốn vậy không gì bằng văn nghệ.  Và thế là ông bỏ học y mà chuyển sang hoạt động văn nghệ.

  Bởi động cơ hoạt động văn nghệ trong thời kỳ đầu là vậy nên ở các tác phẩm thời kỳ này ông đều chọn những con người bất hạnh trong xã hội bệnh tật làm đối tượng miêu tả với mục đích lôi hết bệnh tật của họ ra làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa.  Ngòi bút của ông thường lạnh lùng song ẩn sau đó là một tấm lòng nhan hậu một niềm thương xót bao la của người cầm bút đối với những con bệnh.

3.  Truyện ngắn Thuốc trước hết phê phán tập quán chữa bệnh phản khoa học (dùng bánh bao tẩm màu người để chữa bệnh lao -  một trong những biểu hiện của tình trạng mê muội của nhân dân Trung Quốc trong xã hội cũ (Dầu rằng Trung Quốc cũng là đất nước có nền y học cổ truyền nổi tiếng).  Ngay bố của Lỗ Tấn cũng con nhà quan mà cũng phải chết bởi uống phải những vị vị thuốc vớ vẩn của các thầy lang băm: "mía chịu sương ba năm" "dế một đôi -  đúng một đôi". . . Lỗ Tấn học y cũng vì mong muốn sau này chữa bệnh cho dân để họ không còn phải chết oan nhưn bố ông.  Lỗ Tấn đã hoà lệ đã mang những đau xót của chính mình để viết về cái chết oan của bé Thuyên.

          Truyện còn có một chủ đề khác khó nhận ra hơn: Không chỉ phê phán sự dốt nát về khoa học lạc hậu về chính trị của quần chúng Lỗ Tấn còn phê phán sự  thoát li quần chúng của các chiến sĩ cách mạng vì quần chúng chỉ có thể giác ngộ khi có sự dẫn dắt của các chiến sĩ tiên phong.

            Từ sự triển khai hai chủ đề trên có thể thâu tóm ý nghĩa khái quát của tác phẩm: Cần phải có một thứ thuốc khác với chiếc bánh bao tẩm máu - thứ thuốc vừa chữa những căn bệnh hiểm nghèo của cơ thể vừa chữa những bệnh tật về tinh thần cho toàn xã hội.

    Truyện có bốn phần:

 Phần 1:                         Đi mua thuốc

            Câu chuyện diễn ra vào một đêm thu trăng đã lặn nhưng mặt trời chưa mọc...  Vợ chồng lão Hoa Thuyên cẩn thận gói ghém những đồng tiền mà họ chắt chiu dành dụm bấy lâu để đi mua thuốc về chữa bệnh lao cho con trai họ.  "Lão cầm  lấy bỏ vào túi áo tay run run vuỗt hai lần phía ngoài túi. . . Trởi lạnh hơn trong nhà nhiều nhưng lão cảm thấy sảng khoái như bỗng dưng mình trẻ lại và ai cho phép thần thông cải tử hoàn sinh. . . Trong tâm trí lão việc đi mua thuốc hẳn là một việc rất hệ trọng.  Chính thứ thuốc mà lão đang đi mua về cho con đã trở thành nguồn sinh khí tiếp sức cho lão. Thứ thuốc quý chữa bệnh đó là chiếc bánh bao tẩm máu tử tù - một chiếc bánh bao nhuốm máu đỏ tươi máu còn nhỏ từng giọt từng giọt. . . Niềm tin vào tính chất linh diệu của  chiếc bánh bao tẩm máu người trong việc chữa trị bệnh hiểm nghèo trở thành nguồn ánh sáng soi chiếu bên từ bên trong dẫn đường cho lão Hoa Thuyên ...(mặt trời đã mọc chiếu sáng con đường lớn đi về nhà lão...)

          Không phải chỉ có một mình lão Hoa Thuyên đi tìm mua thứ thuốc kia mà còn có bao nhiêu người... họ xô nhào tới như nước thuỷ triều... người nào người ấy dướn cổ ra như côe vịt bị một bàn tay vô hình nắm lấy xách lên..

          Có thể thấy tình trạng u mê thể hiện trong niềm tin vào thứ thuốc lạ lùng ấy không còn là một hiện tượng cá biệt nữa mà đã trở thành căn bệnh của rất nhiều người.  Tác phẩm miêu tả bi kịch của một gia đình nhưng lại có ý nghĩa khái quát về xã hội.

 Phần 2:                         Cảnh "ăn thuốc"

          Cảnh "ăn thuốc" diễn ra như một nghi thức hành lễ trang trọng (. . .)và phảng phất không khí ghê rợn (cái gói lá xanh và cái chao đèn rách nát loang lổ máu. . . ngọn lửa đỏ sẫm bốc lên. . . mùi thơm quái lạ tràn ngập khắp quán trà...  cái vật gì tròn tròn đen thui. . . một làn hơi trắng bốc ra từ làn vỏ cháy sém). Các sắc màu mùi vị ấy hoà trộn nhau tạo ra một ấn tượng hãi hùng.

          Câu nói lặp lại của người mẹ như muốn xác nhận một niềm tin có thực đang tồn tại trong người mẹ khốn khổ. (Tác giả đã kết hợp được bút pháp tả thực và tượng trưng một cách tài tình.)

Phần 3:                          Không khí trong quán trà

          Quán trà là nơi họp mặt của đủ các hạng người.  Nơi đó người ta bàn tán đủ chuyện. Đặc biệt có hai vấn đề người ta bàn tán nhiều:  thứ nhất là những câu nói của nhân vật cả Khang.  Ông ta ra sức củng cố  niềm tin cho vợ chồng Hoa Thuyên cho các vị khách trong quán trà và có lẽ cho chính cả ông nữa về công hiệu của vị thuốc chữa bệnh lao; thứ hai là những bàn tán của khách trà về  người tử tội (Hạ Du trong tác phẩm là một chiến sĩ bất khuất dũng cảm.  Mục tiêu chính trị của Hạ Du là lật đổ nền thống trị Mãn Thanh.  Thế nhưng không một nhân vật nào trong tác phẩm hiểu  được việc làm cao cả đó mà còn chế diễu.  Đó là thằng quỷ sứ là nhãi con không muốn sống nữa là kẻ nằm trong tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc. . . là tên điên. . .).

Nội dung câu chuyện mà họ bàn tán chứng tỏ họ không hiểu gì về người cách mạng. Họ chỉ nhìn thấy số phận một "tên giặc" mà không hiểu mục đích hành động của con người ấy không hiểu được tinh thần bất khuất của người cách mạng.

 Phần 4:                         Cuộc gặp gỡ của hai bà mẹ

  Vào một buổi sáng mùa xuân nơi nghĩa địa ven thành. Một con đường nhỏ cong queo chia nghĩa địa ra hai phần: Một bên là nấm mồ của  những người chết chém hoặc chết tù; một bên là mộ của những người nghèo. Cả hai bên mộ dày khít lớp này lớp khác như bánh bao nhà giàu mừng thọ.  Hình ảnh đó khiến ta hình dung được tình trạng đen tối của xã hội đương thời. Trên cái nền ghê sợ ấy là hình ảnh hai người mẹ khốn khổ cùng đến viếng mộ con mình. (Trong định kiến xã hội về những người tử tù mà giai cấp thống trị tạo ra giữa họ có một ranh giới ngăn cách nhưng thực ra cả hai bà mẹ và những đứa con của họ đều là nạn nhân của giai cấp thống trị trong xã hội.  Một cái chết vì lưỡi dao oan nghiệt  của chế độ một cái chết vì liều thuốc ngu dân của chế độ. Trong một khoảnh khắc của sự cảm thông bà Hoa đã bước qua con đường mòn ngăn cách để đến với người mẹ của kẻ tử tù. Đó là một sự cố gắng không dễ để vượt qua và là dấu hiệu khởi đầu của sự thức tỉnh của người lao động.

  Hình ảnh vòng hoa trên nấm mồ Hạ Du có một ý nghĩa đặc biệt. Hạ Du bị xem là "kẻ thù của chế độ" vậy mà có ai đó vẫn dám đặt trên nấm mồ Hạ Du một vòng hoa khác thường. Phải chăng đó là một sự lựa chọn đường đi của những người còn sống? tạm thời quần chúng còn chưa được giác ngộ chưa hiểu nhiều về cách mạng song Lỗ Tấn tin rằng căn bệnh u mê của họ vẫn còn có thể chữa được.  Vòng hoa trên mộ Hạ Du là niềm tin thấp thoáng về tương lai cách mạng ẩn hiện trong quần chúng trong những ngày đen tối của thời cuộc. Vòng hoa đó không chỉ có ý nghĩa tưởng niệm mà  còn là một lời hứa trước anh linh của người đã khuất là một sự thách thức đối với chế độ xã hội đương thời là biểu tượng  của tương lai cách mạng sẽ nở hoa. (chú ý câu hỏi và tiếng khóc của bà mẹ Hạ Du: Câu hỏi vừa ngạc nhiên vừa ẩn dấu một niềm vui có người hiểu con mình. Tiếng khóc là dấu hiệu đầu tiên của sự thức tỉnh - bà mẹ đã hiểu rằng con mình đã hành động đúng).

Có thể nói Thuốc là một truyện ngắn đặc sắc mang đậm phong cách của nhà văn:

* Tên truyện là một dụng ý nghệ thuật của tác giả nó bao hàm ba lớp nghĩa:

- Là loại thuốc chữa bệnh lao trong quan niệm mê muội của người dân lao động TQ đương thời.

 - Đó không phải là thuốc chữa bệnh mà là thuốc chết người.

 - Thực tế đó đặt ra yêu cầu bức xúc: cần phải có một thứ thuốc giải độc tinh thần cho nhân dân để họ thức tỉnh và không chìm đắm mãi trong mê muội.

* Không gian truyện có ý nghĩa điển hình cho không gian của XHTQ thời trung cổ (lặng lẽ vào đêm ồn ào pháp trường nhốn nháo nghĩa địa mênh mông lạnh lẽo. . .);  Tuy nhiên Điều mà tác giả đem đến cho người đọc lại không phải là tư tưởng bi quan: Lỗ Tấn đã vạch ra một cách rõ ràng và triệt để nguyên nhân gây bệnh chỉ ra tác hại của việc dùng sai thuốc gợi ý hướng đi tìm phương thuốc đúng đắn. 

Với hình tượng vòng hoa trên nấm mộ Hạ Du Lỗ Tấn mong và tin chắc những hành động còn lẻ tẻ ấy sẽ trở thành phổ biến.  Làm cách mạng hi sinh là tất yếu song khi cả dân tộc hiểu rõ ý nghĩa của sự hi sinh ấy thì cái chết những người cách mạng sẽ là vị thuốc có thần đem lại cái sống cho đời sau ./.

More...