Ca khúc

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

More...

Mời nghe Ca sĩ Quế Thương

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

HÁT VỀ MÁI TRƯỜNG HUỲNH THÚC KHÁNG

ST: NS Thành Đức

BD : Ca sĩ Quế Thương

 Nhạc sĩ Thành Đức tên thật là Trần Văn Đức (1940 -2016) . Ông là cựu học sinh trường HTK khoá 1957- 1960 tốt nghiệp ĐH ở Matxcova sau đó vào ngành quân giới (chế tạo súng đạn thờ chống Mĩ),

Nhạc sĩ Trần Đức từng có 4 năm làm thư ký cho GS Trần Đại Nghĩa; 12 năm làm viện phó Viện Đại học giáo dục chuyên nghiệp. Là người say mê âm nhạc và là học trò của nhạc si Nguyễn Đình Tấn. Sáng tác 70 ca khúc và đạt 2 giải thưởng âm nhạc: Giải thưởng của ngành dầu khí và giải thưởng "Tiếng hát át tiếng bom" của ngành quân giới. Có 2 tập thơ in riêng và 3 tập thơ in chung.

Nhạc sĩ từng là trưởng ban liên lạc học sinh Huỳnh Thúc Kháng tại thành phố Hồ Chí Minh. Do tuổi cao sức yếu, ông đã từ biệt gia đình, người thân, bạn bè đầu năm 2016 tại Vũng Tàu.

     Ca khúc "Hát về mái trường Huỳnh Thúc Kháng" được NS Thành Đức sáng tác tặng nhà trường trong dịp nhà trường kỷ niệm 90 năm TL và đón nhận danh hiệu ANH HÙNG LAO ĐỘNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI. Một năm sau, năm 2011, NS Thành Đức trở lại trường Huỳnh Thúc Kháng và đã "âm thầm, lặng lẽ" tự tìm cách để làm Video clip này. Cảm động trước tâm huyết của nhạc sĩ, người học trò năm xưa, PTV đã cùng một số bạn bè giúp nhạc sĩ thực hiện tâm nguyện của mình. Và đây là món quà của nhạc sĩ gửi lại !

PTV xin trân trọng gửi tới quý vị và các bạn ca khúc này do ca sĩ Quế Thương thể hiện .

More...

Bài ca truyền thống trường Huỳnh Thúc Kháng - Tập thể GV & HS

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Bài ca truyền thống trường Huỳnh Thúc Kháng

ST: Thầy giáo Vương Nại Hoa

BD: Tập thể GV&HS trường Huỳnh Thúc Kháng

More...

Ngâm thơ - Hoa phượng - Thơ Võ Văn Trực

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Hoa phượng

Thơ Võ Văn Trực

Diễn ngâm: Thanh Vân

More...

Làm thế nào để nâng cao cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Kỳ cuối: Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm

http://giaoduc.edu.vn/news/nhip-cau-su-pham-672/lam-the-nao-de-nang-cao-cam-thu-tac-pham-van-hoc-cho-hoc-sinh-ky-cuoi-ren-luyen-ki-nang-doc-dien-cam-160037.aspx

Thứ Tư 27 Tháng tư 2011 08:04 GMT+7  

  anh minh hoa

Giáo viên chỉ nên đưa ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới chưa đánh giá xác đáng về một TP văn học…                   (ảnh minh họa). Ảnh: N.Anh
Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học môn văn trước hết được thể hiện ở khả năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bàicủa giáo viên. Vậy đọc diễn cảm là gì?
    Ngoài việc đọc đúng quy tắc ngữ pháp đúng đặc trưng thể loại thì mỗi tác phẩm có một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩmchính là nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với tác phẩm tự sự; đọc đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn tả khác đọc văn kể văn tường thuật; đọc văn chính luận khác với đọc bài tùy bút… Tùy từng văn bản cụ thể mà giáo viên và HS có thể chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp.
1. Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật . Đọc diễn cảm không phải là “khoe giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Đọc thơ là để làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc làm cho nó ngân nga trong hồn người. Đọc ở đây là thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về tác phẩm là làm sao để người khác cũng có thể sản sinh những ấn tượng tương tự như mình. Diễn cảm ở đây hoàn toàn không phải là ở sự uốn éo đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tại của tâm hồn.
Cách đây đúng 30 năm khi còn là sinh viên khoa văn tôi được một thầy giáo của mình đọc cho nghe bài thơ Quê hương của Giang Nam. Phần đầu của bài thơ thầy đọc chậm rãi (nhưđang nhấm nháp những kỉ niệm ngọt ngào tuổi ấu thơ): Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/ Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/….Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi/ Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng… đến đoạnngười lính trở về nhận được tin cô gái mất… thầychuyển giọng đột ngột:
Hôm nay nhận được tin em/ Không tin được dù đó là sự thật/ Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ-vì-em-là-du-kích… em ơi…/ Đau-xé-lòng-anh…chết-nửa-con-người…”.
Nhịp điệu dồn dập đó nói lên nỗi đau bất ngờ bàng hoàng không thể tin được trước một sự thật đau lòng. Thầy không cần giảng giải nhiều nhưng chúng tôi ai cũng đỏ hoe con mắt. Cho đến bây giờ nỗi xúc động đến lạnh người trong tôi vẫn còn nguyên khi nhớ về bài học và giọng đọc của thầy tôi năm đó. Đó chính là hiệu quả của ngữ điệu đọc mà người thầy mang lại cho học trò của mình.
Khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho HS dù chỉ trong một thời gian ngắn trong tổng số 45 phút của tiết học tôi thường lưu ý cho HS về cách đọc từng loại văn bản. Khi một HS đọc diễn cảm một văn bản nào đó tôi cho rằng HS đó đã hiểu được giá trị của văn bản ít nhất là 50%.
Ví dụ: Bài Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi phải đọc một cách dõng dạc hùng hồn: Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo/ Nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã riêng/ Phong tục Bắc Nam cũng khác/ Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương/ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có.
Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ta phải đọc sao cho toát lên cái bi hùng của văn tế…
Bằng hình thức đọc diễn cảm giáo viên có thể tạo cho HS những bất ngờ hứng thú giúp các em có cảm nhận mới mẻ về văn bản kích thích khả năng liên tưởng trí tưởng tượng để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Có thể nói rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là biện pháp hữu hiệu trong rèn luyện cảm thụ văn học cho HS.
2. Sử dụng lời bình trong giờ đọc hiểu môn văn: Bình văn là thể hiện một liên tưởng thẩm mỹ của người đọc đối với tác phẩm. Một lời bình hay đúng lúc đúng chỗ có khả năng đánh thức liên tưởng của HS là con đường dẫn HS thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật văn bản góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ của bài văn bài thơ khơi dậy ở trái tim non trẻ của các em tình yêu con người và cuộc đời để các em biết ghét cái ác cái xấu hướng tới chân thiện mỹ. Biện pháp này cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm sáng tạo của HS tạo nên sự giao lưu cộng hưởng về tình cảm trong giờ văn.
Ví dụ: Khi giảng đến đoạn Thúy Kiều trao kỷ vật cho Thúy Vân:
Chiếc vành với bức tờ mây/ Duyên này thì giữ vật này của chung giáo viên có thể hướng dẫn HS phân tích: Kỉ vật là hiện thân của tình yêu là bức tờ mây ghi lời thề chung thủy là chiếc vành Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều để làm tin. “Giữ” nghĩa là không trao hẳn mà chỉ để em giữ hộ; “của chung” là của ba người. Kiều không đành lòng trao kỉ vật cho em không nỡ rời xa những gì nồng nàn tha thiết nhất của tình yêu…; nhịp câu thơ ngắt đôi nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó… HS trình bày được những ý như vậy đã là hay nhưng nếu biết đưa vào một lời bình ngắn gọn đúng lúc thì hiệu quả thẩm mĩ của giờ học sẽ tăng lên đến bất ngờ.
Chẳng hạn ở đây giáo viên có thể đưa ra lời bình về từ “của chung” của Hoài Thanh: “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao mà tình không trao nổi. Kỉ vật với Thúy Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thúy Kiều nó lại là tình yêu.
Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản nhưng giáo viên không được lạm dụng biện pháp này. Bởi lẽ nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để HS cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để “thôi miên” các em. Do đó giáo viên chỉ đưa ra lời bình khi HS cảm nhận chưa tới đánh giá chưa xác đáng và những lời bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ tiến tới khắc sâu ấn tượng cho HS tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ. Giáo viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật và chọn được cách nói ấn tượng độc đáo nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của HS.
Với mong muốn góp phần nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho HS trong giờ đọc hiểu môn văn tôi mong nhận được sự trao đổi góp ý chân thành của đồng nghiệp và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Phan Thị Thanh Vân
(GV văn Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng TP.Vinh Nghệ An)

More...

NÂNG CAO CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU MÔN VĂN

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÂNG CAO CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN HỌC

CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU MÔN VĂN

Phan Thanh Vân- THPT Huỳnh Thúc Kháng

(Báo Giáo dục TP Hồ Chí Minh ngày 25-4 và 27-4-2011)

                Vấn đề dạy học môn văn trong trường phổ thông đang là vấn đề thời sự nóng hổi luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành nhiều giới trong xã hội... Theo khảo sát của các nhà giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây chất lượng học văn của học sinh THPT ở nước ta ngày càng giảm sút. Môn văn đang mất dần vị thế vốn có của nó. Tình trạng học sinh không còn hứng thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nhà trường phổ thông hiện nay.

alt

          Trước thực trạng đó đã có nhiều cuộc hội thảo chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học văn được tổ chức dưới nhiều cấp độ khác nhau trong phạm vi cả nước. Hàng loạt các phương pháp được đề xuất thử nghiệm như: phương pháp dạy học nêu vấn đề phương pháp dạy học tích hợp phương pháp dạy học theo nhóm…  Giáo viên chưa kịp học hết các “chiêu” đổi mới về phương pháp dạy học đã phải đối mặt với những “ma trận đề”… Vậy mà “căn bệnh” chán học văn của học sinh vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm.  

          Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng nêu trên nhưng theo tôi có một lý do ai cũng biết nhưng lại ít ai đề cập tới đó là hiện tượng đa số học sinh không đọc tác phẩm khi soạn bài. Trong giờ học môn văn cả giáo viên và học sinh đều bỏ qua khâu rèn luyện đọc diễn cảm và hiếm khi người học có được những giây phút thăng hoa qua những lời bình ngắn gọn mà gợi nhiều chiêm nghiệm liên tưởng. Đó cũng là lý do để tôi trình bày những suy nghĩ của mình trong việc làm thế nào để nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho học sinh trong giờ đọc hiểu môn văn?

1. Hình thành thói quen đọc trực tiếp văn bản

          GS Trần Đình Sử trong bài Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy-học văn khẳng định: “Khởi điểm của môn Ngữ Văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản ấy không hiểu được văn bản thì coi như mọi yêu cầu mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông khó với tới đừng nói gì tới tình yêu văn học”[1]. Đáng tiếc là nhiều năm nay trong nhà trường THPT đã diễn ra tình trạng học sinh không cần đọc trực tiếp văn bản nhưng vẫn soạn được bài thậm chí khi thầy cô giáo yêu cầu “hoạt động nhóm” và cử đại diện trình bày… các em vẫn tỏ ra làm việc tích cực và phát biểu một cách gọn gàng. Giáo viên dù biết rõ học sinh đang trong vai diễn nhưng vẫn cứ khen trò của mình trả lời rất tốt rất giỏi!  Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính mình từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản thiếu năng lực đọc một cách sáng tạo. Như vậy mấu chốt của vấn đề nâng cao hiệu quả cảm thụ văn học chính là ở việc đọc trực tiếp văn bản văn học.

          Học sinh thường ngại đọc tác phẩm khi soạn bài lý do chưa hẳn là vì tác phẩm không hay hoặc học sinh không thích văn học. Đơn giản vì các em phải học quá nhiều môn học. Ngoài ra lối sống thực dụng trong xã hội hiện nay cũng có một tác động không nhỏ đến điều này. Kết quả khảo sát những năm gần đây cho thấy hầu hết học sinh THPT đều định hướng thi vào các trường Đại học thuộc khối ngành kinh tế kỹ thuật công nghệ… Rất ít học sinh chọn thi vào các trường thuộc khối ngành khoa học xã hội & nhân văn. Học văn theo đó luôn trong tình trạng đối phó của các em. Tài liệu tham khảo đã trở thành cẩm nang trong mọi tình huống. tài liệu tham khảo đã trở thành cẩm nang trong mọi tình huống. Số ít những em lựa chọn các khối có thi môn văn thì bài giảng của thầy những tài liệu phân tích bình giảng tác phẩm những sách văn mẫu tài liệu luyện thi… sẽ là những vật bất li thân là "bùa hộ mệnh. Nhận thức được điều đó tôi thường yêu cầu học sinh tóm tắt tác phẩm trước bằng lập sơ đồ bảng biểu sau đó kiểm tra thực hiện của học sinh trong thời gian hỏi bài cũ.  

Ví dụ:  Chuẩn bị cho bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên tôi yêu cầu học sinh lập bảng:

-Bảng 1: Tìm hiểu tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục (Yêu cầu: Học sinh tìm hiểu và hoàn tất các thông tin về tác giả quê quán thời đại... về thời gian ra đời nội dung và đặc điểm thể loại...)

-Bảng 2: Vẽ sơ đồ tóm tắt truyện ( Họ tên học sinh thực hiện:……….Lớp:…)    

          Ban đầu việc làm này chưa nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành nhưng dần dần đã trở thành việc làm bình thường và có hiệu quả. Thói quen này nếu đư­ợc hình thành một cách tự giác thì chính giáo viên học sinh đã làm được một khâu quan trọng trong yêu cầu đọc - hiểu.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm

           Cùng quan điểm với GS Trần Đình Sử cố GS Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh yêu cầu cần đạt được của việc đọc văn bản là phải nắm bắt trúng giọng điệu của tác phẩm. Theo ông “Sự phong phú tính đa nghĩa ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng. Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết. Bắt được giọng đã khó làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng khó công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên…”[2]

          Tục ngữ có câu: “Ăn không nên đọi nói không nên lời”.  “Nói không nên lời” là một sự đau khổ của con người. Năng lực văn nhất thiết phải bao hàm năng lực nói nên lời. Không biết đọc diễn cảm không tìm được ngữ điệu thích đáng trong giảng bài đó là sự bất lực của người dạy văn. Có nhiều giáo viên có kiến thức nhưng khi giảng bài học sinh thấy chán buồn ngủ bởi vì giáo viên đó thiếu khẩu khí thiếu hơi văn chưa tìm được ngữ điệu giọng điệu thích đáng cho mình. Như vậy người dạy văn giỏi ngoài kiến thức cần phải có ngữ điệu giọng điệu phù hợp đa dạng. Có như vậy tác phẩm mới tác động sâu vào cảm nhận của học sinh. Và đây là một phần quan trọng để phát huy tiềm lực kích thích hứng thú học văn của học sinh.  

          Ngữ điệu và giọng điệu trong dạy học môn văn trước hết được thể hiện ở khả năng đọc diễn cảm và ngữ điệu giảng bài của giáo viên. Vậy đọc diễn cảm là gì?  Ngoài việc đọc đúng quy tắc ngữ pháp đúng đặc trưng thể loại. Mỗi tác phẩm có một giọng điệu riêng. Nắm bắt đúng giọng điệu của tác phẩm chính là nắm bắt đúng tư tưởng và tình cảm của tác giả. Tác phẩm trữ tình cần đọc khác với tác phẩm tự sự; đọc  đoạn đối thoại khác đoạn độc thoại nội tâm; đọc văn tả khác đọc văn kể văn tường thuật; đọc văn chính luận khác với đọc bài  tùy bút… Tuỳ từng văn bản cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể chọn cho mình một “tông giọng” phù hợp.

          Có thể xem đọc diễn cảm là nghệ thuật của trình diễn. Đọc diễn cảm không phải là “khoe giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim. Thơ là âm vang của cảm xúc. Đọc thơ là để làm cho tác phẩm thơ vang lên như một bản nhạc làm cho nó ngân nga trong hồn người.  Đọc ở đây là thể hiện sự cảm thụ và thể nghiệm sâu sắc về tác phẩm là làm sao để người khác cũng có thể sản sinh những ấn tượng tương tự như mình. Diễn cảm ở đây hoàn toàn không phải là ở sự uốn éo đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tại của tâm hồn.  

          Cách đây đúng 30 năm khi còn là sinh viên khoa văn tôi được một thầy giáo của mình đọc cho nghe bài thơ Quê hương của Giang Nam. Phần đầu của bài thơ thầy đọc chậm rãi (như đang nhấm nháp những kỉ niệm ngọt ngào tuổi ấu thơ): /Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ/….Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi/Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng.. đến đoạn người lính trở về nhận được tin cô gái mất…thầy chuyển giọng đột ngột:

 Hôm nay nhận được tin em

 Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ-vì-em-là-du-kích…em ơi…

Đau-xé-lòng-anh…..chết- nửa- con- người…”.

          Nhịp điệu dồn dập đó nói lên nỗi đau bất ngờ bàng hoàng không thể tin được trước một sự thật đau lòng. Thầy không cần giảng giải nhiều nhưng lũ học trò chúng tôi ai cũng đỏ hoe con mắt. Cho đến bây giờ nỗi xúc động đến lạnh người trong tôi vẫn còn nguyên khi nhớ về bài học và giọng đọc của thầy tôi năm đó. Đó chính là hiệu quả của ngữ điệu đọc mà người thầy mang lại cho học trò của mình.

          Khi rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh dù chỉ trong một thời gian ngắn trong tổng số 45 phút của tiết học tôi thường lưu ý cho học sinh về cách đọc từng loại văn bản. Khi một học sinh đọc diễn cảm một văn bản nào đó tôi cho rằng học sinh đõ đã hiểu được giá trị của văn bản ít nhất là 50 %.

 Ví dụ bài  Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi phải đọc một cách dõng dạc hùng hồn :

  Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trứơc lo trừ bạo
Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã riêng
Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.

Đọc Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ta phải đọc sao cho toát lên cái bi hùng của văn tế. Khi đọc đoạn trích Trao duyên thì phải đọc với giọng xúc động đau đớn đến tột cùng của nhân vật Thuý Kiều trong đêm trước ngày từ biệt gia đình để ra đi theo Mã Giám Sinh…(Em Trần Thị Hằng 10A2 đọc diễn cảm một đoạn văn bản)

Khi đọc đoạn cuối bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Súng nổ tung trời giận dữ/ Người lên như như nước vỡ bờ/ Nước Việt Nam từ trong máu lửa/
Rũ bùn đứng dậy sáng loà
chúng ta phải đọc sao cho gợi được được âm vang thời đại và không khí hào hùng của đất nước sau chiến thắng Điện Biên…

           Bằng hình thức đọc diễn cảm giáo viên có thể tạo cho học sinh những bất ngờ hứng thú giúp các em có cảm nhận mới mẻ về văn bản kích thích khả năng liên tưởng trí tưởng tượng để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Có thể nói rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là biện pháp hữu hiệu trong rèn luyện cảm thụ văn học cho học sinh. 

3. Sử dụng lời bình          

          Bình văn là thể hiện một liên tưởng thẩm mỹ của người đọc đối với tác phẩm.  Một lời bình hay đúng lúc đúng chỗ có khả năng đánh thức liên tưởng của học sinh là con đường dẫn học sinh thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệ thuật văn bản góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ của bài văn bài thơ khơi dậy ở trái tim non trẻ của các em tình yêu con người và cuộc đời để các em biết ghét cái ác cái xấu hướng tới chân thiện mỹ. Biện pháp này cho phép giáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm sáng tạo của học sinh tạo nên sự giao lưu cộng hưởng về tình cảm trong giờ văn.

Ví dụ:  

Khi giảng đến đoạn Thuý Kiều trao kỷ vật cho Thúy Vân:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh phân tích:

 Kỉ vật là hiện thân của tình yêu: là Bức tờ mây ghi lời thề chung thủy là Chiếc vành Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều để làm tin.  

      + “giữ” nghĩa là không trao hẳn mà chỉ để em giữ hộ.

 + “của chung” là của ba người. Kiều không đành lòng trao kỉ vật cho em không nỡ rời xa những gì nồng nàn tha thiết nhất của tình yêu…

 + Nhịp câu thơ ngắt đôi nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó…

Học sinh trình bày được những ý như vậy đã là hay nhưng nếu biết đưa vào một lời bình ngắn gọn đúng lúc thì hiệu quả thẩm mĩ của giờ học sẽ tăng lên đến bất ngờ.

Chẳng hạn ở đây giáo viên có thể đưa ra lời bình về từ “của chung” của  Hoài Thanh: “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao mà tình không trao nổi. Kỉ vật với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.

Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của văn bản nhưng giáo viên không được lạm dụng biện pháp này. Bởi lẽ nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ không phải là trổ tài trình diễn để “thôi miên” học sinh. Do đó giáo viên chỉ đưa ra lời bình khi học sinh cảm nhận chưa tới đánh giá chưa xác đáng và những lời bình lúc đó có tác dụng hỗ trợ tiến tới khắc sâu ấn tượng cho học sinh tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ. Giáo viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật và chọn được cách nói ấn tượng độc đáo nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của học sinh.

          Tôi có được niềm vui là thường được các em học sinh gần gũi chia sẻ. Gần đây tôi nhận được thư của một học sinh lớp 12 TP Hồ Chí Minh gửi qua Email. Bức thư có  đoạn viết: Thưa cô con rất sợ học môn văn…Thứ nhất con đang cảm thấy bị dồn ép bị đẩy vào những thứ rập khuôn làm con không còn cảm thấy hứng thú với môn học này nữa. Thứ hai là những văn bản trong sgk 12 hầu như sặc mùi cách mạng con không sống trong thời đó nên cảm nhận của con về những năm tháng ấy còn mập mờ mông lung lắm. Thứ ba là giáo viên văn trong lớp của con chẳng những không tạo cho con có được cảm giác thích thú mà còn làm cho con cảm thấy ngán ngẫm giờ văn. Có đôi khi con tự đọc văn bản trước ở nhà cảm thấy rất hay nhưng khi được giáo viên trong lớp giảng giải thì bao nhiêu cái hay ho nó trôi đi đâu mất…”. Những dòng tâm sự hết sức chân thành của một học sinh mà tôi chưa từng gặp mặt đã khiến tôi giật mình. Liệu đây có phải là tâm trạng chung của các em khi học môn văn? Làm thế nào để có thể thắp sáng ngọn lửa tình yêu văn chương trong tâm hồn học sinh? Làm thế nào để có thể đánh thức khả năng cảm thụ văn chương thổi bùng khát vọng sống đẹp của học sinh qua mỗi giờ học văn? Đưa lời tâm sự của học sinh ra đây để những người trực tiếp giảng dạy văn học là chúng ta cùng suy nghĩ và chia sẻ hi vọng những lời tâm sự của em học sinh đó không rơi vào hư không. Thiết nghĩ muốn làm được những điều trên trước hết người thầy phải thổi bùng ngọn lửa văn chương trong trái tim của mình.

          Chúng tôi luôn ý thức sâu sắc rằng đây không phải là phương pháp toàn vẹn và càng không phải là duy nhất nhưng hiệu quả mang lại của nó là điều không thể phủ nhận. Phương pháp khi được vận dụng  thành thục sẽ tạo được kĩ năng cho người dạy và người học. Từ đó niềm hứng thú say mê khám phá của học sinh sẽ được đánh thức. Khi thói quen trở thành ý thức tự giác của người học thì đến lượt mình người thầy không thể bằng lòng với những vốn kiến thức có sẵn mà phải luôn không ngừng cập nhật tri thức và đổi mới phương pháp.  

Với mong muốn góp phần nâng cao cảm thụ tác phẩm văn chương cho học sinh trong giờ đọc hiểu môn văn tôi mong nhận được sự trao đổi góp ý chân thành của đồng nghiệp và những ai quan tâm đến vấn đề này.

                                                                    

                                                               Vinh ngày 17/4/2011



[1] . Văn nghệ số 10 ngày 7-3-2009                                                                           

[2] Giọng điệu trong văn chương Những ngả đường vào văn học NXB Giáo dục 2006.



More...

Vẻ vang 90 năm Quốc học Vinh – THPT Huỳnh Thúc Kháng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 Vẻ vang 90 năm Quốc học Vinh – THPT Huỳnh Thúc Kháng

(GD&TĐ) –  Với 90 năm truyền thống vẻ vang trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới sẽ tiếp tục phát huy tốt nhất sứ mệnh nâng cao dân trí ươm mầm và bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp phát triển của Nghệ An và đất nước sao cho học sinh của nhà trường sau khi tốt nghiệp phải thật Nghệ An thật Việt Nam.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân  Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận cùng đoàn địa biểu đến dự lễ
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận cùng đoàn đại biểu đến dự lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường

Ngày 21/11 tại thành phố Vinh Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận lãnh đạo tỉnh Nghệ An cùng nhiều thế hệ học sinh của trường THPT Huỳnh Thúc Kháng đã về dự Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường Quốc học Vinh – THPT Huỳnh Thúc Kháng và đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng tiền thân là trường Quốc học Vinh được thành lập từ năm 1920 tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An. Quốc học Vinh – Huỳnh Thúc Kháng chính là một phần quan trọng của lịch sử giáo dục Việt Nam là nơi đào tạo và trưởng thành của rất nhiều thế hệ người Việt Nam trong đó có những cán bộ lãnh đạo cấp cao của đất nước các tướng lĩnh của quân đội các nhà khoa học nhà thơ nhà văn các nghệ sĩ nổi tiếng.

Là ngôi trường lâu đời và có bề dày truyền thống bậc nhất của tỉnh Nghệ An và có thể xếp ngang hàng với Quốc học Huế ( miền trung) trường Bưởi (miền Bắc) và Petrus Ký ở  miền Nam. Trong suốt 90 năm qua trường Huỳnh Thúc Kháng đã đào tạo gần 50.000 học sinh đóng góp tích cực cho sự  nghiệp kiến thiết xây dựng và đổi mới của đất nước.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chúc học sinh của trường Huỳnh Thúc Kháng sau khi tốt nghiệp phải thật Nghệ An thật Việt Nam. ảnh Huy Đức

Phát biểu tại buổi lễ Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhiệt liệt chúc mừng về bề dày truyền thống 90 năm rất đáng tự hào của nhà trường trên mảnh đất địa linh nhân kiệt – quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “ Chắc chắn Bác sẽ rất vui khi biết Nghệ An đã có thêm một nhà trường đạt danh hiệu Anh hùng lao động”.

Phó Thủ tướng mong muốn với truyền thống vẻ vang đó mỗi thầy cô giáo từng em học sinh cần cố gắng nhiều hơn nữa để đưa nhà trường lên tầm cao mới khẳng định vị thế dẫn đầu của ngành giáo dục Nghệ An khẳng định vai trò của một đơn vị Anh hùng. Trên nền tảng quý báu đó ngành giáo dục Nghệ An cần nghiên cứu mô hình của trường từ đó phát huy nhân rộng nhiều hơn nữa những đơn vị anh hùng lao động như THPT Huỳnh Thúc Kháng. Phó Thủ tướng chúc học sinh của trường Huỳnh Thúc Kháng sau khi tốt nghiệp phải thật Nghệ An thật Việt Nam.

alt
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao danh hiệu “ Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho nhà trường.

Thầy giáo Trần Minh Xuyên hiệu trưởng nhà trường bày tỏ lòng cám ơn tới các vị lãnh đạo Đảng Nhà nước và tỉnh Nghệ An đã tin tưởng và tạo nhiều điều kiện đặc biệt để nhà trường có vinh dự ngày hôm nay. Tự hào là trường THPT đầu tiên của Nghệ An đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động chắc chắn trường THPT Huỳnh Thúc Kháng sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp trồng người trên quê hương Bác Hồ.

Nhân dịp này thừa ủy quyền Chủ tịch nước Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã trao danh hiệu “ Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” để ghi nhận những thành tích và đóng góp xuất sắc của các thế hệ thầy và trò nhà trường Huỳnh Thúc Kháng trong suốt 90 năm qua.

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận tặng hoa chúc mừng nhà trường
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận tặng hoa chúc mừng nhà trường

Chúc mừng trường Huỳnh Thúc Kháng nhân dịp đón nhận danh hiệu cao quý Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đã tặng đơn vị lẵng hoa tươi thắm và viết tặng phòng truyền thống của trường 3 câu:

               Truyền thống vẻ vang.

               Thực tại anh hùng.

                Tương lai xán lạn. 

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận tặng trường dòng chữ:  Truyền thống vẻ vang - Thực tại Anh hùng - tương lai xán lạn
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận tặng trường dòng chữ: "Truyền thống vẻ vang - Thực tại Anh hùng - tương lai xán lạn"

Xin giới thiệu một số hình ảnh ấn tượng tại buổi Lễ:

HS thế hệ hôm nay luôn tự hào và khắc ghi truyền thống vẻ vang của mái trường thân yêu
HS hôm nay luôn tự hào và khắc ghi truyền thống vẻ vang của mái trường thân yêu. ảnh Huy Đức
 
Bộ trưởng
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận thắp hương tại tượng cụ Huỳnh Thúc Kháng trong khuôn viên trường. ảnh Huy Đức
  
Phó Giáo sư Ninh Viết Giao - GV của trường từ năm 1956  trò chuyện với các em học sinh THPT HTKháng hôm nay
Phó Giáo sư Ninh Viết Giao - GV của trường từ năm 1956 trò chuyện với các em học sinh THPT Huỳnh Thúc Kháng hôm nay. ảnh Huy Đức
 
alt
 Niềm vui ngày gặp mặt( Lớp 10T Khóa 1977-1980)
 Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng có tiền thân từ hai trường Quốc học Vinh và trường Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Trường Quốc học Vinh (Collège de Vinh) thành lập ngày 1 tháng 9 năm 1920 năm học 1943 - 1944 trường đổi tên là trường Quốc học Nguyễn Công Trứ (Collège de Nguyen Cong Tru). Trường Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng thành lập năm 1947; đến năm 1950 thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất hai trường này sáp nhập lại và lấy tên là trường phổ thông cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng.
 
 Chinhphu.vn

More...

12K-1989-2011 họp mặt đầu xuân

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng


mồng 5 tết Tân mão các nhà hàng đều chưa làm việc. Tìm mãi cũng được một nhà hàng nhận lời phục vụ cho lớp 12K gặp mặt đầu năm
BLL đã gọi điện cho cả lớp nhưng chỉ có 26 thành viên đến dự (vì cuộc họp hình như bất ngờ...)


Cô-Trò sau 19 năm gặp lại

Ban liên lạc tuyên bố lí do gặp mặt

Vân Hạnh- Quế Anh

Mai Thanh và con gái

Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp...

Niềm vui gặp mặt





"Thắng chích" và cô

More...

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI CHO BÀI SOẠN NGỮ VĂN 12

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI CHO BÀI SOẠN NGỮ VĂN 12

Trần Thanh Tuấn

GV: Trường THPT Long Hiệp - Huyện Trà Cú - Tỉnh Trà Vinh


1.      ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuẩn bị bài là một yêu cầu quan trọng trong việc dạy và học môn Ngữ văn (Lẽ dĩ nhiên đây là yêu cầu chung cho tất cả các môn học tuy nhiên đối với môn Ngữ văn đây lại là yêu cầu mang tính đặc thù). Có chuẩn bị bài tốt thì học sinh (HS) mới có thể lĩnh hội tốt kiến thức trong quá trình Đọc - hiểu văn bản. Tuy nhiên thực tế giảng dạy và học tập môn Ngữ văn hiện nay cho thấy HS chuẩn bị bài trên cơ sở câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa (SGK) chỉ để đối phó chiếu lệ hợp thức hóa. Có nhiều nguyên nhân cho thực trạng này trong đó có nguyên nhân xuất phát từ chính hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong SGK ([1]). Xuất phát từ thực trạng ấy chúng tôi đề xuất việc xây dựng một hệ thống câu hỏi giúp HS chuẩn bị bài ở nhà. Hệ thống câu hỏi này được thiết kế trên cơ sở năng lực của HS đang được GV trực tiếp giảng dạy.

2.      THỰC TRẠNG

Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy trong chương trình Ngữ văn 12 có nhiều văn bản có dung lượng lớn nhưng thời lượng cho tiết dạy lại ít nên khá nhiều GV lúng túng thường phải chạy theo bài dạy nếu không muốn "cháy giáo án". Thế nên nhiều tiết dạy đã không đạt được yêu cầu như mong muốn.

Những trăn trở trên thật đáng trân trọng bởi đối với GV Ngữ văn chúng tôi thiết nghĩ không có một mục đích nào khác là mong muốn cho HS tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn. Và cũng chính bởi sự tâm huyết ấy mà nhiều GV đã cố gắng cung cấp cho HS thật nhiều thông tin về tác giả tác phẩm và lẽ dĩ nhiên như thế thì đã trễ lại càng trễ.

Trong không khí của công cuộc đổi mới trong công tác giảng dạy hiện nay một trong những điều mà mọi người đang quan tâm đó là làm thế nào để khơi dậy tiềm lực nội tại trong mỗi HS trong quá trình học tập. Tạo điều kiện để HS có thể tự học tự tiếp cận tri thức. Đây là xu hướng giáo dục tích cực đang được đặc biệt chú trọng. Vậy nên trong quá trình giảng dạy yêu cầu chuẩn bị bài một cách nghiêm túc đã trở thành một công việc thật sự hữu ích cho quá trình học tập của mỗi HS. Với môn Ngữ văn yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi lẽ để tiếp cận một tác phẩm văn học cần phải hội tụ nhiều kĩ năng phải có sự tiếp cận bề mặt văn bản trên cơ sở đó cảm nhận những giá trị thẫm mĩ ẩn chứa sau từng con chữ. Việc HS chuẩn bị tốt bài ở nhà là đã làm tốt công việc tiếp cận bề mặt văn bản. Đây có thể nói là yếu tố "nền" để khi lên lớp kết hợp với những tri thức của GV cung cấp HS sẽ có một cái nhìn tương đối trọn vẹn về tác phẩm văn học được học (ở mức độ phổ thông).

Nhưng thực tế cho thấy hệ thống câu hỏi gợi ý ở một số bài trong SGK còn quá chung thậm chí ở một số văn bản hệ thống câu hỏi đã không đi theo sự lôgic của văn bản vì vậy HS gặp nhiều khó khăn trong việc soạn bài tại nhà.

Sau đây là hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài cho bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (tr 108 SGK Ngữ văn 12 - nâng cao)

1.      Đọc lại phần Tiểu dẫn và cho biết bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào ? Tâm trạng bao trùm trong đoạn trích bài thơ là gì ?

2.      Nhận xét về cách kết cấu của bài thơ (chú ý cảnh chia tay lời hỏi và lời đáp). Cách kết cấu ấy có gì gần gũi với ca dao dân ca và có tác dụng như thế nào đối với việc thể hiện tư tưởng tình cảm trong bài thơ ?

3.      Nhận xét về cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ ("mình" "ta" là ai ?).  Sự thống nhất và chuyển hoá của hai "nhân vật" ấy. "Mình" "ta" trong bài Việt Bắc giống và khác như thế nào với "mình" "ta" trong ca dao ?

4.      Trong đoạn thơ từ dòng 25 đến dòng 52 những hình ảnh nào của thiên nhiên và con người Việt Bắc đã được tái hiện ? Trong không gian và thời gian nào ? Giữa cảnh và người có sự gắn bó như thế nào ? Nêu cảm nhận của anh (chị) về tình cảm của người cán bộ miền xuôi với Việt Bắc qua những hình ảnh ấy. Nhận xét về bút pháp miêu tả và giọng điệu của đoạn thơ này.

5.      Trong đoạn thơ từ dòng 53 đến dòng 88 khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến đã được tái hiện qua những hình ảnh sự việc nào ? Bút pháp và giọng điệu trong đoạn thơ này có gì khác với đoạn thơ trước (từ dòng 25 đến dòng 52) ?

6.      Phân tích tính dân tộc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích bài thơ Việt Bắc (ở bức tranh đời sống và nội dung tình cảm ; ở các hình thức nghệ thuật nổi bật như­ thể thơ lối kết cấu hình ảnh ngôn ngữ giọng điệu).

Rõ ràng hệ thống câu hỏi trên còn quá chung chưa thể hiện được ý đồ tiếp cận tác phẩm theo hệ thống. Trong khi ở câu 1 câu 2 câu 3 thì yêu cầu HS tiếp cận đoạn trích theo lối "bổ dọc" đến câu 4 câu 5 thì lại tiếp cận theo lối "bổ ngang".  Hơn thế nữa nhiều câu hỏi quá khó so với trình độ của HS ở vùng sâu: "Nhận xét về cách kết cấu của bài thơ". Sau đó lại yêu cầu so sánh với kết cấu của ca dao ([2]).  Hoặc nhận xét về cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ ("mình" "ta" là ai ?).  Sự thống nhất và chuyển hoá của hai "nhân vật" ấy. "Mình" "ta" trong bài Việt Bắc giống và khác như thế nào với "mình" "ta" trong ca dao. Đây là một câu hỏi rất khó HS phải có một sự am hiểu rất sâu về đặc điểm sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao mới có thế giải quyết được vấn đề này. Tuy nhiên qua khảo sát hệ thống văn bản ca dao mà HS được học trong chương trình Ngữ văn 10 (nâng cao) chúng tôi nhận thấy không có văn bản nào có xuất hiện hai từ "mình" "ta". Như vậy HS lấy kiến thức ở đâu để hoàn thành được câu hỏi này. Tình hình này cũng không khác lắm ở sách giáo khoa Ngữ văn 12 (chương trình chuẩn). Sau đây là hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài cho bài Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc của Phạm Văn Đồng (Ngữ văn 12 tr 53 - 54).

1.      Tìm những luận điểm chính của bài viết. Anh chị thấy cách sắp xếp các luận điểm đó có gì khác với trật tự thông thường?

2.      Theo tác giả vì sao văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như: "những vì sao có ánh sáng khác thường" "con mắt của chúng ta phải chăm chú nhì thì mới thấy"?

3.      Tác giả đã giúp chúng ta nhận ra những "ánh sáng khác thường" nào của ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ Việt Nam qua:

- Cuộc sống và quan niệm sáng tác của nhà thơ;

- Thơ văn mà ông sáng tác để phục vụ cuộc chiến đấu chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc;

- Truyện Lục Vân Tiên

4. Vì sao tác giả cho rằng ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu đáng lẽ phải sáng hơn nữa không chỉ trong thời ấy mà cả trong thời đại hiện nay?

5. Có thể thấy bài văn nghị luận này không khô khan mà trái lại có sức hấp dẫn lôi cuốn. Vì sao?

Bài viết là một áng văn nghị luận mẫu mực có cấu hết sức chặt chẽ theo ba phần với luận đề và hệ thống luận điểm lôgic liên kết chặt chẽ. Như vậy hệ thống câu hỏi nên tiếp cận văn bản theo hướng ấy. Thế nhưng ở đây tác giả lại không khai thác theo hướng này. Bên cạnh đó ngay ở câu 1 SGK hỏi: Anh chị thấy cách sắp xếp các luận điểm đó có gì khác với trật tự thông thường? Đây là yêu cầu HS rất khó trả lời vì HS chưa tiếp cận được một cách toàn diện kết cấu của văn bản để nhận diện được mục đích của Phạm Văn Đồng khi triển khai trật tự các luận điểm trong văn bản Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc

Tất cả những điều đã trình bày ở trên chính là nguyên nhân khiến HS soạn bài "đối phó" với GV bằng loại sách "Học tốt" được bày bán trên thị trường. Điều này đã triệt tiêu khả năng tư duy cũng như khả năng độc lập trong việc tiếp cận văn bản của HS từ đó đã làm giảm sự hứng thú trong những giờ học Ngữ văn của các em.

Xuất phát từ thực tế ấy chúng tôi thiết nghĩ trên nền tảng gợi ý của hệ thống câu hỏi trong SGK GV giảng dạy Ngữ văn có thể biên soạn một hệ thống câu hỏi khác cụ thể hơn gắn liền với bài giảng của GV hơn. Đây chính là điều kiện thuận lợi để HS có thể chuẩn bị bài tốt hơn và GV có thể tiết kiệm được nhiều thời gian trên lớp. Như vậy nếu thực hiện tốt công việc này chúng tôi thiết nghĩ bài toán "cháy giáo án" trong giảng dạy Ngữ văn sẽ phần nào được giải. Đồng thời từ hệ thống những câu hỏi ấy GV sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng tự tiếp cận tác phẩm thoát li dần và không còn phụ thuộc một cách thụ động với những sách "học tốt". Vậy nên từ những điều đã trình bày trên chúng tôi tiến hành Xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn Ngữ văn 12 (Cả hai chương trình Nâng cao và Chuẩn).

3.      GIẢI PHÁP

3.1  Việc xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài soạn ngữ văn 12

Chúng tôi sẽ tổ chức soạn thảo hệ thống câu hỏi dựa trên nền tảng gợi ý trong sách giáo khoa (SGK) tuy nhiên chúng tôi chú trọng phương thức quy nạp khi xây dựng hệ thống câu hỏi đồng thời cố gắng đi theo trình tự lôgíc của kết cấu văn bản. Hệ thống câu hỏi mới sẽ cụ thể hơn chi tiết hơn mức độ gợi ý sẽ tuỳ thuộc vào năng lực chung của HS trong lớp học đang được GV trực tiếp giảng dạy. Đồng thời GV có thể yêu câu Nhóm học tập có thể thảo luận trước một số câu hỏi cần phải thảo luận nhóm.

3.2 Cách thức sử dụng Hệ thống câu hỏi cho bài soạn ngữ văn 12:

HS được GV cung cấp Hệ thống câu hỏi cho bài học mới sau mỗi tiết dạy. Cũng trong hệ thống câu hỏi ấy GV giảng dạy cũng lưu ý với HS những câu hỏi nào sẽ được sử dụng cho hoạt động thảo luận Nhóm để các Nhóm chuẩn bị trước. Trong quá trình tìm hiểu nếu gặp khó khăn HS có thể trình bày với cán sự học tập chuyên trách mãng Ngữ văn của lớp hoặc gặp trực tiếp GV giảng dạy Ngữ văn.

Ví dụ sau đây là hệ thống câu hỏi cho một bài cụ thể bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Tuyên ngôn Độc lập
Hồ Chí Minh

1.   Bản Tuyên ngôn Độc lập được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

2.   Đối tượng mà bản Tuyên ngôn hướng tới?

3.   Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn nhằn những mục đích gì?

4.   Phần 1: "Hỡi đồng bào cả nước.... có thể chối cải được"  Nội dung khái quát của phần 1?

-             Việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776) và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791) nhằm mục đích gì?

-             Tuy nhiên trong cuộc đối thoại này tác giả đã "suy rộng ra": " Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng dân tộc nào cũng có quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do" điều đó đã chứng minh được tầm vóc tư tưởng của Bác. Điều mới mẻ được  thể hiện trong câu nói ấy là gì?

1.      Phần 2 " Thế mà hơn 80 năm nay...dân tộc đó phải được độc lập" Nội dung khái quát của phần 2? (Thảo luận nhóm)

-             Pháp kể công "khai hoá" thì bản Tuyên ngôn đã

-             Pháp kể công "bảo hộ" thì bản Tuyên ngôn đã

-             Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản tuyên ngôn đã

-             Chúng nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã thắng Nhật vậy chúng có quyền lấy lại Đông Dương thì bản Tuyên ngôn đã

Ø Tất cả những lí lẽ bằng chứng trên dẫn đến kết luận không ai có thể phủ nhận được:

2.      Phần còn lại: Nội dung chính của Phần còn lại ?

3.      Phong cách chính luận Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào trong bản Tuyên ngôn độc lập?

BÀI TẬP VỀ NHÀ

Nghệ thuật viết văn chính luận đặc sắc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập



Trong hệ thống câu hỏi này chúng tôi đã cố gắng thể hiện kết cấu của bài học để HS có thể giải quyết từ phần trên cơ sở các em đọc kĩ văn bản. Đồng thời ở  Phần 2: Thế mà hơn 80 năm nay...dân tộc đó phải được độc lập". nội dung chính của đoạn này là: Cuộc tranh luận ngầm với luận điệu của thực dân Pháp. Đây là phần kiến thức có thể xây dựng bằng phương pháp Thảo luận nhóm. Do vậy chúng tôi cũng ghi nhận trước để các em có thể chuẩn ngay từ  ở nhà sau đó đến lớp thảo luận trước với các bạn trong nhóm.

Bên cạnh đó chúng tôi có thiết kế thêm bài tập về nhà để các em có thể thực hành thêm nhằm khắc sâu kiến thức. Ví dụ trong bài soạn trên chúng tôi xây dựng bài tập và yêu cầu các em làm ở nhà sau khi đã học xong bài Tuyên ngôn độc lập:

Nghệ thuật viết văn chính luận đặc sắc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập

3.2 Tác dụng của hệ thống câu hỏi trong Bài soạn Ngữ văn 12

v     Đối với GV

-        Tiết giảm được nhiều thời gian trên lớp kể cả với những câu hỏi yêu cầu HS thảo luận nhóm. Vì những kiến thức ấy đã có câu hỏi trước HS có thể tự thảo luận trước ở nhà cùng các thành viên trong nhóm.

-        Trên cơ sở sự chuẩn bị của HS trên hệ thống câu hỏi GV thuận lợi trong việc hệ thống hoá kiến thức nhằm giúp HS khắc sâu hơn kiến thức thông qua việc điều chỉnh những cách tiếp cận chưa hợp lí của HS đối với văn bản.

-        Tăng cường được khả năng thực hành cho HS thông qua hệ thống bài tập được chuẩn bị trước (đối với phân môn tiếng Việt và Làm văn).

v     Đối với HS

-         Có thể chuẩn bị tốt bài học trước khi lên lớp trên cơ sở hệ thống câu hỏi chi tiết cụ thể.

-         Có điều kiện thực hành rèn luyện trên những ngữ liệu mới ngoài SGK.

-         Hình thành dần khả năng tự học- một kĩ năng hết sức quan trọng trong việc thâm nhập cuộc sống trong tương lai của mỗi HS

KẾT LUẬN

Với những điều đã trình bày trên chúng tôi những mong có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn trong trường THPT Long Hiệp. Đặc biệt trong thời gian này những năm đầu của việc thực hiện đại trà chương trình SGK mới.  Mặc dù rất cố gắng nhưng ắt hẳn không thể tránh khỏi những sai sót chúng tôi mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn trong tương lai. Xin chân thành cảm ơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Nguyễn Thị Hồng Nam Tổ chức hợp tác trong dạy học Ngữ văn Cần Thơ 2006.

2.      Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) Ngữ văn 12 NXB GD 2007

3.      Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) Sách giáo viên Ngữ văn 12 NXB GD 2007

4.      Phan Trọng Luận - Trần Đình Sử   Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa 12 môn Ngữ văn NXB GD 2007

5.      Bùi Văn Sơn Hướng dẫn cán bộ quản lí trường học và giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

6.      Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) Ngữ văn 12 (Nâng cao) NXB GD 2007

7.      Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) Sách giáo viên Ngữ văn 12 (Nâng cao) NXB GD 2007.




([1]) Nói điều này không phải chúng tôi phủ nhận kết quả biên soạn của tập thể các soạn giả. Sở dĩ có tình trạng này là xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương (vùng sâu đông đồng bào dân tộc) năng lực học tập năng lực ngôn ngữcủa HS còn nhiều hạn chế trong khi hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa là là hệ thống chuẩn chung cho cả nước.

([2]) Trong khi khảo sát lại chương trình Ngữ văn 10 (Nâng cao) chúng tôi không thấy văn bản ca dao nào HS được học thể hiện rõ kết cấu đối đáp.

Nguồn: http://phongdiep.net/

More...

Trường Huỳnh Thúc Kháng kỉ niệm 90 năm thành lập và đón nhận DH anh hùng lao động (phần 1)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Chùm ảnh ghi lại không khí ngày lễ kỉ niệm 90 năm TL trường ( 20 21/11/2010)
Diễu hành chào mừng KN 90 năm TL trường

Dieu hanh truoc mit tinh KN 90 nam1






Với HS bên tượng Cụ Huỳnh Thúc Kháng

Lễ dâng hương trước tượng Cụ Huỳnh Thúc Kháng



Màn trống hội chào mừng lễ kỉ niệm

Văn nghệ chào mừng kỉ niệm 90 năm HTK

Nghi lễ mít tinh

Quân nhạc (QK4)

Đại biểu dự mít tinh kỉ niệm




chị Thành



 PTT chính phủ ủy viên TW Đảng Nguyễn Thiện Nhân và các đ/c lãnh đạo nhà nước
Thầy Nguyễn Xuân Phong (nguyên hiệu phó HTK)cùng các đại biểu dự lễ

Đ/c  Trần Minh Xuyên đọc diễn văn kỉ niệm

Với cô giáo cũ (Trần Quý Hạnh) và các bạn lớp phổ thông
Với Lê Kiều Nga (Học sinh khóa 1986-1989 )   
Mình và Đ/c Lê Đức Thúy (Học sinh khóa 1965-1968 nguyên thống đốc NH nhà nước)

Anh Võ Hữu Nhân (học sinh khóa 1976-1979 trước mình một năm Frown)

Với HS trước ngày 20-11

Ban văn nghệ nhà trường

Với các bạn10T của mình (1977-1980)
    (còn nữa)

More...