Bi kịch gia đình trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng


         Mùa lá rụng trong vườn được Ma Văn Kháng viết xong tháng 12 năm 1982 xuất bản lần đầu năm 1985. Từ đó đến nay tác phẩm được tái bản nhiều lần. Năm 2001 nhà biên kịch Đặng Minh Châu chuyển thể Mùa lá rụng trong vườnĐám cưới không giấy giá thú thành kịch bản văn học; đạo diễn Quốc Trọng dựng thành phim nhiều tập Mùa lá rụng
         Với vai trò là một trong những cuốn sách "tiền trạm" của Đổi mới mà ở đó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt ngay khi vừa ra đời Mùa lá rụng trong vườn đã được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình. Chỉ trong hai năm 1985 và 1986 đã có hàng chục bài báo viết về tác phẩm này; báo Người Hà Nội đã tổ chức thảo luận bàn tròn về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn; Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B về văn xuôi cho Mùa lá rụng trong vườn. Đã hơn hai mươi năm trôi qua trong khi biết bao tác phẩm một thời được coi là tiếng nói của thời đại là "sách gối đầu giường" đã vơi cạn sức hút Mùa lá rụng trong vườn vẫn còn được tìm đọc và còn gợi được nhiều suy nghĩ.
        Mùa lá rụng trong vườn viết về đề tài gia đình một đề tài không mới trong văn học Việt Nam hiện đại. Ngay từ những năm ba mươi của thế kỷ XX nhiều sáng tác của Tự lực văn đoàn đã khai thác đề tài này. Các tiểu thuyết Đoạn tuyệt Lạnh lùng (Nhất Linh); Nửa chừng xuân Thừa tự Gia đình Thoát ly (Khái Hưng); Gánh hàng hoa (Nhất Linh - Khái Hưng)... đã tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân đấu tranh cho tự do hôn nhân cho quyền sống của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến trong đại gia đình phong kiến. GS. Trương Chính đã đánh giá rất cao đóng góp của Tự lực văn đoàn trên vấn đề kêu gọi giải phóng phụ nữ và tự do hôn nhân (dĩ nhiên là bằng văn học và theo kiểu của văn học). Ông viết: "Các nhà văn Tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt của chế độ phong kiến đặc biệt là luân lý phong kiến đối với phụ nữ. Họ chủ trương tự do hôn nhân tự do yêu đương xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu đôi lứa. Họ căm thù cảnh mẹ chồng nàng dâu họ chủ trương đàn bà trẻ được tự do cải giá họ vạch bộ mặt giả dối xảo quyệt của những người mẹ ghẻ. Họ đứng về phía những người chống lại lớp người cũ. Họ đứng về phía cá nhân chống lại chế độ gia đình" [3 tr. 15]. Từ sau 1945 đất nước phải trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc. Lúc này vận mệnh dân tộc được đặt lên hàng đầu. Vấn đề cá nhân gia đình trở thành thứ yếu. Theo GS. Nguyễn Đăng Mạnh các nhà văn thời kỳ này "chủ yếu làm công việc đốt lửa nhiệt tình trong độc giả bằng cách mô tả và ngợi ca những tấm gương chói lọi trong chiến đấu hy sinh... Những tác phẩm viết về sản xuất hay những đề tài khác cũng thế vấn đề đặt ra chủ yếu cũng là vấn đề ý chí cách cách mạng nhiệt tình cách mạng [4 tr. 460]. Mặt khác một thời do nhận thức rằng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa không có bi kịch nên  người ta nghĩ là có thể bỏ qua việc nghiên cứu các quan hệ gia đình cho rằng các quan hệ cha con vợ chồng anh em... hình như chẳng có gì phải bàn bạc nữa. Mọi người đều đặt quyền lợi của tập thể của dân tộc lên trên hết. Cả dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong các sáng tác lấy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm bối cảnh nếu có miêu tả xung đột gia đình các nhà văn thường khai thác mâu thuẫn nảy sinh giữa lớp trẻ sục sôi nhiệt huyết say mê lý tưởng với các thành viên thủ cựu trong gia đình (thường là ông bố - kẻ đại diện cho quyền lực của chế độ gia trưởng) để khẳng định con đường làm ăn tập thể con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Riêng với những tác phẩm viết về đề tài "chiến đấu" gia đình lại được nhìn nhận như một "tổ chức" thống nhất tất cả mọi người đều ủng hộ giúp đỡ nhau hoàn thành tốt công việc của tập thể của xã hội. Đó là gia đình chị Tư Hậu (trong Một truyện chép ở bệnh viện - Bùi Đức Ai) má Bảy (trong Gia đình má Bảy - Phan Tứ) chị Út Tịch (trong Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi)... Một cách nhìn nhận thể hiện như thế về gia đình là do yêu cầu lịch sử do quy định của hoàn cảnh nên khó có thể khác được.
          Đặt trong bối cảnh đó có thể nói Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn đã có công khơi lại mạch viết về chủ đề gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỷ trong văn học Việt Nam.
Cũng đề cập chuyện gia đình nhưng là gia đình Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới của đất nước Mùa lá rụng trong vườn  không nói lại những vấn đề từng được các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn giải quyết khá ổn thỏa mà  tập trung bàn về tính phức tạp trong các mối quan hệ thuộc nội bộ gia đình hoặc giữa gia đình với xã hội với dân tộc. Dưới cách đặt vấn đề mới của tác giả các mối quan hệ thông thường giữa cha và con vợ và chồng anh và em bố chồng và nàng dâu chị dâu và em chồng... bỗng trở thành điểm thử thách sự bền vững của kiểu gia đình truyền thống trong cuộc va chạm với kiểu gia đình hiện đại. Nguy cơ rạn nứt đổ vỡ trong từng gia đình do vậy cũng được dự báo kịp thời. Ngoài những điều đó ở Mùa lá rụng trong vườn tác giả còn nêu lên sự tác động đáng ngại của xã hội  thời mở cửa đối với tổ chức gia đình vốn dĩ rất dễ bị thương tổn. Việc đề cao đồng tiền quá mức việc sống buông thả theo dục vọng thấp hèn (mặt trái của nền kinh tế thị trường) rất dễ làm xói mòn mọi giá trị truyền thống làm đảo điên xã hội.
           Mùa lá rụng trong vườn kể chuyện một gia đình trí thức còn giữ nhiều nền nếp cổ truyền. Nhìn trên nét lớn đây cũng là một gia đình kiểu "tứ đại đồng đường" (dù không thật điển hình) bởi ở trong gia đình lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (gia đình Đông - Lý gia đình Luận - Phượng và sau này có thêm vợ con Cừ). Bề ngoài đây là một gia đình mô phạm mẫu mực có nề nếp gia phong: "Ôi cái gia đình gồm hai ông bà xưa nay được tiếng là mô phạm mẫu mực với năm anh con trai năm hòn ngọc quý anh là liệt sĩ anh đóng trung tá anh làm nhà báo anh đi học nước ngoài... anh nào cũng đẹp người đẹp nết cùng mấy cô con dâu cán bộ nhà nước cô nào cũng đảm cũng dễ thương ưa nhìn cái gia đình rất đáng tự hào về sự hoà mục tiêu biểu cho các quan hệ của con người trong một gia đình thuộc xã hội mới". Vậy mà cuộc sống khó khăn đầy biến động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình "mẫu mực" ấy vào một bước ngoặt với những dấu hiệu rạn nứt rõ ràng không dễ khắc phục.
         Sự xáo trộn dữ dội như một quy luật tất yếu của xã hội trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã ảnh hưởng đến mọi gia đình Việt Nam. Ma Văn Kháng đã dùng hình ảnh ẩn dụ mùa lá rụng để nói lên qui luật đó. Mọi loài cây trong vườn vào mùa thay lá đều biến đổi. Chúng trút bỏ những chiếc lá vàng cũ kỹ thay vào đó là những chiếc lá non tơ mơn mởn. Nhưng những chiếc lá mới ấy cũng mọc lên từ những cành mà trước đó không lâu nó đã rũ bỏ không thương tiếc những chiếc lá cũ. Bởi thế Mùa lá rụng trong vườn  không chỉ đề cập vấn đề "thời kỳ quá độ đôi khi cuốn hút chúng ta vào những mục tiêu kinh tế cơ sở vật chất kỹ thuật... mà xem nhẹ việc xây dựng con người xây dựng cá nhân xây dựng cá tính..."[4. tr. 280] hay "lối sống ích kỷ buông thả theo những dục vọng thấp hèn coi đồng tiền là trên hết bất chấp những nguyên tắc luật lệ của đạo đức xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào từng gia đình làm đảo lộn những gì trước đây cho là thiêng liêng cao cả" [1 tr. 46] mà còn nêu lên yêu cầu đổi mới gia đình truyền thống cho phù hợp với xã hội mới. Truyền thống văn hoá dân tộc và truyền thống gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong thời đại mới là những vấn đề cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm. Khăng khăng giữ lại tất cả những gì của ngày xưa không phải là chuyện hợp thời nhưng thoát ly truyền thống phá vỡ mọi nề nếp nhất định sẽ dẫn tới bi kịch. 
         Mùa lá rụng trong vườn trước hết là hồi chuông cảnh tỉnh những người có tư tưởng thủ cựu cố duy trì níu kéo kiểu gia đình truyền thống. Trong tác phẩm ông Bằng là người đại diện cho lớp người đó. Ông cố gắng duy trì cái nề nếp cổ xưa với hàng trăm điều nhỏ nhặt nhằm xây dựng gia đình hoà thuận trên kính dưới nhường trọng nghĩa khinh tài hướng về sự phát triển đạo đức tinh thần. Đối với ông danh dự gia đình là trên hết. Ông luôn khuyên dạy các con mình phải giữ gìn danh dự: " Phải giữ gìn các con ạ. Giữ gìn từ những cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại hợp thành văn hoá nền tảng đạo lý đấy". Vì danh dự gia đình mà ông đánh Cừ - người con trai mới mười ba tuổi - một trận đòn "thiếu sống thừa chết" rồi thẳng thừng đuổi con ra khỏi nhà mặc dầu không biết đích xác Cừ có phải là người lấy cắp đồng hồ của khách hay không. Ông muốn dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang tàn phá cuộc sống. Trong những dịp chuyện trò với con cái hay dịp cúng gia tiên vào cuối năm ông luôn nhắc đến những kỷ niệm đẹp những đứa con ngoan thành đạt mà cố lảng tránh Cừ - người con trai bất trị đã bỏ cơ quan trốn đi biệt tích - nhưng lòng ông luôn nổi sóng. Ông chống chọi với hoàn cảnh với sự thật phũ phàng thực ra là ông tự dối lòng mình. Trong con người ông luôn có cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội. Ông dùng lý trí để khước từ Cừ nhưng tình cha con trong ông không bao giờ phai nhạt. Hình ảnh Cừ luôn in đậm trong trái tim ông. Bởi vậy khi nghe Đông nói: "Theo con ba nên có một động tác: làm một cái đơn đưa tới uỷ ban khước từ nó không chịu trách nhiệm về nó" ông đã bị tăng huyết áp mặt tối sầm lại. Hoặc khi cầm bức thư Cừ từ nước ngoài gửi về tay ông run rẩy và không dám mở ra xem. Khi biết Cừ vỡ mộng về "miền đất hứa" và dùng cái chết để sữa chữa lỗi lầm ông đã ngã gục. Ông Bằng ngã gục không hoàn toàn vì việc Cừ phản bội tổ quốc chạy ra nước ngoài làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thanh danh gia đình. Ông vốn quá hiểu con mình: ngay từ nhỏ Cừ đã là một đứa trẻ hư hỏng bất trị vào bộ đội rồi mà vẫn sống buông thả sau đó phụ bạc vợ con và bỏ cơ quan trốn đi biệt tích... Cái chết thương tâm sự hối hận muộn màng của người con trai nơi đất khách quê người cùng việc nó nói ra sự thật về cách giáo dục câu nệ cứng nhắc hà khắc lỗi thời của chính ông đã làm ông gục ngã! Chính vì vậy trước lúc từ giã cõi đời ông đã hối hận nhận ra sai lầm của mình. Ông dặn các con: "Thằng Cừ lá rụng về cội thương xót vong linh nó".
         Cũng vì thanh danh gia đình mà ông hy sinh cả tình cảm riêng tư. Vợ chết ông mất thăng bằng. Cả nhà toàn là người lớn. Ban ngày họ đi làm. Hầu như ông phải sống thui thủi một mình ở nhà. Láng giềng có bà Lang Chí nhân từ hiền dịu và nhiều khổ đau. Đời bà là một chuỗi những mất mát thiệt thòi. Bà không được hưởng cái hạnh phúc thiêng liêng và giản dị như rất nhiều người đàn bà khác. Nay bà thường xuyên đến chữa mắt và săn sóc ông. Họ là những con người cô đơn đang khao khát một tình bạn khi tuổi xế tàn. Trong lần cùng bà hành hương về cội nguồn vào đầu xuân ông đã tìm được sự yên ổn. Những tưởng bà sẽ là người bạn tri kỷ tâm giao của ông nhưng ông lại dùng lý trí cưỡng lại khát vọng cháy bỏng và chân thật đó. Đây là những suy nghĩ và hành động mang nặng tư tưởng cổ hủ lỗi thời. Trong con người ông đầy mâu thuẫn. Bề ngoài ông tỏ ra vững vàng kiên định nhưng bên trong ông rất hoang mang. Ông lo sợ khôn nguôi về một sự đổ vỡ trong gia đình. Sự chênh vênh chao đảo bất ổn trong tâm hồn ông Bằng cũng phản ánh phần nào thái độ chênh vênh phân vân của ngòi bút Ma Văn Kháng. Một mặt nhà văn lờ mờ cảm nhận được có cái gì đó không ổn không hợp thời của kiểu gia đình xưa nhưng mặt khác ông lại luyến tiếc những nề nếp những tôn ti trật tự tạo nên truyền thống gia đình người Việt. Do đó trái tim ông đập cùng nhịp với trái tim ông Bằng nhưng lý trí lại mách bảo ông điều ngược lại. Quả thật phải xét thời điểm ra đời của tác phẩm (viết xong năm 1982 trước Đổi mới bốn năm) chúng ta mới thấy hết tính dự báo của nó; mới nâng niu trân trọng những cách tân táo bạo của nhà văn.
         Mùa lá rụng trong vườn còn đề cập một thực trạng đáng báo động nữa của xã hội buổi giao thời: không ít người có lối sống ích kỷ chỉ biết chạy theo dục vọng cá nhân chạy theo đồng tiền thoát ly truyền thống phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội... Tất cả những điều đó đang hàng ngày hàng giờ làm băng hoại mọi mối quan hệ gia đình. Trong gia đình ông Bằng xuất hiện hai con người nổi loạn muốn hê tung tất cả phủ định sạch trơn mọi chuẩn mực đạo đức truyền thống là Cừ và Lý. Cừ vốn là kẻ "trong người đã có sẵn cái mầm hư hỏng". Mọi lời khuyên bảo dạy dỗ của ba mẹ đối với Cừ chỉ là hành động "đạo đức giả". Trong thâm tâm Cừ "coi đạo đức là con số không vô nghĩa" nên dù bị chửi mắng đánh đập doạ nạt đủ điều Cừ vẫn chứng nào tật nấy. Đi bộ đội Cừ luôn viết thư về nhà kêu khổ để "tróc" cho được nhiều tiền của ba mẹ. Cừ lại  coi việc hệ trọng "trăm năm"  chỉ là "chuyện sinh hoạt vặt vãnh". Hơn thế sau khi để lại cho một cô gái nhẹ dạ hai đứa con Cừ rũ bỏ trách nhiệm làm chồng làm cha rồi rủ rê một người đàn bà khác trốn chồng cùng mình vượt biên. Chỉ khi đến được "miền đất hứa" thì Cừ mới tỉnh ngộ và  nhận ra rằng "làm kẻ nô lệ dẫu có đeo đầy vàng thì cũng vẫn nhục" và "con đã đánh mất cái quý giá lắm! Mỗi người chỉ có thể thuộc về một dân tộc nhất định từ trong tâm hồn. Con người sống có hai nhu cầu vật chất và tinh thần. Phá vỡ đạo đức thì gặp ngay hung bạo. Khinh rẻ giá trị tinh thần thì đời sống trống rỗng hoang tàn... Con đã oán giận một cái gì đó cay cú một cái gì đó. Rồi lại ước ao một cái gì đó. Bây giờ thì vỡ mộng phản tỉnh với cái ước ao tiếc nuối cái đã oán giận cay cú". Như người đi vào đường hầm càng vào sâu càng bế tắc Cừ đã chọn cái chết nơi đất khách quê người để chuộc lỗi lầm của mình.
          Khác với Cừ là nhân vật chỉ hiện lên gián tiếp thông qua lời kể của các thành viên trong gia đình và qua nội dung bức thư tuyệt mệnh anh để lại Lý là nhân vật được Ma Văn Kháng khắc hoạ rất đậm nét trong tác phẩm. Lý là nhân vật phức tạp có cá tính có đời sống nội tâm phong phú. Có lúc chị đôn hậu đáng yêu có lúc chị đanh đá tàn nhẫn. Nhà nghiên cứu Vân Thanh đã có những đánh giá về Lý như sau: "Nhân vật này mang nhiều nét đổi mới trong bút pháp tác giả. Đó là một phụ nữ đẹp sắc sảo tháo vát nhưng ít học. Khi còn trẻ là một thiếu nữ mơ mộng chị đã lấy một anh bộ đội hiền lành. Tự hào về sự anh dũng chiến đấu của chồng chị đã chung thuỷ với chồng suốt những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt đã một mình nuôi con thành người. Nhưng chị lại là một con người thích quyền hành muốn sai khiến người khác dám đứng mũi chịu sào tự coi mình hơn người chị lại thích ăn diện thích theo đòi cuộc sống xa hoa"[2 tr 161]. Đánh giá trên tuy chính xác nhưng còn thiếu phần lý giải. Nhà nghiên cứu chưa chú ý chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những thay đổi dữ dội trong con người Lý.
         Trước hết kiểu gia đình nề nếp gia phong như nhà ông Bằng hoàn toàn xa lạ với Lý. Lý mồ côi bố mẹ từ lúc còn rất nhỏ. Tuổi thơ chị không được sống trong mái ấm gia đình lớn lên lại không được cắp sách đến trường như bao đứa trẻ khác và sớm bị tiêm nhiễm lối sống xô bồ nơi thị thành. Ngay từ những năm đầu lên thành phố sống với chú Lý đã quen với "những câu đùa cớt nhả những lời ướm hỏi bóng gió và cái lối tán tỉnh sàm sỡ của đám trai hàng phố". Tuổi mười lăm Lý " đã thinh thích một cái nhìn đưa đẩy một cái vuốt má nghịch ngợm của một người đàn ông". Nhà Lý ở cạnh nhà vợ chồng viên quan ba tàu bay. Hàng ngày chứng kiến cảnh cô vợ anh ta thướt tha trong bộ áo dài hoa hiên đi ra chợ tìm đến những hàng bún hàng phở ngon nổi tiếng rồi nửa buổi trở về với một làn đầy thức ăn niềm ao ước cuộc sống lứa đôi cuộc sống đủ đầy xa hoa hưởng lạc thức dậy mãnh liệt nơi chị. Chị sớm tìm được thần tượng cho mình. Vì vậy khi Đông xuất hiện trong bộ quân phục sĩ quan sao vàng lấp lánh trên mũ khẩu súng ngắn K54 kênh kênh bên hông là "Lý cảm mến và chẳng bao lâu đã yêu tha thiết anh đại uý quân đội nhân dân Việt Nam nọ". Yêu Đông lấy Đông là Lý yêu và lấy một thần tượng là biến cái mộng thành vợ một sĩ quan như nữ sinh Đồng Khánh vẫn hằng lưu giữ trong tâm trí thành hiện thực chứ thực ra Lý chưa hiểu gì về con người Đông. Tiếp đó Đông đi chiến đấu biền biệt. Năm thì mười hoạ anh mới được sống cùng vợ trong dịp nghỉ phép hay ra Hà Nội công tác. Trong chiến tranh những dịp ấy vô cùng hiếm hoi. Bởi vậy thời gian họ sống với nhau vô cùng ít ỏi. Từ khi Đông trở về "hình ảnh một ông trung tá trong nỗi nhớ một ông trung tá được miêu tả hết sức trừu tượng nhưng đầy hãnh diện trước mọi người" ở chị không còn. Bây giờ Đông là xương thịt như mọi người đã về hưu tự coi mình đã hoàn thành nghĩa vụ sống đơn giản bằng lòng với cuộc sống buồn tẻ - điều đó đã làm cho Lý hoàn toàn vỡ mộng. Câu nói: "Không hiểu tại sao tôi lại lấy ông đấy ông Đông ạ?" trở thành câu nói  thường nhật mỗi khi chị không bằng lòng với chồng. Thêm nữa tuổi 40 là tuổi hồi xuân sắc đẹp của người phụ nữ đạt đến độ viên mãn nhất. Lý vốn đẹp nay càng đẹp và  hấp dẫn hơn. Chị vẫn giữ nguyên vẻ tươi mát và duyên dáng. Nhiều người vẫn trầm trồ ngưỡng vọng chị. Bản thân Lý cũng cảm nhận và tự hào về vẻ đẹp hình thể của mình. Sáng sáng chị thường đứng trước gương ngắm tấm thân  ngọc ngà trẻ trung gần như khỏa thân của mình.  Nhưng Đông thờ ơ  trước vẻ đẹp và những đòi hỏi chính đáng của chị không còn là chỗ dựa tinh thần để chị có thể xẻ chia hay bộc bạch nỗi niềm tâm sự. Trong khi đó bên chị không hiếm những kẻ nhăm nhăm lợi dụng cái phần tối tăm mà thực sự chị  cũng có thừa. Sự năng động tháo vát của chị được lãnh đạo xí nghiệp sử dụng triệt để. Có điều họ chỉ chú ý vào kết quả mà không quan tâm đến hành vi và cách thức làm việc để đạt được kết  quả đó của chị nên Lý không phân biệt được tốt -  xấu trắng - đen phải - trái. Mặt khác họ tâng bốc chị quá mức. Nào là "cô là con người năng động nhất" nào là "chị ấy là con dao pha của chúng tôi". Vì thế Lý nhầm  tưởng những hành động "đi cửa sau" của mình là thức thời năng động phù hợp với xu thế thời đại. Từ đó Lý có cái ảo tưởng mình có vai trò rất quan trọng "chị ngây ngất vì vinh quang lòng tràn ngập cái cảm giác mình là nhân vật nổi trội nhất tài năng nhất có quyền hành cao nhất lúc này". Chị thường kể một cách hào hứng với vẻ đầy tự hào về những việc làm của mình. Hơn thế hàng ngày chị trực tiếp làm việc với tay trưởng phòng vật tư thoái hoá lẳng lơ lắm tiền nhiều mưu kế. Hắn sử dụng mọi mánh khoé xảo quyệt để quyến rũ chị. Sự chiều nịnh khéo léo cùng sự sành điệu trong các ngón ăn chơi của hắn đã đẩy Lý từ chỗ không làm chủ được cám dỗ vật chất đến sa ngã hư hỏng. Tuy nhiên những lúc tỉnh táo chị hoàn toàn phân biệt được đâu là phải đâu là trái đâu là tốt đâu là xấu. Chị nhận ra chân tướng thủ đoạn của tay trưởng phòng và vạch trần bản chất xấu xa của anh ta. Chị cảm thấy ghê tởm anh ta ghê tởm cả chính mình và thề sẽ không bao giờ gặp lại hắn nữa. Lúc ấy chỉ cần có người tin cậy nâng đỡ an ủi sẻ chia là chị vượt qua được sự chông chênh đó. Nhưng người chồng vô lo đến mức vô tâm của chị đã không làm được việc ấy. Vì thế tâm trạng Lý xáo động: có nhiều chiều lang thang vô định như kẻ mắc bệnh trầm cảm có những buổi vẩn vơ một mình trên ghế đá và những đêm dài ngột ngạt trơ trọi trong buồng vắng. Cuối cùng Lý phó mặc cho "những cảm giác đòi thoả mãn và bất chấp" sai khiến dẫn chị đến chỗ buông xuôi trượt ngã.
         Bản tính Lý là người thích quyền hành thèm sai khiến người khác tự coi mình là quan trọng là hơn người. Từ ngày có Phượng chuyển về vai trò của Lý trong gia đình giảm dần. Tệ hại hơn sự tin cậy của mọi người đối với chị cũng không được như xưa. Luận gián tiếp nói lên điều đó khi ca ngợi chị Hoài là người chín chắn trung thực "hoàn toàn tin cậy được". Cần khéo léo từ chối sự mối mai của chị khi thông báo tháng sau cưới vợ. Còn ông Bằng trong chúc thư trao sổ tiết kiệm ba ngàn đồng cho Phượng chứ không phải cho chị mặc dù chị là cô dâu trưởng và từ trước đến nay mọi việc lớn nhỏ trong nhà đều do bàn tay chị xếp đặt. Thêm nữa Luận vốn là người hiểu và kính phục chị luôn ca ngợi chị tài giỏi tháo vát chân tình... nhưng bây giờ công khai lên án chị gay gắt gọi chị là "quỷ sa tăng". Niềm tin cậy chỗ bám víu của chị trong gia đình không còn. Chị trở nên cô độc trơ trọi. Gia đình giờ đây đâu còn là nơi an lạc của chị! Mọi người trong nhà giờ đâu còn chở che nâng đỡ vỗ về an ủi chị! Bao nhiêu bực dọc bao nhiêu cay đắng bao nhiêu ấm ức bấy lâu chất chứa trong lòng chị tuôn ra. Chị như kẻ cùng đường xù lông xù cánh chống trả: "Đối đáp bốp chát ăn miếng trả miếng chửi vỗ mặt nhau đanh đá hàng tôm hàng cá thơn thớt dựng chuyện vu khống đê tiện một cách nanh ác". Những nét thô kệch phàm tục do thiếu văn hoá căn bản trong Lý bộc phát ra hết vì thế lúc này con người chị chỉ rặt những nét trâng tráo vô liêm sĩ bản năng và hoang dã.
         Lý cùng đường. Mọi sợi dây ràng buộc chị với chồng và các thành viên trong gia đình đứt tung. Chị buông thả theo lối sống phóng túng sa đoạ trác táng với tay trưởng phòng vật tư thoái hoá biến chất. Sự hư hỏng của Lý diễn ra dần dần theo một quá trình buông thả mà không được sự hướng dẫn giáo dục của tập thể người thân. Chị vừa thiếu một nền tảng căn cốt văn hoá vừa thiếu một người tri kỷ định hướng nâng đỡ về tinh thần lại chịu tác động mạnh mẽ những mặt trái của kinh tế thị trường khiến chị không cưỡng lại được sự cám dỗ vật chất lối sống vị kỷ thực dụng bản năng. Nhà văn luôn dõi theo những bước chân của Lý. Ông sung sướng hả hê khi Lý là một nàng dâu xinh đẹp đảm đang; một viên chức mẫn cán. Ông hóa thân vào ông Bằng ca ngợi Lý hiếu thảo; hóa thân vào Luận khen Lý tài giỏi chân tình; mượn lời Phượng lời ông thiếu tá khen Lý trẻ đẹp hay lời ông giám đốc xí nghiệp đánh giá Lý năng nổ tháo vát. Ngược lại khi Lý sa ngã hư hỏng ông đau đớn xót xa. Nỗi đau xót có khi nhà văn âm thầm nuốt vào lòng nhưng phần nhiều được bột phát thành những lời phê phán khá quyết liệt. Giận Lý trách Lý chủ yếu là để trách cứ những thành viên trong gia đình đã không nâng đỡ che chở và định hướng cho Lý; là trách tập thể xã hội không giáo dục uốn nắn kịp thời những sai phạm của chị mà lại bỏ mặc và cuối cùng bỏ rơi chị. Chính vì thế nhà văn đã chọn giải pháp để chị hối hận nhận ra sai lầm và xin trở lại mái nhà xưa. Mọi người trong gia đình cũng nhận thức được trách nhiệm của mình về sự sa ngã của chị và mở rộng cánh cửa đón chị trở về.
          Một năm trôi qua gia đình ông Bằng xẩy ra biết bao chuyện. Có ai ngờ ngôi nhà bề ngoài tưởng là êm ấm thuận hoà ở đầu cái phố đẹp ẩn mình dưới vườn cây yên tĩnh lại là một vùng chứa nhiều sóng gió đến thế. Một số thành viên trong gia đình  có người phải từ giã cõi đời có kẻ phải tìm đến cái chết có kẻ thương tích đầy mình nhưng tất cả đã nhận ra chân lý: gia đình dù chỉ là giọt nước của biển cả song nếu thiếu những giọt nước nhỏ bé ấy thì làm sao có được đại dương bao la! Chúng ta những độc giả của Mùa lá rụng trong vườn không phải không có lúc băn khoăn về những trang viết có phần cường điệu về tính vô tâm vô trách nhiệm và thái độ thụ động trước hoàn cảnh của Đông - một trung tá đã trải qua mấy chục năm "vào sinh ra tử". Chúng ta cũng không hoàn toàn bằng lòng với một số giải pháp tác giả đặt ra trong tác phẩm chẳng hạn việc ông để các nhân vật "nổi loạn" nhận ra lỗi lầm của chính họ quá dễ dàng. Nhưng về cơ bản Mùa lá rụng trong vườn là một tác phẩm tốt để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc giúp họ thức nhận được vai trò quan trọng của mái ấm gia đình và những thông điệp nhà văn gửi gắm trong tác phẩm là đổi mới phải gắn liền với kế thừa. Đổi mới nhưng không bao giờ quên những tinh hoa truyền thống. Có như vậy chúng ta vừa tránh được tụt hậu vừa giữ vững bản sắc dân tộc trong việc  xây dựng gia đình xã hội Việt Nam hiện đại phù hợp  với xu thế hội nhập của thời đại mới.  

                                (Nguồn Vietnamthuquan.net)

More...

Tiếp cận văn bản Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 

 

            I. Về thể loại - loại hình

            Có thể xếp Chiếc thuyền ngoài xa vào loại truyện mang tính chất luận đề tức là loại truyện mà ở đó tác giả không giấu diếm ý định của mình muốn "luận" đến mức rốt ráo về một vấn đề nào đó của đời sống của nghệ thuật. Thực ra đã là một sáng tác văn học có giá trị không tác phẩm nào lại không chứa đựng một cái nhìn một tư tưởng của nhà văn về hiện thực. Nhưng trong tác phẩm luận đề cái nhìn tư tưởng này lộ ra ở bình diện thứ nhất và mọi chi tiết tình tiết mọi hình ảnh đều được đưa vào một quan hệ mang tính "sắp đặt" rõ rệt. Dĩ nhiên đối với những nhà văn tài năng (như Nam Cao với truyện Đôi mắt như Nguyễn Minh Châu với các truyện ngắn Bức tranh Bến quê Dấu vết nghề nghiệp Chiếc thuyền ngoài xa ...) việc tô đậm luận đề không đồng nghĩa với việc biến mọi sự kiện nhân vật được kể tới thành một cái "loa" phát ngôn tư tưởng thuần tuý. Tính thẩm mĩ sống động của các đối tượng vẫn luôn được coi trọng. Những điểm dị thường phi lí (theo cách nhìn nhận thông thường) nếu có xuất hiện đều cần được nhìn nhận dưới một ánh sáng khác. Chúng tồn tại như các biểu hiện đặc thù thuộc phạm trù "loại" của truyện luận đề. Hiểu như thế độc giả có thể sẽ thôi bắt bẻ việc nhà văn đưa vào tác phẩm một số chi tiết không "thực" (như chi tiết người đàn ông làng chài đánh vợ trút giận dữ theo đúng... thoả thuận). Quả tình lúc mới xuất hiện nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong hai tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) Bến quê (1985) đã từng bị "phê" trên vấn đề này. Cần nói thêm là loại truyện luận đề thường xuất hiện vào những thời điểm mà các nhà văn có nhu cầu tuyên ngôn về quan niệm sáng tác - thời điểm có những bước ngoặt trong sự phát triển của văn học nói chung.

            Chiếc thuyền ngoài xa lấy cảm hứng từ các vấn đề thế sự. Có thể gọi cảm hứng của nó là cảm hứng thế sự khác với cảm hứng sử thi - lãng mạn từng chi phối sáng tác Nguyễn Minh Châu giai đoạn trước 1975. Đặc điểm của tác phẩm mang cảm hứng thế sự là hướng về sinh hoạt hàng ngày của con người khẳng định giá trị thẩm mĩ của cái đời thường đi sâu khám phá hành trình của con người giữa một thực tại ngổn ngang nhằm tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định nhân cách. Loại tác phẩm này biểu thị sự đổi mới trong quan niệm của nhà văn về tính chân thực của văn học nhằm đưa văn học thoát khỏi tình trạng "minh hoạ" hay "tô vẽ" đề cập những chuyện xa lạ với mối bận tâm chính của bao con người đang phải lao vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn trong một hoàn cảnh đất nước đang đối diện với vô vàn khó khăn của thời hậu chiến. Sẽ rất thú vị nếu ta đọc Chiếc thuyền ngoài xa trong sự so sánh thường xuyên với những truyện khác của Nguyễn Minh Châu hay của một số nhà văn khác được sáng tác trong không khí sử thi của những ngày đánh Mĩ trước đây.

            Do ý thức được rất sâu sắc về sự bất cập của loại sáng tác văn học ưa ban phát chân lí và "dắt tay độc giả" trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu muốn theo đuổi một lối viết giàu tính đối thoại dân chủ với người đọc. Ta không bắt gặp ở đây những kết luận dễ dàng đơn giản. Cuộc sống bày ra nhiều nghịch lí luôn bắt ta phải suy nghĩ lại về vô số vấn đề trên cơ sở biết khắc phục loại bỏ những định kiến thành kiến những thói quen nhìn nhận đánh giá rất khô cứng đối với con người và sự vật sự việc. Trước những tác phẩm như truyện ngắn này tính tích cực của độc giả luôn được thử thách.

 

            II. tiếp cận văn bản

            Tên truyện ngắn là Chiếc thuyền ngoài xa. Cái tên ấy dễ gợi liên tưởng đến một cái tên đối ứng : Chiếc thuyền vào gần (hay đến gần). Có lẽ đây là phản ứng tâm lí ở độc giả mà nhà văn muốn "thấy" bởi nhờ nó cái "tứ" của truyện ngắn sẽ được người ta nhận thức một cách sâu sắc. ở ngoài xa chiếc thuyền giống như biểu tượng của cái toàn mĩ khiến khi chiêm ngưỡng nó trong ta dấy lên những xúc cảm trong trẻo nhẹ nhõm lâng lâng. Còn vào gần chiếc thuyền lại đưa đến biết bao bối rối làm ta phải không ngừng trăn trở dằn vặt. Tương quan giữa cái xa và cái gần ở đây hoá ra cũng là tương quan giữa cái bề ngoài và cái bề trong hoặc bề sâu. Nhìn từ xa ta chỉ thấy được cái bề ngoài thơ mộng (hay ngỡ là thơ mộng) của sự vật còn nhìn gần ta mới có cơ hội phát hiện cái bề trong phức tạp không cùng thậm chí gai góc của nó. Vậy nên nhìn sự vật từ xa để khỏi "mua phiền chuốc não" hay gắng tiếp cận sự vật ở tầm gần để lương tâm được thanh thản ? Đều hướng tới sự thanh thản cả nhưng "thanh thản" theo kiểu thứ nhất gần như đồng nghĩa với thái độ sống hoặc vô tâm hoặc cố tình "làm lơ" trước mọi sự còn thanh thản theo kiểu thứ hai thì lại mang ý nghĩa đạo đức cao cả gắn với thái độ can dự có trách nhiệm đối với đời và sẵn sàng chấp nhận những nhọc nhằn khổ não. Tất nhiên đối với tác giả truyện ngắn sự lựa chọn hướng về phía nào đã rõ ràng dứt khoát. Theo ông nghệ thuật phải cất lên tiếng nói về sự thật cuộc đời và người nghệ sĩ phải biết tập trung nhãn lực nhìn xuyên qua những cái bề ngoài "óng ánh" đôi khi mang tính chất lừa mị để nhận chân bản chất sự vật. Nhưng tác giả còn thấy thêm rằng : thực ra việc nhìn sự vật ở tầm gần không hề làm triệt tiêu cảm xúc về cái đẹp ngược lại nó càng làm cho cảm xúc về cái đẹp có thêm chiều sâu (dĩ nhiên cái đẹp lúc này đã được định nghĩa lại trên một nền tảng nhận thức mới về cuộc sống và nghệ thuật). Thấm nhuần tất cả những điều trên người nghệ sĩ sẽ có được khả năng hành xử tự do trong quá trình sáng tác. Phùng - người phóng viên nhiếp ảnh trong truyện - đã không dại dột tự tước đoạt của mình cái quyền chụp ảnh "chiếc thuyền ngoài xa". Nhưng khi chính anh đã thấy được cái bề sâu của sự vật bức phong cảnh "thuần tuý" do anh sáng tác vẫn có thể giúp người ta nhận ra bao nhiêu câu chuyện đời. Thì ra đối tượng miêu tả cụ thể là quan trọng nhưng một điều khác còn quan trọng hơn nhiều lần chính là thái độ cách nhìn đúng đắn đối với con người và thực tại. Nếu "đọc ra" những suy tư thâm trầm này của nhà văn độc giả hoàn toàn có thể giải thích được tính hữu lí của cái cảm giác "lạ lùng" mà nhân vật Phùng gặp phải (được kể tới ở cuối truyện) : "Quái lạ tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ tôi vẫn thấy hiện lên cái mầu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy ở bãi xe tăng hỏng và nếu nhìn lâu hơn bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn hoà lẫn trong đám đông...".

            Từ điểm nhìn ngày hôm nay có thể khẳng định : luận đề đặt ra trong Chiếc thuyền ngoài xa thật sự có ý nghĩa không chỉ đối với Nguyễn Minh Châu mà còn đối với cả nền văn học cách mạng Việt Nam thời kì từ sau 1975 đến những năm Đổi mới. Chính nó cho thấy tinh thần trách nhiệm rất cao đối với văn chương và trên hết là đối với cuộc đời của tác giả. Đồng thời nó cũng biểu lộ nỗ lực lớn khát vọng lớn của ông muốn đổi mới văn học đưa sáng tác thoát khỏi thói quen mĩ hoá lí tưởng hoá hiện thực (mà các tiểu thuyết truyện ngắn được viết ra trong thời chống Mĩ của chính ông đã góp phần tạo nên) để tiếp cận được "chất văn xuôi" của đời sống để đi sâu khám phá số phận con người - vấn đề cốt tử quy định chiều sâu nhân bản của một nền văn học.

            Một luận đề hay nếu không được biểu hiện bằng hình tượng nghệ thuật sinh động thì chắc chắn không gây được những ám ảnh lâu dài và sâu sắc. Là người viết Nguyễn Minh Châu ý thức rất rõ về điều này. Bởi vậy mà ông có Chiếc thuyền ngoài xa từng gây được dư luận sôi nổi đa chiều ngày nó mới ra đời. Không ít người đọc vào thời điểm đó có cảm giác khó khăn khi đến với tác phẩm. Do đã quen với một Nguyễn Minh Châu (nói rộng ra là quen với một loại hình sáng tác) thích hướng ngòi bút về những vấn đề của lí tưởng luôn thể hiện niềm tin lãng mạn về con người và cuộc đời lại thường "bao bọc nhân vật trong một bầu không khí vô trùng" (Ni-ku-lin) người ta bị "vấp" liên tục trước những tình huống nghịch lí mà nhà văn miêu tả trong Chiếc thuyền ngoài xa. Có một cái gì đó không thông thoát trong cái nhìn của nhà văn về cuộc đời chăng ? Có phải sự rối trí đã xuất hiện ở cây bút chiến sĩ thường vẫn vững vàng trong nhận thức tư tưởng ? Lại nữa liệu có thể nói tới sự "non tay" của tác giả khi xử lí các chất liệu hiện thực nhằm làm sáng tỏ cái luận đề đã được xác định trước ? Tất cả những phân vân đó của một bộ phận người đọc không phải không có lí. Trong văn học cách mạng từ trước đến khi ấy thật hiếm có một tác phẩm trưng ra cái hiện thực bộn bề như vậy mà không kèm theo những kết luận đủ rõ ràng để hướng đạo cho độc giả. Nhưng đã quyết chọn con đường đổi mới nghệ thuật nhà văn không thể nản bước. Trong khi có thể chưa tự tin lắm vào lí trí (và một phần vào tính hoàn thiện của tác phẩm) Nguyễn Minh Châu lại tỏ ra rất yên tâm với mẫn cảm nghệ sĩ của mình. Đối với ông hành trình viết cũng là hành trình nhận thức hành trình truy cầu sự thật. Trước khi các "tình huống nhận thức" trong truyện làm lay chuyển những thói quen suy xét vấn đề của độc giả chính chúng đã làm nhà văn "ngộ" ra bao điều hệ trọng về cuộc sống về sứ mệnh của văn chương.

            Có thể xem nhân vật Phùng là sự hoá thân của tác giả. Cho anh đóng vai người kể chuyện trong tác phẩm nhà văn muốn có điều kiện bộc lộ gần như trực tiếp những suy nghĩ của mình trước một hiện thực được nhìn ở tầm gần. Tất nhiên giác ngộ chân lí là cả một quá trình. Tác giả hẳn có chủ ý khi tô đậm niềm xúc động của Phùng lúc anh phóng viên này tình cờ bắt gặp "một cảnh "đắt" trời cho" trên đường "săn ảnh" - cảnh chiếc thuyền bơi trên mặt biển trong sương mù của buổi bình minh. Phùng là một nghệ sĩ nhạy cảm - điều này đã hiển nhiên. Nhưng "thông tin" chính mà tác giả muốn đưa tới cho người đọc không nằm ở đó. Cái ông muốn báo hiệu là : tạng chất nghệ sĩ theo kiểu của Phùng có cơ đưa người ta đến thái độ dễ bằng lòng với những vẻ đẹp bề ngoài của sự vật trong khi ở đời mọi chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Quả vậy khi chiếc thuyền "đâm thẳng" vào chỗ Phùng đứng để khởi đầu cho việc "trình diễn" một loạt chuyện dị thường Phùng thoạt đầu chỉ biết "đứng há mồm ra mà nhìn" trong trạng thái kinh ngạc tột độ. Rõ là Phùng hoàn toàn chưa có ý thức chuẩn bị cho mình một tâm thế sẵn sàng đối diện với muôn nghịch lí của cuộc đời. Tiếp theo cú sốc đầu tiên khi vô tình chứng kiến cảnh người đàn ông thuyền chài đưa vợ hắn ta lên bờ để đánh trút giận Phùng còn phải trải qua nhiều đợt "kinh ngạc" nữa : cậu bé Phác vốn thân với anh bỗng xa lánh và dường như thù ghét anh ; người đàn bà được anh "cứu" xem ra không mấy biết ơn ân nhân bất đắc dĩ thậm chí còn muốn anh không can dự vào chuyện của chị ta ; kẻ bị hành hạ dứt khoát không muốn bỏ người chồng đã nện mình như cơm bữa... Sau khi tận mắt chứng kiến những sự thật xót xa của cuộc đời cũng là những điều "không thể nào hiểu được" (dù đã cố tìm mọi cách giải thích theo định kiến và giới hạn hiểu biết của mình) Phùng dường như đã đổi khác. Chi tiết tả anh "khoác chiếc máy ảnh đi lang thang cho đến tận khuya" gián tiếp nói lên điều đó. Anh không còn hứng thú "triết lí" và thậm chí mất khả năng "triết lí" một cách dễ dàng về mối quan hệ giữa cái đẹp và đạo đức như khi đứng ngắm hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa. Anh để ngỏ tâm hồn cho bao cảnh sắc của một hiện thực ít thi vị ùa tới choán đầy xôn xao cất lời bằng tiếng nói riêng của chúng : "mây đen xếp ngổn ngang trên bãi biển đen ngòm" "sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên cao như những ngọn núi tuyết trắng" "những tàn lửa đỏ rực bay quẩn lên" "con thuyền đang chống chọi với sóng gió giữa phá" ... Đối với anh lúc này hẳn những kết luận sẵn có về cuộc đời bỗng trở nên quá nghèo nàn và hời hợt. Chúng tan đi nhường chỗ cho những cảm giác mới tụ lại và lớn dần lên.

            Trong truyện ngắn không chỉ có Phùng - nhân vật kể chuyện - mới trải qua quá trình từ ngạc nhiên tới vỡ lẽ và "bừng ngộ". Ông bạn Đẩu của anh cũng gặp tình huống nhận thức tương tự. Là chánh án Toà án huyện Đẩu muốn xếp đặt mọi việc đúng với pháp luật và cũng thuận theo lẽ phải thông thường. Thế nhưng anh luôn bị bất ngờ và những giải pháp "đúng đắn" mang tính lí thuyết do anh đề xuất đã bị thực tế đời sống bác bỏ. Người đàn bà đau khổ nọ đã từ chối việc li hôn theo lời khuyên của anh. Anh từng không hiểu "thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông" không hiểu cái lí của sự cam chịu ở những con người sống trong vòng vây của đói nghèo và lạc hậu cũng không hiểu sự đan cài rối rắm giữa tình thương và hành động tàn nhẫn giữa niềm vui và nỗi buồn trong một gia đình... Việc nghe chuyện của người đàn bà thuyền chài đã khơi lên trong anh cuộc đối thoại gay gắt giữa thói quen suy nghĩ một chiều và thái độ chấp nhận tính phức tạp muôn thuở của cuộc sống. Cuối cùng "một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển". Rồi Đẩu có đưa ra được giải pháp mới nào không để giải quyết "sự vụ" của gia đình thuyền chài ấy ? Điều này tác giả không nói tới. Mà biết nói làm sao bây giờ ! Cuộc sống dễ gì chấp nhận sự sắp đặt duy ý chí của chúng ta. Hãy để các phương án giải quyết vấn đề tự chúng hình thành trong đầu mỗi độc giả...

            Nhìn bề ngoài điều mà hai nhân vật Phùng và Đẩu vỡ lẽ trong hành trình nhận thức không hoàn toàn giống nhau. Chẳng có gì khó hiểu một khi ta đã biết công việc và nghề nghiệp của hai người vốn khác nhau. Nhưng xét ở bề sâu các chân lí được giác ngộ rất thống nhất. Chuyện của Đẩu vốn được kể qua lời của Phùng vậy nên nhận thức của Đẩu đã được "tích hợp" vào nhận thức của Phùng - một nghệ sĩ. Nếu cần khái quát ta có thể nói : vấn đề nhận thức trung tâm được đặt ra trong Chiếc thuyền ngoài xa chính là mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Vấn đề tuy không mới nhưng lại bắt ta phải không ngừng suy nghĩ. Mỗi nghệ sĩ mỗi thời kì văn học nghệ thuật sẽ có một lời giải của riêng mình. (Phan Huy Dũng)

 

 

 

 

 

 

)

More...

Tiếp cận văn bản "Đàn ghi ta của Lorca" (Thanh Thảo)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

          Theo lí thuyết văn học liên văn bản bất cứ văn bản nào cũng là một liên văn bản không phụ thuộc vào việc tác giả của văn bản có ý thức được điều đó hay không. Đọc Đàn ghi ta của Lor-ca có thể thấy mỗi từ mỗi chi tiết hình ảnh và cả hình tượng trung tâm trong đó đều là đầu mối của một quan hệ giao tiếp nghệ thuật rộng lớn mà nếu thiếu tri thức về các văn bản (hiểu theo nghĩa rộng) có trước đó thì độc giả không thể cảm nhận được hiểu được ý nghĩa của chúng. Lor-ca là nhà thơ như thế nào ? Đàn ghi ta của ông có cái gì đặc biệt ? Vầng trăng yên ngựa bước chân lang thang tiếng hát nghêu ngao bãi bắn tấm áo choàng bê bết đỏ giọt nước mắt vầng trăng trong đáy giếng lá bùa cô gái Di-gan ... là những cái gì đây ? Đó có thể là những câu hỏi thầm vang lên trong tâm trí độc giả bình thường khi tiếp nhận bài thơ. Nếu không chịu bỏ cuộc trên hành trình giải mã văn bản này và quyết tìm tới những văn bản khác đã làm nền cho nó (theo sự chỉ dẫn của các câu thơ trong bài) độc giả sẽ thực sự được đền bù. Trước mắt chúng ta lúc đó sẽ là một thế giới thi ca chói loà của thiên tài Lor-ca là bức tranh bi tráng về thân phận người nghệ sĩ trong một thời đại biến động như bão táp là vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật vượt lên trên mọi sự đe doạ của các thế lực bạo tàn hung hiểm. Từ những điều vừa thấy nhìn ngược lại văn bản thơ đã tạo cơ hội mở rộng chân trời hiểu biết cho mình - bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo - ta sẽ nhận ra từ đây một sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật thơ Lor-ca một suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp.

Trong nửa đầu bài thơ một không gian Tây Ban Nha đặc thù nhất là không gian miền quê An-đa-lu-xi-a yêu dấu của Lor-ca đã được gợi lên. Giữa không gian đó nổi bật hình tượng người nghệ sĩ lãng du có tâm hồn phóng khoáng tha thiết yêu người yêu đời nhưng nghịch lí thay lại không ngừng đi theo một tiếng gọi huyền bí nào đó hướng về miền đơn độc :

                        những tiếng đàn bọt nước

                        Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

                        li-la li-la li-la

                        đi lang thang về miền đơn độc

                        với vầng trăng chếnh choáng

                        trên yên ngựa mỏi mòn

                        ...

                        tiếng ghi ta nâu

                        bầu trời cô gái ấy

                        tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

                        tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

Tại sao tác giả lại có thể gợi lên được những điều ấy ? - Trước hết là nhờ "đàn ghi ta của Lor-ca". Tất nhiên ở đây ta không nói tới một cây đàn cụ thể dù vẫn biết Lor-ca là nghệ sĩ trình tấu rất xuất sắc ghi ta và dương cầm. Đàn ghi ta ở đây chính là thơ Lor-ca là bản mệnh của Lor-ca. Đọc thơ Lor-ca ta thường bắt gặp hình tượng một chàng kị sĩ đi mải miết vô định dưới vầng trăng khi đỏ khi đen khi rạng ngời khi u tối khi nồng nàn khi buốt lạnh ... Ta cũng thường được ngập mình trong phong vị hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Gra-na-đa thuộc xứ An-đa-lu-xi-a nơi ngày xưa từng được xem là "một trong những vương quốc đẹp nhất của châu Phi" do người ả-rập dựng nên. ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ có những cô gái Di-gan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống có những vườn cam những rặng ô-liu xanh một màu xanh huyền hoặc. Đặc biệt ở đó luôn vang vọng tiếng đàn ghi ta - âm thanh nức nở thở than làm vỡ toang cốc rượu bình minh tựa tiếng hát của một con tim bị tử thương bởi năm đầu kiếm sắc không gì có thể bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta)... Thanh Thảo quả đã nhập thần vào thế giới thơ Lor-ca để lẩy ra và đưa vào bài thơ của mình những biểu tượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Tây Ban Nha. Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự "trích dẫn". Tất cả những biểu tượng kia đã được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm là cây đàn mà xét theo "nguồn gốc" vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt trong thơ Lor-ca - người mê dân ca "chàng hát rong thời trung cổ" "con sơn ca xứ An-đa-lu-xi-a". Cây đàn từ chỗ mang hàm nghĩa nói về một định hướng sáng tạo gắn thơ với dòng nhạc dân gian rộng ra nói về một tình yêu vô bờ và khắc khoải đối với quê hương đến Thanh Thảo nó đã nhập một với hình tượng Lor-ca hay nói cách khác nó đã trở thành hình tượng "song trùng" với hình tượng Lor-ca. Cây đàn cất lên tiếng lòng của Lor-ca trước cuộc sống trước thời đại. Nó là tinh thần thơ Lor-ca là linh hồn và cao hơn cả là số phận của nhà thơ vĩ đại này. Bởi thế trên những văn bản thơ trước đây của Lor-ca là một văn bản mới của nhà thơ Việt Nam muốn làm sống dậy hình tượng người con của một đất nước một dân tộc yêu nghệ thuật ưa chuộng cuộc sống tự do phóng khoáng. Hơn thế nữa tác giả muốn hợp nhất vào đây một "văn bản" khác của đời sống chính trị Tây Ban Nha mùa thu 1936 - cái "văn bản" đã kể với chúng ta về sự bạo ngược của bọn phát xít khi chúng bắt đầu ra tay tàn phá nền văn minh nhân loại và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu Âu yêu quý :

                        Tây Ban Nha

                        hát nghêu ngao

                        bỗng kinh hoàng

                        áo choàng bê bết đỏ

                        Lor-ca bị điệu về bãi bắn

                        chàng đi như người mộng du

                        ...

                        tiếng ghi ta ròng ròng

                        máu chảy

ở trên bài thơ của Thanh Thảo đã được (hay bị) trích theo lối cắt tỉa phục vụ cho việc làm tường minh các ý thơ có trong đó. Trên thực tế Đàn ghi ta của Lor-ca có một cấu trúc đầy ngẫu hứng với sự xô nhau đan cài nhau tương tác với nhau của các văn bản (đã nói). Chính nhờ vậy tiếng hát yêu đời của Lor-ca được Thanh Thảo gợi lại càng trở nên tha thiết hơn giữa tan nát dập vùi và những ám ảnh tưởng phi lí luôn dày vò nhà thơ Tây Ban Nha bỗng trở thành sự tiên tri sáng suốt. Sáng tạo nghệ thuật của Thanh Thảo được bộc lộ rõ trên các giao điểm này. Những hình ảnh biểu tượng vốn có trong thơ Lor-ca được làm mới để chuyên chở những cảm nhận về chính thơ Lor-ca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực. Câu thơ những tiếng đàn bọt nước ở đầu bài nếu được nối kết với các câu thơ khác là tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tantiếng ghi ta ròng ròng - máu chảy sẽ bộc lộ một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý nghĩa dễ nhận thấy gắn liền với việc diễn tả âm thanh tuôn trào sôi động của tiếng đàn. Tiếng đàn giống như tiếng kêu cứu của con người của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt. Không có gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo tiếng đàn cũng có màu (nâu xanh) có hình thù (tròn) có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy) bởi tiếng đàn ở đây chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa. Theo đó tiếng đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lor-ca và là sinh quyển văn hoá sinh quyển chính trị - xã hội bao quanh cuộc đời sự nghiệp Lor-ca. Rồi màu đỏ gắt của tấm áo choàng không nghi ngờ gì là sáng tạo của Thanh Thảo. Nó không đơn thuần là màu của một trang phục. Nó có khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau : áo choàng bê bết đỏ ­- tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lor-ca của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm yêu cuộc đời với trái tim hồn nhiên ngây thơ trong trắng khi bị điệu về bãi bắn một cách tàn nhẫn phũ phàng phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có phần thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này). Cùng một cách nhìn như thế độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lor-ca (mà truy nguyên một phần không nhỏ vốn là thi liệu của những bài dân ca An-đa-lu-xi-a) như hình ảnh người kị sĩ đi lang thang yên ngựa vầng trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài mới và gây được những ấn tượng mới. Các từ miền đơn độc chếnh choáng mỏi mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt mỏi bất lực bồn chồn thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với cái bản chất phong phú vô tận của cuộc sống. Với kiểu tạo điểm nhấn ngôn từ của Thanh Thảo ta hiểu rằng cảm giác đó không chỉ có ở Lor-ca. Nó là một hiện tượng có tính phổ quát không của riêng ai không của riêng thời nào tất nhiên chỉ được biểu hiện đậm nét và thực sự trở thành "vấn đề" trong thơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý nghĩa của tồn tại. Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó giải thích dòng thơ li-la li-la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng làm nhoè đường viền ý nghĩa của từng hình ảnh biểu tượng đã được ném ra chừng như lộn xộn mặt khác đảm nhiệm một phần chức năng liên kết chúng lại thành một chỉnh thể nhằm biểu hiện tốt nhất cái nhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc của việc thuật kể những chuyện đã xảy ra trong thực tế. Quả vậy dù không có sự kiện nào của cuộc đời Lor-ca được kể lại một cách rành mạch chi tiết nhưng độc giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu. Cái người ta thấy đáng quan tâm lúc này nằm ở chỗ khác. Đó là sự tự bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về số phận đầy bất trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy trong một thứ nhạc thơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi tượng trưng hơn là hình thức giãi bày kể lể kiểu lãng mạn. Tất nhiên chúng ta có quyền cắt nghĩa tại sao lại li-la chứ không phải là cái gì khác. Hoa li-la (tử đinh hương) với màu tím mê hoặc nao lòng từng là đối tượng thể hiện quen thuộc của nhiều thi phẩm và hoạ phẩm kiệt xuất trong văn học nghệ thuật phương Tây chăng ? Hay đó là âm thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo đột xuất) của phần diễn tấu một ca khúc hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân mê đắm của các nốt đàn ghi ta dưới tay người nghệ sĩ ?... Tất cả những liên hệ ấy đều có cái lí của chúng !

 ở nửa sau của bài thơ tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của thơ Lor-ca nói riêng và về sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói chung vốn được sáng tạo bằng chính trái tim nặng trĩu tình yêu cuộc sống của các nghệ sĩ :

                        không ai chôn cất tiếng đàn

                        tiếng đàn như cỏ mọc hoang

                        giọt nước mắt vầng trăng

                        long lanh đáy giếng

 

                        đường chỉ tay đã đứt

                        dòng sông rộng vô cùng

                        Lor-ca bơi sang ngang

                        trên chiếc ghi ta màu bạc

 

                        chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

                        vào xoáy nước

                        chàng ném trái tim mình

                        vào lặng yên bất chợt

 

                        li-la li-la li-la...

            Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lor-ca trong bài Ghi nhớ - lời thỉnh cầu đã được dùng làm đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca. Không ở đây không có thao tác đối lập sắc lẻm của lí trí mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ "chân dung" hay "ai điệu" nhằm làm nổi bật những tứ thơ "mới" mang tính chất "ăn theo". Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc của một thi tài mãnh liệt mà xác bị quăng xuống một giếng sâu (hay vực ?) gần Gra-na-đa. Dĩ nhiên ý nguyện của Lor-ca - một ý nguyện thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của nhà thơ nói lên sự gắn bó vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở - đã không được thực hiện. Nhưng nghĩ về điều đó những liên tưởng dồn tới và ta bỗng vỡ ra một chân lí : không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được ! Đây là tiếng đàn một giá trị tinh thần chứ không phải là một cây đàn vật thể. Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn không ngừng vươn lên lan toả ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết. Dù thật sự thấm thía chân lí nói trên tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình khi viết ra những câu thơ đau xót hết mực thấm đượm một cảm giác xa vắng bơ vơ côi cút như cảm giác của ta khi thấy cỏ mọc hoang đang ngao hát bài ca vắng người giữa mang mang thiên địa. Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai phương án ngôn từ có thể dùng Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ không phải là không ai chôn được ! Đến lượt độc giả giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm ta thao thức dù nó long lanh trong im lặng và hình như càng im lặng trong thăm thẳm đáy giếng nó lại càng long lanh hơn bao giờ hết.

Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài nhịp điệu tiết tấu của thi phẩm không còn gấp gáp và dồn bức nữa. Nó chậm rãi và lắng sâu. Điều này tuân theo đúng lô gích tái hiện và suy ngẫm (tạm quy về phạm trù "nội dung") mà tác giả chọn lựa. Nhưng quan trọng hơn nó tuân theo lô gích tồn tại của chính cuộc đời : tiếp liền cái chết là sự sinh thành sau bộc phát sôi trào là tĩnh lặng trầm tư nối theo sự mù loà khủng hoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan chín chắn ... Trong muôn nghìn điều mà con người phải nghĩ lại khi đã "khôn dần lên" sự hiện diện của nghệ thuật trong đời sống là một trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất. Việc quy tội kết tội cho một đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không còn là chuyện thiết yếu nữa. Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự siêu thoát một sự hoá thân. Trên dòng sông của cuộc đời của thời gian vĩnh cửu mà trong khoảnh khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm ta tưởng thấy nó hiện hình cụ thể và dăng chiếu ngang trời có bóng chàng nghệ sĩ Lor-ca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc. Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử. Chiếc ghi ta cũng là con thuyền thơ chở chàng có ánh bạc biêng biếc hư ảo một màu huyền thoại...

Trên thực tế cái chết của Lor-ca là cái chết tức tưởi do bọn phát xít Frăng-cô gây nên. Nhưng nhìn suốt chiều dài lịch sử ta thấy Lor-ca không phải là trường hợp nghệ sĩ đầu tiên hay cuối cùng chịu kết cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp. Vậy phải chăng có thể xem những khổ nạn liên tục là một phần tất yếu trong định mệnh của họ ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếp những câu thơ thật gọn nghẽ "nhẹ nhõm" và "mênh mang" (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối dòng thơ của các từ cụm từ như đã đứt vô cùng sang ngang). Dù ai tiếc thương mặc lòng đối với người nghệ sĩ như Lor-ca khi đường chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn của số mệnh đóng lên cơ thể con người) chàng đã dứt khoát được giải thoát. Còn nuối làm chi lá bùa hộ mệnh được xem là vật tàng trữ những sức mạnh thần diệu mà cô gái Di-gan trao cho. Chàng dứt khoát và mạnh mẽ ném nó "chìm lỉm" (chữ của Hàn Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô như ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt - cái lặng yên của sự "đốn ngộ" cái lặng yên sâu thẳm anh minh mà ở đó lời nói đã tan đi trong chính nó. Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của mình. Chàng đã thắng không chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và hư vô nữa. Từ điểm này nhìn lại ta bỗng thấy câu thơ chàng đi như người mộng du ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới. Bị lôi đến chỗ hành hình Lor-ca vẫn sống như người trong cõi khác. Chàng đang bận tâm đuổi theo những ý nghĩ xa vời. Chàng đâu thèm chú ý tới máu lửa quanh mình lúc đó. Chàng đã không chấp nhận sự tồn tại của bạo lực. Chàng chết nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người ! ở đây có một cái gì gợi ta nhớ tới sự tuẫn nạn của Chúa Giê-su trên núi Sọ. Lại thêm một "văn bản" nữa ẩn hiện tỏ mờ dưới văn bản thơ của Thanh Thảo[1] !...

Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích người đọc càng nhìn thấy rõ hơn sự vững vàng của tác giả trong việc phối trí các hình ảnh biểu tượng lấy từ nhiều "văn bản" khác nhau vào một tổng thể hài hoà. Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay lá bùa xoáy nước và cả lặng yên nữa. Vậy mà nhờ được "tắm" trong một "dung môi" cảm xúc có cường độ mạnh cùng sự suy tư có chiều sâu triết học tất cả chúng trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của những cuộc đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnh cửu của loài người. Là sản phẩm tinh tuý của những cuộc đời như thế thơ ca làm sao có thể chết ? Nó tồn tại như là hơi thở xao xuyến của đất trời. Nó gieo niềm tin và hi vọng. Nó khơi dậy khát khao hướng về cái đẹp. Nó thanh lọc tâm hồn để ta có được tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đời không thôi xáo động vĩnh viễn xáo động. Muốn mô tả nó ư ? Chỉ có thể như Thanh Thảo sau một thoáng mặc tưởng bật thốt lên : li-la li-la li-la...

Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh không ngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả đặc hữu của văn học và cách diễn tả mang tính chất ám gợi huyền hồ của âm nhạc cuối cùng ở bài thơ của Thanh Thảo cách diễn tả của âm nhạc đã chiếm ưu thế. Điều này hiển nhiên là một sự lựa chọn có ý thức. Để nói về nỗi cô đơn cái chết sự lặng yên "lời" vẫn thường gây vướng víu gây nhiễu. Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi dấu ấn vật chất của sự vật khi phản ánh nó trong trường hợp này là phương tiện thích hợp. Tất nhiên Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ. Nói nhạc ở đây không có gì khác là nói tới cách thơ vận dụng phương thức của nhạc - cái phương thức ám thị khước từ mô tả trực quan - để thấu nhập bề sâu "bề xa" của sự vật. Từ lâu các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này. Dù không nhất thiết phải quy Đàn ghi ta của Lor-ca vào loại hình thơ nào ta vẫn thấy nó đậm nét tượng trưng. Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lor-ca -. cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế kỉ XX đầy bi kịch

           


 

[1] Tưởng cũng là điều thú vị nếu biết thêm rằng : trong bức tranh Cái chết ca Lor-ca (1979 Viện bảo tàng tranh Trê-ti-a-kov Mát-xcơ-va) hoạ sĩ người Nga A. Min-ni-kov đã xây dựng hình tượng Lor-ca giống như một cây thập giá với hai tay giăng ngang mặt ngửa lên trời và lồng ngực vỡ toang nổi bật lên giữa nền tranh nhuộm một sắc xanh xám tang thương bi đát ; phía trước Lor-ca có một bụi gai.

            (TS. Phan Huy Dũng - ĐH Vinh)

More...

Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

I. về thể loại - loại hình

            Là một truyện ngắn tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 Những đứa con trong gia đình hiển nhiên mang đậm tính sử thi và giàu cảm hứng lãng mạn (xem thêm phần viết về tính sử thi ở bài Rừng xà nu). Tuy vậy nói đến tác phẩm này người ta không thể không nói đến tính hiện thực sâu sắc của nó. Nguyễn Thi quả là một nhà văn hiện thực chủ nghĩa đích thực. Trong khi chịu sự chi phối của bối cảnh sáng tạo chung ông vẫn kiên trì theo đuổi những nguyên tắc sáng tạo của mình cố gắng tái hiện cho được diện mạo chân thực của hiện thực thông qua những tính cách điển hình hoàn cảnh điển hình. Để xây dựng các tính cách điển hình hoàn cảnh điển hình đó ông rất chú ý tới mối quan hệ giữa tính cá thể cá biệt và tính khái quát của hình tượng. Sự chính xác và sống động của các chi tiết luôn được đề cao. Chi tiết nào cũng gây ấn tượng như được lấy "trực tiếp" từ đời sống nóng hổi giàu sức biểu hiện giàu tính thẩm mỹ. Chính công việc chuẩn bị tư liệu chu đáo cẩn thận việc ghi chép miệt mài những điều mắt thấy tai nghe vào sổ tay đã hỗ trợ đắc lực cho Nguyễn Thi ở phương diện này. Đọc từng trang viết của ông ta cảm nhận được một trữ lượng dồi dào những kinh nghiệm sống thấp thoáng ở phía sau. Truyện ngắn mà nhiều khi có sức chứa của một tiểu thuyết lớn. Tham vọng khái quát của nhà văn luôn được thể hiện thông qua cách ông sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau nhưng tham vọng đó không hề khiến ông quên đưa ra những đường nét chạm khắc rạch ròi về nhân vật bối cảnh. Sự hứng thú quan sát miêu tả ngôn ngữ tâm lí nhân vật sự vận dụng đầy ý thức ngôn ngữ Nam Bộ trong trần thuật có mối liên hệ lô gích với động cơ sáng tạo này. Ngoài ra việc học tập kinh nghiệm của các nhà tiểu thuyết hiện đại phương Tây trên vấn đề tái hiện dòng ý thức của nhân vật cũng được chú ý đúng mức tạo nên những trang viết xuất thần hiếm quý (đoạn miêu tả dòng hồi tưởng suy nghĩ của nhân vật Việt khi bị thương nằm lại trên trận địa là một ví dụ cụ thể điển hình).

            Tuy là một truyện ngắn hoàn chỉnh có cấu trúc chặt chẽ nhưng rất có thể với chính Nguyễn Thi Những đứa con trong gia đình vẫn còn mang nhiều tính tư liệu. Phải chăng trong khát vọng sáng tạo của nhà văn đây mới chỉ là bước chuẩn bị cho một công trình đồ sộ hơn xứng tầm với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc mà ông mong muốn được hoàn thành. Cảm nhận được điều đó độc giả ngày nay không thể không thấy tiếc nuối khi nghĩ về sự ra đi quá sớm của Nguyễn Thi - một hiện tượng "bùng nổ về tài năng" (đánh giá của Nguyên Ngọc) trong thế hệ các nhà văn trưởng thành sau cách mạng tháng Tám.

            II. tiếp cận văn bản

      Nguyễn Thi là một nhà văn - chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đã để lại nhiều bài học lớn cho cả một thế hệ nhà văn thời chống Mĩ. Ông đã hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Trong di sản văn học viết về chiến tranh của ông có tác phẩm đã hoàn chỉnh có tác phẩm mới ở dạng phác thảo nhưng tất thảy đều ngồn ngộn chất sống và giàu tính thẩm mĩ chứng tỏ tác giả của nó là một tài năng văn học lớn.

            Từng sống ở Nam Bộ trước Cách mạng và sau này lại tham gia chiến đấu trên chiến trường ấy Nguyễn Thi rất hiểu con người và cảnh vật nơi này. Có thể nói ông là nhà văn của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc chiến tranh chống Mĩ ác liệt. Ông đã trút tấm huyết xây dựng họ thành những nhân vật văn học đáng nhớ đầy cá tính có lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc sống bộc trực hồn nhiên giàu tình nghĩa.

            Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi rút từ tập Truyện và kí xuất bản năm 1978. Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân một lòng một dạ đi theo cách mạng và có những mối thù riêng đối với quân giặc. Chiến và Việt - hai chị em đồng thời là hai nhân vật chính của tác phẩm không còn cha mẹ. Cha bị địch giết hồi chín năm (kháng chiến chống Pháp) còn mẹ thì chết vì trúng đạn đại bác Mĩ. Họ lớn lên trong sự dìu dắt đùm bọc của ông Năm (người chú ruột) và sau này là của đoàn thể đồng đội (một gia đình mới thân thiết của họ). Tuy nói chuyện một gia đình nhưng tác phẩm của Nguyễn Thi có khả năng ôm trùm hiện thực rộng lớn. Số phận của mấy chị em ở đây cũng như cảnh ngộ gia đình họ không phải chỉ có ý nghĩa cá biệt. Có biết bao người bao gia đình cũng phải gánh chịu những mất mát và đã vượt lên như thế trong cuộc chiến tranh khốc liệt này. Hình tượng cuốn sổ gia đình được nhắc tới mấy lần trong truyện có ý nghĩa nghệ thuật rất quan trọng. Nó hé lộ cho ta thấy ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn qua câu chuyện một gia đình mà đề cập những vấn đề khái quát hơn. Lời của chú Năm trong truyện đã nói lên điều đó : "Chú thường ví chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó. Chú kể chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp cũng lắm nước bạc nhiều phù sa vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó. Trăm sông đổ về một biển con sông của gia đình ta cũng chảy về biển mà biển thì rộng lắm chị em Việt lớn lên rồi sẽ biết rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta". Thông thường sự khái quát nghệ thuật của Nguyễn Thi là như vậy. Nó luôn tự nhiên như đời sống do bắt mạch thực sự được vào cuộc sống.

            Trên một ý nghĩa khác hình tượng cuốn sổ ngầm chứa chức năng lí giải chiều sâu hành động hiện tại của các nhân vật. Cuốn sổ ghi chép đủ những sự việc đáng nhớ xảy ra với gia đình lớn của chị em Chiến - Việt từ chuyện người nào bị giặc giết vào ngày nào đến chuyện ai bị chúng nhục mạ ra sao. Đặc biệt cuốn sổ kể khá tỉ mỉ từng chiến công đánh giặc của các thành viên gia đình trong đó có chiến công của Chiến và Việt theo du kích bắn tàu Mĩ trên sông Định Thuỷ. Cuốn sổ - ấy là lịch sử một gia đình nó cho thấy truyền thống và sự tiếp nối. Nó là một hình thức giáo dục lòng tự hào về truyền thống mà chú Năm rất có ý thức xây dựng cho thế hệ con cháu. Chú nói : "Chừng nào bây trọng trọng (lớn lớn) tao giao cuốn sổ cho chị em bây". Câu nói ấy cũng rất mực tự nhiên mà chứa đầy ý nghĩa. Chính thế hệ mới sẽ là người viết tiếp những trang mới vẻ vang cho truyền thống. Không thể nói mọi chiến công mà Chiến và Việt lập được lại không liên quan tới cuốn sổ gia đình này. Kể lại sự việc nhưng không bao giờ quên khám phá chiều sâu của nó chính là thuộc tính bản chất của ngòi bút Nguyễn Thi.

            Nguyễn Thi rất có biệt tài dựng người dựng cảnh. Vốn sống của ông phong phú khiến cho các chi tiết mà ông lẩy ra bao giờ cũng như giẫy trên trang sách rất sinh động. Nhiều nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua trong truyện nhưng đã kịp để lại một ấn tượng khó quên cả về hành động lẫn ngôn ngữ. Chú Năm của Chiến Việt thật dễ nhớ với "giọng hò đã đục và tức như gà gáy" ("Chú hay kể sự tích của gia đình và cuối câu chuyện thế nào chú cũng hò lên mấy câu"). Giọng hò của người đàn ông trung niên này tuy không hay nhưng chứa đựng một cái gì đó thật tha thiết khiến cho chị em Chiến Việt tuy thấy buồn cười nhưng vẫn rất cảm động. Theo như lời kể trong tác phẩm ông ít nói nhưng những câu nói của ông được hai chị em nhân vật chính khắc ghi trong tâm khảm. Nó tương tự như những châm ngôn kết tinh của cả một đời từng trải sông nước lăn lộn với ruộng vườn và thuỷ chung một dạ với cách mạng. Bên cạnh nhân vật chú Năm hình ảnh người má của chị em Chiến Việt cũng hiện lên với những nét chạm khắc rạch ròi. Đó là người đàn bà xốc vác gan dạ giỏi thu xếp cả việc chung lẫn việc riêng. Nguyễn Thi đã chọn được nhiều chi tiết thật tài tình để xây dựng chân dung con người ấy. Nào là chuyện bà đi đấu tranh về bị cà nông giặc bắn đuổi theo một trái rơi bịch trước mặt không nổ "bà đén dòm dòm rồi bỏ luôn vào rổ cắp về" ; nào chuyện bà bế con dắt con đi đòi đầu chồng từ ấp trong tới ấp ngoài vượt qua sông về tới quận ; nào chuyện bà tần tảo sớm hôm làm lụng nuôi con miệng nói tay làm chưa dứt câu dặn con mà chân đã "đẩy xuồng ra tuôt giữa sông"... Đặc biệt chi tiết bà đối mặt với quân thù hai bàn tay to bản "phủ lên đầu đàn con đang nép dưới chân" hoặc "dùa đàn con lại đàng sau tránh đạn" đã cho ta hình dung đặc biệt rõ nét hình ảnh một người mẹ nơi Thành đồng Tổ quốc những năm đánh Mĩ.

            Hai nhân vật được khắc hoạ đậm nét trong tác phẩm là Chiến và Việt. Chiến là chị. Theo lời chú Năm cô "không khác mẹ một chút nào". Ngay cả Việt cũng nhận thấy thế. Cô có đức tính kiên trì chịu khó chỉ nội một việc bỏ ăn để ngồi đánh vần cuốn sổ gia đình suốt từ trưa cho tới lúc trời chạng vạng đã đủ chứng tỏ điều đó. Cô cũng thừa hưởng ở mẹ đức tính gan góc. Trong ngày tòng quân cô nói với em : "Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu : Nếu giặc còn thì tao mất vậy à !". ở cô khả năng vun vén thu xếp gia đình cũng thể hiện rất rõ. Trước khi cùng em đi bộ đội mọi chuyện nhà đã được cô xếp đặt đâu vào đó tỉ mỉ chu đáo "nói nghe thiệt gọn" khiến cho chú Năm cũng phải có chút sững sờ "nhìn hai cháu thiệt lâu" rồi nói : "Khôn ! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng gọn bề gia thế đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước". Câu nói của chú Năm thể hiện sự yên tâm của thế hệ trước đối với lớp người sau. Rõ ràng họ đã trưởng thành có thể gánh vác được những việc lớn của đất nước.

            Khác với chị Chiến đã có dáng dấp của một người lớn thực thụ dù đôi lúc còn tranh giành với em Việt còn giữ nguyên tính chất của một cậu bé. "Cậu Tư" này trong gia đình có điệu cười "lỏn lẻn" rất dễ thương. Cậu ta thường ngày vẫn hay tranh phần hơn với chị từ chuyện bắt ếch đến chuyện đòi đi bộ đội trước chị. Cậu còn vô tâm vô tính phó mặc chuyện nhà cho chị "Tôi nói chị tính sao cứ tính mà". Trong khi chị bàn những việc phải làm ngày mai Việt vẫn đùa nghịch "chụp một con đom đóm úp trong lòng tay" và thú vị quan sát điệu bộ cử chỉ cách nói năng "in hệt má" của chị. Vào bộ đội rồi cậu ta "giấu chị như giấu của riêng vậy" vì sợ mất chị trước những lời gạ gẫm đùa tếu của anh em. Trong hành trang người lính của mình ngoài cái võng bộ quân phục Việt còn mang theo cái ná thun (súng cao su) - một vật bất li thân từng gắn bó từ ngày cậu "để đầu trần mình mẩy tèm lem sình đất từ chỗ móc mương lên lội tắt trong vườn đi tìm chim". Tuy còn rất trẻ con như thế Việt đã chiến đấu rất dũng cảm không thua kém ai. Việt đã dùng thủ pháp tiêu diệt được một chiếc xe bọc thép của địch. Bị thương Việt quyết bò đi tìm đồng đội. Nghe tiếng xe pháo của giặc Việt nằm chờ với tâm niệm : "Tao sẽ chờ mày ! Trên trời có mày dưới đất có mày cả khu rừng này chỉ còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày. Nghe súng nổ các anh tao sẽ chạy tới đâm mày ! Mày chỉ giỏi giết gia đình tao còn đối với tao thì mày là thằng chạy". Có bao nhiêu là quyết tâm bao nhiêu là niềm trìu mến với đồng đội bao nhiêu là sự coi thường khinh bỉ kẻ thù thể hiện qua lời độc thoại ấy. Quả thực Việt đã là một người lính chững chạc trong khi còn mang đầy đủ nét thơ ngây trong sáng đáng yêu của một cậu bé vừa đến tuổi thành niên.

            Nhìn chung trong khi xây dựng nhận vật Nguyễn Thi rất quan tâm đến việc cá thể hoá. Nhân vật nao cũng có những nét riêng độc đáo hiện lên mồn một trước mắt độc giả. Chú Năm nói khác má Việt và Việt nói khác chị Chiến. Lời nói của ai thể hiện rõ tính cách người đó. Nhưng mặt khác nhà văn cũng có ý thức nhấn mạnh điểm giống nhau giữa họ. Chẳng thế mà ông nhiều lần qua lời chú Năm qua lời Việt so sánh Chiến với người má của cô và để người má ấy nói về Việt : "Đó lại giống cái thằng cha nó rồi !". Nói lên điểm giống nhau ở đây tức là nói đến nét bền vững trong truyền thống một gia đình giàu tinh thần cách mạng có lòng căm thù giặc sâu sắc sống rất mực tình nghĩa thuỷ chung. Đây chính là điểm nút sẽ giúp ta lí giải được sức mạnh tinh thần nào đã giúp các nhân vật vượt qua được những thử thách lớn lao gay gắt đến như vậy. Mở rộng ra đấy cũng là điểm nút khiến cho mọi chi tiết sự việc được mô tả trong tác phẩm quy tụ lại thống nhất ở tinh thần chung là khẳng định những phẩm chất đẹp đẽ của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Nhiều câu nói thốt ra từ miệng chú Năm hay từ miệng má Việt vì vậy có tầm khái quát triết lí mang âm vang triết lí của cả một dân tộc bất khuất dù nó được biểu hiện ra trong một hình thức rất mực giản dị - giản dị đến bất ngờ (chẳng hạn câu của má Viêt : "người chết có cái vui của người chết nếu không người ta sanh con ra làm gì ?"). ở đây có thể nhận ra một đặc điểm trong sáng tác của Nguyễn Thi : tính triết lí rất cao nhưng đấy là triết lí của chính cuộc đời - một cuộc đời được tái hiện sinh động qua những biểu hiện mang tính bản chất. Ta có thể chứng minh thêm cho điều vừa nói bằng vào chi tiết "cực đắt" sau đây mà nhà văn đã đưa vào cuối tác phẩm : chi tiết hai chị em Chiến Việt khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm : "Chị Chiến đứng ra giữa sân kéo cái khăn trên cổ xuống cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng rồi dang cả thân người to và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào đưa má sang ở tạm bên nhà chú chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được vì nó đang đè nặng ở trên vai. Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam con đường hồi trước má vẫn đi để lội hết đồng này sang bưng khác". Khó mà không dẫn hết ra đoạn văn đầy xúc động này. Nó đã nói lên hết sức cô đọng về cuộc chiến đấu của chúng ta : có yêu thương có căm thù có cái mất mát nhưng có cái vĩnh hằng có sự quyết liệt nhưng cũng có sự thanh thản có yếu tố hành động nhưng cũng có yếu tố tâm linh... Và mùi hoa cam nó chỉ thoảng qua một lần mà thơm mãi. Trong văn Nguyễn Thi mùi hương "trữ tình" này thường chỉ được dùng rất dè sẻn nhưng chính vì vậy mà nó vô cùng quý để lại trong lòng người đọc những cảm nghĩ sâu xa.

            Một thành công nữa rất cơ bản của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình là nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật. Ta đã thấy phần nào điều đó qua việc phân tích cái tài của ông khi lựa chọn các chi tiết đặc sắc làm nổi bật cá tính nhân vật ở trên. Cần đặc biệt lưu ý rằng truyện ngắn này được tổ chức dựa trên dòng hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương trên trận địa. Miêu tả tâm lí của người tỉnh táo đã khó mà ở đậy lại là tâm lí của con người luôn nằm trong trạng thái giữa mê và tỉnh hiển nhiên nhiệm vụ nghệ thuật đặt ra càng khó bội phần. Nhưng nhà văn đã thể hiện một cách xuất sắc trạng thái "chập chờn cơn tỉnh cơn mê" đó của nhân vật. Bốn lần Việt "tỉnh dậy" trên trận địa mỗi lần Việt nhớ gì nghĩ gì đều được nhà văn miêu tả rất cụ thể tinh tế và chính xác. Thông thường mạch hồi tưởng của nhân vật trong bước khởi đầu phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dẫn dụ của ngoại cảnh. Tác giả hiểu điều đó rất rõ. Tâm lí con người tuy phức tạp nhưng vẫn diễn biến một cách có lôgic. Lần thứ hai Việt tỉnh dậy nghe tiếng ếch nhái kêu dậy lên Việt tự nhiên nhớ về những đêm đi soi ếch nhớ "Khi đổ ếch vào thùng chú Năm thế nào cũng sang". Thế là hình ảnh chú Năm hiện lên với những câu hò và cuốn sổ gia đình cùng ý nghĩa của nó. Lần thứ ba Việt tỉnh dậy tiếng cu rừng nhắc Việt nhớ tới chiếc ná thun rồi chiếc ná thun nhắc tới hành trang trong chiếc ba lô ngày nhập ngũ ngày nhập ngũ là ngày má Việt vừa mất thế là nỗi nhớ "chuyển vùng" sang hình ảnh của người má thân yêu. Việt tỉnh dậy lần thứ tư trong tiếng súng thôi thúc. Sự thôi thúc ấy khiến Việt liên hệ tới ý nghĩ thôi thúc ngày đi bộ đội liên hệ chuyện chị em giành nhau nhập ngũ trước sau đó là chuyện mang bàn thờ má đi gửi bên nhà chú... Nhìn chung nhà văn nắm rất chắc quy luật diễn biến tâm lí con người. Ông đã khéo léo tạo cho tác phẩm một hình thức kết cấu độc đáo tương đồng với "kết cấu" của những giấc mơ chập chờn từ đó cứ mở rộng dần đối tượng được miêu tả và đi mỗi lúc một sâu vào đời sống tâm hồn của nhân vật.

            Trong khi làm sáng tỏ tâm lí nhân vật nhà văn đã sử dụng một ngôn ngữ trần thuật đặc biệt phù hợp. Đấy là ngôn ngữ của chính nhân vật nói về mình và kể về người khác mặc dù bề ngoài có vẻ là ngôn ngữ khách quan của người trần thuật. Điều đó thể hiện ngay ở cách xưng hô rất đỗi thân thương gắn bó : "Việt" (chứ không phải là "anh" hay "chú bé") "chị Chiến" (chứ không phải là "cô" "chị") "chú Năm" (chứ không phải là "ông Năm") "má" (chứ không phải là "má Việt")... Điều đó cũng thể hiện ở màu sắc địa phương của lời trần thuật (chưa kể đến lời nói thực thụ của nhân vật): "Chú ít nói nhưng đã nhậu vào ba hột là chú nói tới" "Thím Năm vừa khóc vừa kể thôi là kể" "Hai bên giáp mặt ba cười hề hề nhưng má chẳng thèm dòm hai mắt hứ một cái "cóc" rồi đi thẳng"... Thật khó kể hết được những ví dụ sinh động như thế. Nhiều người từng biểu dương Nguyễn Thi rất thạo ngôn ngữ Nam Bộ. Cần phải thấy rằng cách sử dụng ngôn ngữ của ông ở đây trước hết có tác dụng làm nổi bật tâm lí những con người sống ở vùng đất ấy sau nữa mới gọi dậy không khí của một vùng của một thời...

            Những đứa con trong gia đình thể hiện khá rõ tài năng của Nguyễn Thi trên nhiều mặt : khả năng khái quát cao khả năng dựng cảnh dựng người và mô tả tâm lí sâu sắc khả năng vận dụng ngôn ngữ Nam Bộ đầy linh hoạt biến hoá và cả chất triết lí rất riêng toát lên từ chính hiện thực chứ không phải từ những lời trữ tình ngoại đề của tác giả. Tất nhiên những phương diện tài năng ấy không biểu lộ riêng rẽ. Chúng hoà lẫn vào nhau hết sức tự nhiên đưa đến sức thuyết phục lớn cho tác phẩm làm cho độc giả khi đọc tác phẩm không còn thấy đó là văn mà chỉ thấy đó là cuộc đời.

(Phan Huy Dũng)

More...

Tiếp cận văn bản "Rừng xà nu" (Nguyễn Trung Thành)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  Rừng xà nu được viết ra vào giữa năm 1965 trong những ngày bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam nước ta. "Đó là những ngày sôi sục nghiêm trang nghiêm trọng lo lắng quyết liệt hào hứng hào hùng : dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán mất còn trực tiếp với đế quốc Mĩ"(1). Tuy kể về những sự kiện xảy ra trước đó mấy năm nhưng truyện ngắn này đã tiếp được hơi thở hào hùng của thời hiện đại và hiện thực được mô tả mang đậm ý nghĩa phổ quát. Chuyện làng Xô Man trở thành chuyện của cả "Đất nước đứng lên" trong cuộc đối đầu lịch sử.

      Hình tượng lớn bao trùm toàn tác phẩm là hình tượng những cây xà nu rừng xà nu. Chính nó đã đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn cũng như sự sinh động chân thực như cuộc đời. Và trước hết nó khơi lên nguồn cảm hứng dạt dào ở người viết trở thành điểm tựa điểm gợi tứ để nhà văn suy ngẫm về mạch sống của đất nước và sức sống của nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà có một câu văn được lặp lại gần y nguyên đến hai lần ở phần đầu và phần kết thúc tác phẩm : "Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời". Đấy là một điệp khúc trầm hùng làm nền cho toàn bộ câu chuyện. Tác giả chưa bao giờ để gián đoạn mạch kể về rừng xà nu. Cây xà nu khi thì tách ra khi thì hoà nhập với con người. Tả cây xà nu tác giả ưa dùng thủ pháp nhân hoá còn khi nói về con người ông lại thường xuyên liên hệ so sánh với cây xà nu. "Xà nu" "xà nu" - tác phẩm trùng trùng điệp điệp  những "xà nu" và đó chính là điểm khá cơ bản qui định chất thơ hào hùng của nó (thơ như có người nhận xét là một kết cấu trùng điệp đầy âm vang).

            Hãy trở lại với đoạn đầu của truyện ngắn. Nhà văn đã đem hết bút lực của mình ra để tả một khu rừng xà nu. Đấy không phải là khu rừng xà nu chung chung mà là khu rừng sát cạnh làng Xô Man kề bên con nước lớn (nguồn sống của con người) và lọt trong tầm đại bác của đồn giặc. Ngay từ đầu ta đã thấy rừng xà nu phải đối diện với những thử thách ác liệt dữ dội. Thương tích là không thể tránh khỏi : "Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão". Nhưng sức sống mãnh liệt của rừng xà nu mới là điều tác giả muốn nhấn mạnh : "Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời". Chúng khoẻ vì chúng tha thiết với mặt trời : "Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra thơm mỡ màng". Thật là một đoạn miêu tả sống động giàu chất tạo hình nhưng không chỉ có ý nghĩa tả thực. Rừng xà nu đấy chính là một ẩn dụ về con người : con người đau khổ con người bất khuất con người khao khát tự do con người của truyền thống anh hùng lớp trước lớp sau liên tục đứng lên bảo vệ phẩm giá của mình... Thêm nữa rừng xà nu ở đây còn là một hình ảnh tượng trưng một biểu tượng cho con người Tây Nguyên cho cả một dân tộc hiệp sĩ : "Rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng". Trong hành động ưỡn tấm ngực lớn chứa đựng bao nhiêu là kiêu hãnh nó biểu thị một phẩm chất phóng khoáng hào hiệp và một hành động tự nguyện do xác định đúng vị trí đứng đầu bão táp của mình. Để diễn tả một nội dung phong phú như vậy qua hình tượng cây xà nu tác giả đã sử dụng một giọng văn thiết tha pha chút cường điệu. Nhiều lúc như không nén nổi những xúc động đang tràn ngập vì yêu thương vì khâm phục và cả vì kính trọng nữa nhà văn đã thốt  những lời nhận xét trực tiếp để lộ cái "tôi" của mình : "Trong rừng có ít loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy" "Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế". Hàng loạt động từ trạng từ gây cảm giác mạnh được huy động cho mục đích miêu tả: ào ào ứa tràn trề ngào ngạt long lanh gay gắt bầm ngã gục lao thẳng phóng vượt ưỡn v.v... Đặc biệt tác giả đã sử dụng rất đắt cái nhìn của điện ảnh để cho sự vật hiện lên độngnét hơn. ống kính của ông khi thì lùi ra xa để ghi lấy toàn cảnh rừng xà nu khi lại rà sát soi kĩ dáng vươn lên kiêu dũng của những vây xà nu con. Có lúc tác giả quay chếch ống kính để trước mắt ta màn ảnh như chao đảo : một cảnh tượng tuyệt vời nên thơ tráng lệ hiện ra : "ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp..."

            Mạch cảm xúc đã được khơi lên. Hướng đi của ngòi bút đã được hình dung. Điểm "neo" những ấn tượng và quan sát phong phú về hiện thực đã được xác định với một cái làng cụ thể. Từ đây toàn bộ câu chuyện cứ thế mà tuôn chảy và hiện rõ trước mắt người viết người đọc mồn một từng chi tiết từng hình ảnh.

            Chuyện làng Xô Man được bắt đầu từ thời điểm hiện tại : "Ba năm đi lực lượng bữa nay Tnú mới có dịp ghé về thăm làng. Thằng bé Heng gặp ở con nước lớn dẫn anh về". Đấy là những lời kể cô đúc hé lộ một lịch sử và báo hiệu một đổi thay. Quả thực làng Xô Man đã đổi thay nhiều lắm so với ngày Tnú ra đi. Khắp núi rừng đâu cũng có cạm bẫy sẵn sàng "chờ đón" quân thù. Một lớp người mới đã trưởng thành đứng ra gánh vác công việc kháng chiến. Sinh hoạt trong làng tươi vui và có qui củ. Tất cả toát lên một vẻ hồ hởi tự tin khiến cho Tnú không khỏi có chút ngỡ ngàng. Phải nói rằng sự lựa chọn thời điểm bắt đầu câu chuyện như thế là hết sức thích hợp. Tất cả phải từ hôm nay và cho hôm nay cũng y như mục đích kể chuyện tại nhà ưng của cụ Mết. Đó là sự chuẩn bị tinh thần để bước vào một thử thách to lớn mới. Những lời nhắc nhở trầm vang như tiếng chiêng cồng của cụ Mết : "Người Strá ai có cái tai ai có cái bụng thương núi thương nước hãy lắng mà nghe mà nhớ"... cũng chính là lời nhắn gửi của tác phẩm đến độc giả trước hết là độc giả của thời kì lịch sử ấy.

            Ra đời trong một thời điểm hào hùng của lịch sử lại kể về những sự việc có tầm vóc thời đại giọng điệu trần thuật có màu sắc anh hùng ca đã được sử dụng rất đắc địa. Lời kể của tác giả đã hoà lẫn với lời kể cụ Mết và dòng hồi tưởng của Tnú một cách hết sức tự nhiên. Cái bi tráng của một giai đoạn cách mạng cùng khí thế chiến đấu bừng bừng của buôn làng Tây Nguyên ngày nổi dậy đã được tái hiện với đúng "chất" của nó. Trên dải đất cao nguyên hùng vĩ này từng có những ngày người dân sống nghẹt thở dưới ách áp bức khủng bố bạo tàn của Mĩ - Diệm. Khắp nơi đều có dấu vết tội ác của chúng. Thiên nhiên bị tàn phá. Nhân dân bị chém giết. Chúng "đi trong rừng như con beo" với những "lưỡi lê dính máu". Quả là chúng đang làm chủ cả núi rừng nhưng là cách làm chủ của beo sói. Khi kể chuyện Tnú hồi nhỏ đi liên lạc bị giặc bắt có đến ba lần tác giả nói đến những vết dao trên lưng em. Đó là một chi tiết nghệ thuật tiêu biểu tố cáo tội ác man rợ của kẻ thù. Ngay tấm lưng nhỏ bé non trẻ "rộng chưa bằng bề ngang cái xà lét mẹ để lại" dường như sinh ra để cha mẹ vuốt ve cũng phải hứng chịu những sự vùi dập tàn bạo phũ phàng nhất. ở một đoạn khác khi nói đến tình thế bị o ép dữ dội của dân làng Xô Man trước ngày khởi nghĩa tác giả đã có dụng ý mô tả một loạt âm thanh kinh khủng đó là tiếng cười sằng sặc giần giật của thằng Dục ác ôn tiếng roi vun vút tiếng gậy sắt nện hừ hự xuống thân người...

            Nhưng sự việc đã diễn ra theo đúng quy luật có áp bức có đấu tranh và một chân lí cách mạng dần dần được làm sáng tỏ : "chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo". Rừng xà nu không chỉ là chuyện làng Xô Man trong đau thương mà chủ yếu là chuyện làng Xô Man đứng dậy. Tác giả đã rất thành công khi xây dựng chân dung một tập thể anh hùng. Họ gồm những cụ Mết anh Tnú chị Mai cô Dít bé Heng... mỗi người mỗi vẻ nhưng đều giống nhau ở sự gan góc ở lòng trung thành với cách mạng. Sự gan góc trung thành ấy không biểu hiện ồn ào. Nó ít lời mà dồn nén biết bao dữ dội. Tnú bị bắt cụ Mết chỉ nói : "Tnú đừng làm xấu hổ làng Xô Man". Tnú trả lời bằng một cái nhìn. Giặc cởi trói cho Tnú để em chỉ chỗ người cộng sản Tnú để bàn tay lên bụng mình nói : " ở đây này". Rồi đôi mắt của Mai cái nhìn của Dít... Rõ ràng đó là cái im lặng của những người đã chịu nhiều đau khổ cái im lặng đầy sức mạnh đầy đe doạ với quân thù nó báo trước sự bùng nổ ghê gớm của lòng căm giận. Trong tác phẩm còn có một đoạn rất đáng chú ý khác nói về sự dũng cảm của Dít trước quân ác thú. Có thể nói trong khoanh khắc Dít đã lớn lên rất nhiều. Thoạt đầu Dít khóc thét lên khi bị chúng bắn doạ. Nhưng đến viên đạn thứ mười Dít đã chùi nước mắt bình thản nhìn bon giặc. Đây là một chi tiết giàu tính tượng trưng. Không thể nói về sự thay đổi đó của Dít như nói về một sự trấn tĩnh bình thường. Trong tình thế khó khăn con người phải tự lớn vượt lên mau chóng nếu không sẽ bị đè bẹp. Dềnh dàng là chết. Điều đó đúng với cả làng Xô Man cả Tây Nguyên và cả với cách mạng miền Nam ngày ấy.

            Trong nhiều nguyên nhân tạo nên sức quật khởi của làng Xô Man mà tác giả đã có ý thức nêu lên nguyên nhân thuộc về truyền thống lịch sử đã được biểu hiện qua một hình tượng sinh động : cụ Mết. Đúng như tác giả viết trong một bài hồi ức : "Ông là cội nguồn. Là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay. Ông như lịch sử bao trùm nhưng không che lấp sự đi tới nối tiếp và mãnh liệt ngày càng mãnh liệt hơn sành sỏi và tự giác hơn của các thế hệ sau"(1). Để tả cụ Mết tác giả thường mượn những đặc tính của cây xà nu làm đối tượng so sánh : ngực cụ "căng như một cây xà nu lớn" còn bàn tay "nặng như sắt" của cụ thì "sần sùi như vỏ cây xà nu". Tiếng nói của cụ cũng thật đặc biệt : "nặng trịch" "ồ ồ" "dội vang trong lồng ngực" tưởng như tiếng âm vọng của núi rừng. Đúng là không thể hình dung nổi cuộc sống chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là lại thiếu một hình ảnh như cụ Mết. Riêng đối với phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm hình ảnh đó tạo nên màu sắc Tây Nguyên đậm đà trên từng trang viết và tạo nên những điểm nhấn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề những điểm nhấn gắn liền với các câu nói mang ý nghĩa tổng kết giáo dục và kêu gọi của cụ : "Nghe rõ chưa các con rõ chưa. Nhớ lấy ghi lấy. Sau này tau chết rồi bay còn sống phải nói lại cho con cháu : chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo !...". Có thể nói thêm : nếu thiếu hình ảnh cụ Mết tác phẩm sẽ thiếu đi một cơ sở quan trọng để sử dụng cái giọng trầm hùng vang vọng rất sử thi như nó đã có.

            Nhiều đêm bên bếp lửa trong nhà ưng cụ Mết đã kể cho con cháu nghe chuyện về anh Tnú. Đó là câu chuyện của thời hiện tại nhưng đã được lịch sử hoá bởi nó quá tiêu biểu cho hành trình số phận  của các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Cuộc đời của Tnú đã phải trải qua biết bao thử thách khốc liệt ngay từ thưở còn thơ. Chính những thử thách ấy đã hun đúc nên một con người mang nhiều phẩm chất tốt đẹp : gan dạ trung thực một lòng một dạ gắn bó với cách mạng. Khi lớn lên hạnh phúc riêng vừa mới nhóm đã bị giày đạp phũ phàng : cả vợ lẫn con anh đã bị đánh chết ngay trước mắt anh mà anh không làm gì đợc. Bản thân anh bị giặc bắt và bị chúng đốt cụt mười đầu ngón tay. Từ nỗi đau thương và căm thù đó anh tham gia lực lượng quân giải phóng góp phần bảo vệ quê hương trở thành niềm tự hào của buôn làng thành tấm gương cho cụ Mết dùng để giáo dục thế hệ sau. Khắc hoạ nhân vật Tnú tác giả rất chú ý miêu tả hai bàn tay của anh - hai bàn tay biết kể với chúng ta về số phận một con người. Nhìn chung với nhân vật Tnú cũng như với hầu hết các nhân vật khác tác giả thường nhắc đi nhắc lại một đặc điểm nổi bật nào đó của họ. Phải chăng ở đây có dấu vết của cách giới thiệu nhân vật trong sử thi ? Dù sao đây cũng là một trong những đặc điểm hình thức khá nổi bật của truyện ngắn này.

            Rừng xà nu là trải nghiệm một đời văn một đời chiến sĩ được nhốt chặt trong một khuôn khổ hẹp. Niềm xúc động thiêng liêng về hình ảnh kì vĩ của Tổ quốc giữa những ngày thử thách đã thôi thúc Nguyễn Trung Thành viết nên thiên truyện này. Đó là một tác phẩm rất cô đọng nhưng cũng hết sức bay bổng gợi nên những cảm xúc vừa trầm lắng vừa say mê. Một tác phẩm xuất sắc xứng tầm với thời đại đánh Mĩ oanh liệt hào hùng.
(Phan Huy Dũng)

More...

Tính sử thi của tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

          ...Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của "nền văn học sử thi" trong văn học Việt Nam 1945 - 1975 tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn (thực ra với các tác phẩm thuộc loại này chỉ nói đến tính sử thi là đủ bởi cảm hứng lãng mạn đã trở thành một phần tất yếu của nó).

Tính sử thi của Rừng xà nu được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên cả miền Nam cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tính thế bị o ép của làng Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ - Diệm thi hành luật 10-59 khủng bố dữ dội những người yêu nước những người kháng chiến cũ. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ - một gương mặt rạng rỡ tự tin điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới.

Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng một tập thể anh hùng. Những anh hùng được kể tới trong đó đều có tính đại diện cao mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc. Tập thể anh hùng trong Rừng xà nu là tập thể đa dạng về lứa tuổi và giới tính. Mỗi gương mặt anh hùng đều có những nét riêng thể hiện một số phận riêng trong cuộc đời chung. Tất cả họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản : gan dạ trung thực một lòng một dạ đi theo cách mạng. Chiến công của mỗi người tuy đa dạng mà thống nhất. Cuốn sử vẻ vang của làng Xô Man của Tây Nguyên không phải do riêng một người mà do tất cả mọi người viết ra. Bản trường ca của núi rừng không chỉ trỗi lên một giọng mà là sự tổng hoà của nhiều giọng. Anh Quyết cụ Mết anh Tnú chị Mai cô Dít bé Heng là những nhân vật tiêu biểu nhưng bên cạnh họ đằng sau họ còn có bao người khác nữa cũng không chịu sống mờ nhạt vô danh. Tất cả họ đều thi đua lập công đều muốn góp phần mình vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Dĩ nhiên hình tượng văn học nào cũng là sự thống nhất giữa cái cá biệt và cái phổ quát nhưng ở Rừng xà nu cảm hứng hướng về cái chung đã mang tính chất chi phối.

Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các sự kiện các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng khâm phục. Các chi tiết đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật. Tả cụ Mết nhà văn chú ý tới giọng nói "ồ ồ dội vang trong lồng ngực" của cụ. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm vang của tiếng cồng tiếng chiêng tiếng của núi rừng của lịch sử. Và quả thật cụ là hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải nghiệm của cả một dân tộc. Nó cô đúc sâu sắc vang vọng như những chân lí. Chả thế mà cả làng Xô Man nghe như uống từng lời cụ nói và cả rừng xà nu cũng "ào ào rung động" như một sự hoà điệu một sự tạo nền. Ngay cuộc đời của Tnú một cuộc đời trải ra trong chính thời hiện tại cũng đã được lịch sử hoá và nhuốm màu huyền thoại. Đêm đêm bên bếp lửa nhà ưng cụ Mết đã kể chuyện anh cho lũ làng cho thế hệ con cháu nghe. Anh đã trở thành niềm tự hào của làng là một biểu tượng sống động của người anh hùng được tất cả ngưỡng vọng học tập.

Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa. Ta bị cuốn theo câu chuyện không gì cưỡng nổi tưởng mình đang được tắm trên một dòng sông mênh mang tràn trề sinh lực hoặc tưởng mình đang bị thôi miên bởi một bản nhạc giao hưởng hùng tráng.
(Phan Huy Dũng)

More...

Ai đã đặt tên cho dòng sông?

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Hoàng Phủ Ngọc Tường

 

            I. Về thể loại - loại hình

            Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là tác phẩm nằm trong loại hình kí và thuộc thể loại bút kí văn học. Bút kí văn học có dung lượng gần như truyện ngắn ghi chép về những sự kiện con người có thực đồng thời trình bày trực tiếp cảm nhận suy nghĩ của tác giả về những sự kiện con người ấy. Đọc một bút kí cái mà người ta chờ đợi trước hết là tính có vấn đề của nó gắn liền với việc tác giả thể hiện được những khám phá sâu sắc về đối tượng đề xuất được những tư tưởng quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện tại.

            Ranh giới giữa bút kí văn học và tuỳ bút văn học nhiều khi khá nhập nhằng đặc biệt trong trường hợp tác giả quan tâm nhiều tới việc biểu lộ cái tôi nghệ sĩ phóng khoáng tự do giàu tiềm lực văn hoá của mình và chọn một hình thức diễn tả có duyên đầy màu sắc biểu cảm chứa đựng nhiều liên tưởng tưởng tượng độc đáo... Do có những đặc điểm vừa nói Ai đã đặt tên cho dòng sông ? cũng có thể được xem là một thiên tuỳ bút đặc sắc (xem thêm phần nói về thể tuỳ bút ở bài Người lái đò Sông Đà).

 

II. tiếp cận văn bản

            Viết về bất cứ dòng sông nào trên trái đất người ta cũng cần có cần thể hiện được một tình yêu tha thiết lắng sâu và một sự am tường không hề sách vở về những vấn đề địa lí lịch sử và văn hoá gắn liền với chúng. Bởi các dòng sông luôn là cái nôi của những vùng những nền văn hoá đa dạng lắm sắc màu và là đối tượng mà các cư dân sống trong vòng tay của chúng phải vô hạn biết ơn. Viết về con sông Hương cũng cần và lại càng cần như vậy. Đây là một thách thức nhưng là thách thức đã được chuyển hoá thành niềm giục giã đầy tự nhiên đầy xao xuyến trong tâm hồn những ai yêu sông Hương yêu Huế. May thay chúng ta đã có được những nhà thơ nhà văn tài năng vượt qua được các thách thức nói trên  để tặng cho sông Hương những tác phẩm bất hủ[1]. Trong những nhà thơ nhà văn đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường người đã viết nên một thiên tuyệt bút có nhan đề là Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

            Vang lên từ nhan đề trước hết câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? có dáng dấp của một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ (và theo chính tác giả cho biết thì đó là câu hỏi của một thi sĩ đích thực). Từ thoáng ngẩn ngơ này bao nhiêu ấn tượng về cái đẹp của sông Hương sẽ ùa về trong tâm trí khơi lên mạch viết dạt dào cảm xúc về "nhan sắc" thiên phú của dòng nước êm đềm chảy qua Huế cố đô. Vang lên những lần khác trong tác phẩm[2] câu hỏi biến thành một nỗi suy tư thâm trầm đánh động bao vốn liếng văn hoá tích tụ trong người viết và cũng đòi nó phải được hiện diện trên trang giấy. Vậy đó ta đang nói đến những mạch cảm hứng lớn đã dẫn dắt nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đến và đi với sông Hương để rồi tiếp nữa làm một cuộc viễn du vào lòng muôn độc giả đóng vai người truyền cảm hứng cho họ bộc lộ tình yêu xứ sở hết sức thiết tha của mình.

            Thông thường người ta hay sử dụng phép nhân hoá khi miêu tả thiên nhiên. Kể cũng là điều dễ hiểu bởi trong văn học các đối tượng không bao giờ xuất hiện như những "khách thể tự nó" mà như những "vật" thể hiện nỗ lực của con người nhằm chủ quan hoá toàn bộ thế giới khách quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nhân hoá sông Hương. Nhưng nhân hoá ở đây không chỉ là nhân hoá trong từng đoạn miêu tả rời rạc với mục đích làm cho câu văn hình ảnh trở nên sinh động. Ông đã thực sự xây dựng sông Hương thành một nhân vật một con người để được chuyện trò đối thoại cùng nó. Điều này hoàn toàn hợp lẽ bởi chẳng phải ta vẫn quen nghĩ rằng các dòng sông vừa là kẻ đồng sáng tạo vừa là chứng nhân lịch sử văn hoá của một vùng đất hay sao ? Dưới ngòi bút tài hoa và cái nhìn đầy mê đắm trân trọng của tác giả sông Hương cũng có một cuộc đời phong phú trải qua nhiều giai đoạn khi gian truân khi êm đềm. Giữa lòng Trường Sơn nó chính là "một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại" có "bản lĩnh gan dạ một tâm hồn tự do và trong sáng". Còn khi đã ra khỏi rừng "sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở". Sông Hương có "phần tâm hồn sâu thẳm" có vẻ mặt lúc trầm mặc lúc vui tươi có thái độ đầy ân tình với Huế khi dành cho cố đô "điệu slow tình cảm" vô cùng giàu ý nghĩa... Tác giả đã thực sự trở thành một tri kỉ của sông Hương hiểu ngọn ngành khí chất của nó và hơn thế còn chu đáo đề xuất với chúng ta một cách nhìn toàn diện về người bạn của mình : "Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương...". Ông dõi theo từng khúc quanh nét lượn bước ngoặt rất cụ thể của sông Hương để nói với độc giả về những "ý tứ" mà sông Hương muốn biểu lộ trước con người và miền đất Châu Hoá xưa : "Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục vòng giữa khúc quanh đột ngột uốn mình theo những đường cong thật mềm như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản nó chuyển hướng sang tây bắc vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế".  Theo tác giả sông Hương đã thật "tâm lí" khi "trôi đi chậm thực chậm" qua kinh thành Huế như để yên ủi người ta đừng quá sầu muộn về sự biến đổi vô thường của cuộc đời về sự vèo qua chóng mặt của thời gian. Dòng nước sông Hương đã lặng lờ một cách cố tình để muôn nghìn ánh hoa đăng trong đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về qua Huế "bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở". Bằng "cách trôi" rất riêng đó của mình sông Hương như muốn nhắc người ta rằng cuộc đời này có rất nhiều cái đáng vương vấn. Rồi nữa nếu không nhờ sự phát hiện đầy tính chất đồng điệu của tác giả đối với sông Hương mấy ai biết rằng việc sông Hương đột ngột đổi dòng ngay khi vừa định chia tay Huế là thuận theo một lí do rất tình cảm rất "người : chẳng qua nó muốn gặp lại Huế "để nói một lời thề trước khi về biển cả". ở đây có đến ba thái độ chí tình cùng "hợp lưu" với nhau : cái chí tình của sông Hương đối với Huế cái chí tình của con người Huế trong tình yêu (như là một phẩm chất được thấm nhiễm từ sông Hương) và cái chí tình của chính tác giả dành cho sông Hương dành cho cả mảnh đất xưa gọi là Châu Hoá ! Suy cho cùng nếu không có cái chí tình của tác giả thì cái chí tình của sông Hương không thể trở thành một "khách thể tinh thần" hiện diện trong đời sống chúng ta và gây ấn tượng sâu đậm đến vậy !

            Nếu biết cất lên tiếng người hẳn sông Hương sẽ nói rằng nó đã thực sự yên tâm khi chọn trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường để hoá thân. Có lẽ chính nhà văn cũng nhận thấy cũng hiểu niềm tin cậy đó nên từng câu văn của ông bay bổng diễm ảo lạ thường. Nhiều lúc độc giả có cảm tưởng ngôn từ trong bài bút kí không phải là của tác giả dùng để mỉêu tả sông Hương mà chính là ngôn từ của sông Hương đang hát lên bài ca của mình. Ngôn từ ấy trôi chảy hết sức tự nhiên nếu có "luyến láy" thì cũng "luyến láy" một cách tự nhiên bởi chất hào hoa đa tình vốn đã là cái gì thuộc về căn cốt của người viết rồi. Hãy thử đọc lại một vài đoạn : "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm nó đã là một bản trường ca của rừng già rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng" "Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lí như cổ thi kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà" "Từ đây như đã tìm đúng đường về sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc phía đó nơi cuối đường nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vành trăng non" ... Theo một cái nhìn mang tính phân tích có thể thấy trong các đoạn văn trên tác giả đã vận dụng khá nhiều thủ thuật ngôn từ từ việc phối hợp hài hoà thanh điệu của các tiếng tới việc lựa chọn những định ngữ đắt nhất cho các đối tượng được miêu tả từ việc sử dụng các ẩn dụ so sánh đích đáng tới việc "khảm" một cách khéo léo ý tứ của các văn bản xưa vào văn mạch mới. Tuy vậy đọc chúng lên ta không có cảm giác cộm vướng bởi tác giả đã hoàn toàn làm chủ những thủ thuật ngôn từ kia bắt chúng vâng phục tuyệt đối sự điều hành của mình. Nói rộng ra thiên bút kí đưa đến rất nhiều thông tin mà đọc lên vẫn thấy thanh thoát là nhờ thế.

            Nhất quán với cách nhìn sử thi vốn có Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên tô đậm niềm "quang vinh" mà sông Hương đã có được trong lịch sử dài lâu của dân tộc. Có lẽ để khỏi mang tiếng là "thiên vị" ông đã dẫn ra các "lời chứng" vừa từ sử sách vừa từ những con người đã thực sự can dự vào cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhưng đồng thời nhà văn cũng thấm thía rằng mọi thứ trên đời đều có thể bị quên đi chỉ văn hoá là còn lại mãi. Có chiến công nào lớn hơn chiến công của văn hoá ? Và mọi chiến công khác nếu còn muốn được nhắc tới thì đều phải mang ý nghĩa văn hoá.  Ông viết : "Sông Hương là vậy dòng sông của thời gian ngân vang của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường làm một người con gái dịu dàng của đất nước". Không nhà văn không đơn thuần "tính đếm" hay kể lại những phẩm chất đa dạng của sông Hương. Lồng trong lời đánh giá khái quát mang tính chất ghi công đó ông muốn đặc biệt nhấn mạnh đến vẻ đẹp văn hoá sâu xa trầm tĩnh của sông Hương. Không phải ngẫu nhiên ở rất nhiều đoạn trong bài bút kí này ông đã thường xuyên nghĩ tới Truyện Kiều nhân vật Kiều khi nói về sông Hương. Đối với người Việt Nam Truyện Kiều là tập đại thành của nền văn học văn hoá dân tộc. Được so sánh được liên hệ với Truyện Kiều chính là một niềm vinh dự. Nhưng một điều thú vị đáng nói là là trong Truyện Kiều luôn có vang bóng của sông Hương của văn hoá sông Hương. Tác giả đã chứng minh điều này một cách tinh tế và thuyết phục bằng mẫn cảm nghệ sĩ bằng những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời Nguyễn Du. Ông đã có một so sánh rất lạ rất độc đáo nhưng cũng vô cùng chính xác : "Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya". Sự thực câu văn không đơn thuần chỉ có so sánh. Nó chứa đựng (hay là thể hiện) một cái nhìn đồng nhất hoá nâng sông Hương lên thành đích thực một linh hồn. Tác giả cũng kể lại cho ta một phát hiện bất ngờ chỉ có được ở những con người sống vì nghệ thuật sống trong nghệ thuật : "Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già chơi đàn hết nửa thế kỉ một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều : "Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời"... Đến câu ấy người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên : Đó chính là Tứ đại cảnh !". Bằng lịch lãm văn chương nghệ thuật của mình sau khi đi một vòng để nêu lên chân lí "dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ" rằng sông Hương đã hiện hình với đủ cung bậc trong thơ của Tản Đà và Cao Bá Quát Bà Huyện Thanh Quan và Tố Hữu tác giả lại khẳng định trong niềm ngạc nhiên của sự khám phá : "sông Hương quả thực là Kiều rất Kiều".

            Viết về một dòng sông văn hoá quả rất cần một tư thế văn hoá. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện được điều này trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Rất nhiều trải nghiệm của một đời viết luôn gắn bó với con người dân tộc và đất nước đã được đưa vào đây. Yêu sông Hương nhưng tình yêu ấy không ngăn cản ta yêu những dòng sông khác có trên trái đất. Và ngược lại niềm thích thú được quan sát dáng nét độc đáo của những dòng sông thuộc các vùng miền từng qua lại làm tươi mới trong ta nỗi rung động bồi hồi rất đặc biệt trước dòng sông quê hương đã nuôi lớn cuộc đời mình. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? - Câu hỏi ấy không chỉ phản ánh một khoảnh khắc xao xuyến của tâm tư. Cao hơn nó hé lộ cho ta thấy một tâm thế sống luôn có trách nhiệm với cuộc đời luôn biết ngạc nhiên về cái bí ẩn phong phú vô tận của tạo vật.


 



 

[1] Cũng cần biết thêm rằng sông Hương còn là đối tượng thể hiện đầy rung động của nhiều hoạ sĩ và nhạc sĩ xuất sắc.

[2] Câu hỏi Ai đã đạt tên cho dòng sông ? được nhắc tới tất thảy ba lần trong tác phẩm (không kể nhan đề). Hai lần nhắc sau nằm trong các đoạn bị lược bỏ khi tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa. Đây chỉ nêu tư liệu nhằm mục đích tham khảo.

(Phan Huy Dũng)

 

More...

Nhân vật Mị và nhân vật A Phủ trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" Tô Hoài

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  Truyện Vợ chồng A Phủ đã được sửa chữa khá nhiều lần. Bố cục gồm hai phần: Phần đầu chủ yếu nói về cuộc đời Mị và A Phủ ở Hồng Ngài bị chà đạp đây đoạ trong nhà thống lí Pá Tra cho đến khi Mị cắt dây trói cứu A Phủ và cả hai bỏ trốn; phần tiếp theo nói về sự đổi đời của hai nhân vật này ở Phiềng Sa họ thành vợ chồng gặp gỡ cán bộ cách mạng được giác ngộ và trở thành du kích. SGK trích giới thiệu phần đầu của truyện cũng là phần được chính tác giả cùng nhiều nhà nghiên cứu giảng dạy văn học cho là đặc sắc hơn cả. (Tư liệu tham khảo)


1) Hình tượng nhân vật Mị

- Về đoạn văn mở đầu giới thiệu nhân vật Mị:

Ngay từ những dòng đâu tiên người đọc đã buộc phải chú ý tới hình ảnh người con gái "ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa cạnh tàu ngựa" và "Lúc nào cũng vậy dù quay sợi thái cỏ ngựa dệt vải chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt mặt buồn rười rượi"

Cách vào truyện gây ấn tượng nhờ tác giả đã tạo ra những đối nghịch:

+ Một cô gái lẻ loi âm thầm gần như lẫn vào các vật vô tri: cái quay sợi tảng đá tầu ngựa trong khung cảnh đông đúc tấp nập của gia đình thống lí Pá Tra.

+ Cô gái ấy là con dâu của một gia đình quyền thế giàu có "nhiều nương nhiều bạc nhiều thuốc phiện nhất làng" nhưng sao lúc nào cũng "cúi mặt" nhẫn nhục và "mặt buồn rười rượi" 

Đây là thủ pháp nhằm tạo tình huống: có vấn đề trong lối kể chuyện truyền thống giúp tác giả mở lối dẫn người đọc cùng tham gia hành trình tìm hiểu những bí ấn của số phận nhân vật.

- Phần tiếp theo của đoạn trích kể về số phận éo le và những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Mị. Chú ý vào hai nét chính: Cô Mị với cuộc đời cực nhục khổ đau và cô Mi với sức sống tiềm tàng dẫn tới sứ Phản kháng mãnh liệt táo bạo.

+  Vì món nợ truyền kiếp khiến Mị trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Khái niệm con dâu gạt nợ : Con dâu gạt nợ thì bề ngoài là con dâu nhưng thực chất bên trong là con nợ. Điều cực nhục và khổ đau của số phận nhân vật mà đó là: một con nợ thông thường dù khốn khổ vẫn còn hi vọng một ngày nào đó thoát khỏi thân phận con nợ khi đã thanh toán đầy đủ cho chủ nợ. Phương thức thanh toán có thể bằng tiền bằng vật chất bằng số ngày công làm việc cho chủ nợ.. Oái ăm chỗ Mị là con nợ nhưng Mị cũng lại là con dâu. Là con dâu linh hồn Mị đã bị đem trình ma nhà thống lí rồi Mị không thể chạy đâu cho thoát! Mị sẽ phải kéo lê cái thân phận khốn khổ của mình cho đến bao giờ? cho đến tàn đời!

Thực ra cái nguy cơ bị biến thành một thứ con nợ chung thân Mị đã linh cảm từ trước. Cô đã nghĩ cách cứu mình (thực chất là cứu tình yêu của mình) và trả món nợ của gia đình bằng cách đề nghị cha để cô "đi làm nương"; cô đã van xin cha: "đừng bán con cho nhà giàu". Nhưng sự thông minh của một cô gái mới lớn không thắng được hoàn cảnh và mưu chước thâm độc của cha con thống lí. Mị bị tròng hai thứ dây trói là làm con nợ (bắt buộc) và làm con dâu (ép buộc) vì cha con thống lí Pá Tra đã muốn như thế.

Phải sống với kẻ mà mình không yêu là nỗi khổ và nỗi đau của Mị. Có đến mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc. Rồi không thể chịu đựng hơn được nữa Mị tính chuyện ăn là ngón để tìm sự giải thoát: Người con gái hiếu thảo ấy trước khi chết về lạy cha mà cũng để xin cha cho mình được chết. Mấy lời thống thiết của người cha già chịu nhiều khổ não trong đời đã khiến Mị không thể nghĩ cho nỗi buồn của riêng bản thân Mị. Cô quay trớ lại nhà thống lí.

Từ đấy Mị chấp nhận cảnh ngộ sống "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa". Âm thầm như một cái bóng là cách sống mà Mị lựa chọn cho dù đó là một sự lựa chọn chống lại bản tính yêu đời của cô gái một thời xinh đẹp và tài hoa. Tác giả cắt nghĩa: "Ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi" để minh giải tình trạng bị đày đoạ đến mức bị tê liệt về tinh thần và dẫn tời tiếng thở dài buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh của nhân vật: "Bây giờ thì Mì tưởng mình cũng là con trâu mình cũng là con ngựa là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác ngựa chỉ biết việc ăn cỏ biết đi làm mà thôi".

 Bị biến thành một thứ công cụ lao động là nỗi cực nhục mà nhân vật phải chấp nhận và chịu đựng.

Nhưng sự ê chề của kiếp sống chưa dừng lại ở đó Mị còn phải chịu nỗi khổ đau về tinh thần triền miên. Căn buồng của người phụ nữ Mông thông thường là nơi họ được hướng chút hạnh phúc ít ỏi của thân phận làm người từ làm con đến làm dâu rồi làng mẹ. Căn buồng của Mị ở nhà thống lí chỉ là một thứ ngục thất giam cầm một tù nhân: "Ở cái buồng Mị nằm kín mít có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng".

Người con gái làm dâu gạt nợ ấy bị đày đoạ bởi lao động khổ sai ở nhà thống lí lẽ cố nhiên là rất cực nhục nhưng một sự câu lưu vĩnh viễn về tinh thần mới thực sự đáng sợ. Nó sẽ! làm cho cô sống mà như đã chết hay nói chính xác hơn là nó buộc cô phải chấp nhận tồn tại với trạng thái gần như đã chết trong lúc đang sống. Cô có thể thoắt ra khỏi tình thế tuyệt vọng ấy không khi cô đã mất tri giác về cuộc sống?

  +Vẻ đẹp trong tính cách nhân vật Mị với sức sống tiềm tàng dẫn tới sức phản kháng mãnh liệt táo bạo: mùa đông năm ấy gió và rét dữ đội nhưng mùa xuân vẫn cứ đến và con người dù khổ nghèo cơ cực đến mấy vẫn lại theo quy luật của tự nhiên mà rủ nhau đi chơi trong niềm vui sống có phần hoang dã và tự do của người Mông.
Hãy thử phân tích phần ca từ của tiếng sáo:

Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta chưa có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.

Ngôn từ giản dị mộc mạc vậy mà hàm chứa cái lẽ sống phóng khoáng tự do của con người. Lẽ phải đơn sơ ấy qua tiếng sáo đã vọng vào tâm hồn cô gái có một thời từng thổi sáo rất hay.

- diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đềm uống rượn đón xuân về khi nghe tiếng sáo gọi bạn khi niềm khao khát sống trở lại khi bị A Sử trói đứng khi chứng kiến tình cảnh của A Phủ cho tới khi cầm đao cắt đây trói cứu người bạn cùng cảnh ngộ và quyết định bỏ trốn khỏi Hồng Ngài...

Sự hồi sinh của tâm hồn nhân vật được tác giả miêu tả tinh tế phù hợp với tính  cách của người con gái ấy. Tuy nhiên cần chú ý việc nhà văn sử dụng khá nhiều những yếu tố bên ngoài tác động vào nhân vật được miêu tả rất tự nhiên như: khung cành mùa xuân tiếng sáo gọi bạn tình bữa rượu cúng ma đón năm mới... Tất cả đã hoá thành những lực tác động âm thầm đánh thức nỗi căm ghét bất công và tàn bạo cùng ý thức phản kháng lại cường quyền đánh thức cả niềm khao khát một cuộc sống tự do hoang dã và hồn nhiên vẫn được bảo lưu đâu đó tróng dòng máu truyền lại từ lối sống của tổ tiên du mục xa xưa làm sống dậy cái sức sống ẩn tàng trong cơ thể trẻ trung và tâm hồn vốn ham sống của Mị.

   - Hành động của nhân vật Mị xuất phát từ những thôi thúc của nội tâm :

+ Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ực từng bát trong một trạng thái thật khác thường. Rượu làm cơ thể và đầu óc Mị say nhưng tâm hồn cô thì từ phút ấy đã tỉnh lại sau bao tháng ngày câm nín mụ mị vì sự dày đoạ. Cái cách uống ừng ực như thế khiến người ta nghĩ: như thể cô đang uống đắng cay của cái phần đời đã qua như thể cô đang uống cái khao khát của phần đời chưa tới.

+ Lòng Mị đã phơi phới trở lại và cái ý nghĩ lạ lùng mà rất chân thực  "Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buôn nhớ lại nữa". Nghịch lí trên cho thấy: khi niềm khao khát sống hồi sinh tự nó bỗng trở thành một mãnh lực không ngờ xung dột gay gắt quyết một mất một còn với cái trạng thái vô nghĩa lí của thực tại. Sở trường phân tích tâm lí cho phép ngòi bút tác giả lách sâu vào những bí mật của đời sống nội tâm phát hiện nét đẹp và nét riêng của tính cách.

+ Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho căn buồng sáng lên Mị mặc áo váy mới để chuẩn bị đi chơi Mị với những kí ức tươi dẹp thời thanh xuân quên cả cảnh mãnh đang bị trói ...

+ Mị vẫn ra ngồi sưởi lửa bên cạnh A Phủ bất chấp việc bị A Sử đạp ngã xuống đất.

+ Mị cắt dây trói cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi Hỏng Ngài

       Khi sức sống tiềm tàng trong tâm hồn nhân vật được hồi sinh nó sẽ là ngọn lửa không thể dập tắt. Nó tất yếu chuyển hoá thành hành động phản kháng táo bạo ở những nạn nhân của giai cấp thống trị chính họ sẽ đứng lên chống lại cường quyền áp bức chống lai mọi sự chà đạp lăng nhục vật hoá con người (déshumaniser) để cứu lấy cuộc đời mình.

 

 


2)  Hình tượng nhân vật A Phủ 

Nhân vật A Phủ cũng là một đóng góp mới của tác giả về phương diện xây dựng nhân vật.

- A Phủ với số phận đặc biệt: Chú bé A Phủ từ tuổi thơ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ không còn người thân thích trên đời vì cả làng A Phủ không mấy ai qua được trận dịch. A Phủ sống sót không phải nhờ sự ngẫu nhiên mà vì chú là một mầm sống khoẻ đã vượt qua được sự sàng lọc nghiệt ngã của tự nhiên. Bời thế không ngạc nhiên khi có người bắt A Phù đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái. Tuy mới mười tuổi nhưng A Phủ gan bướng không thích ở dưới cánh đồng thấp trốn thoát lên núi lưu lạc tới Hồng Ngài. Lớn lên giữa núi rừng A Phủ trở thành chàng trai Mông khoẻ mạnh chạy nhanh như ngựa biết đúc lưỡi cày biết đúc cuốc lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo. Con gái trong làng nhiều người mê nhiều người nói: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà chẳng mấy lúc mà giàu". Người ta ao ước đùa thế thôi chứ A Phủ vẫn rất nghèo. A Phủ không có cha không có mẹ không có ruộng không có bạc suốt đời làm thuê làm mướn phép làng và tục lệ cười xin ngặt đến nỗi A Phủ không thể nào lấy nổi vợ.

- A Phủ với cá tính đặc biệt: Cá tính gan góc của A Phủ vốn đã bộc lộ từ năm lên mười cá tính ấy lại được chính cuộc sống hoang dã của núi rừng cùng hoàn cảnh ở đợ làm thuê nhiều cực nhọc vất vả hun đúc để A Phủ trở thành một chàng trai có tính cách mạnh mẽ táo bạo. 

Trận đòn mà Phủ đành cho A Sử được miêu tả thật sống động:

"- Lũ phá đám ta đềm qua đây rồi.
- A Phủ đâu ?A Phủ đánh chết nó đi!

Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng nào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên. A Phủ đã xộc tới nắm cái vòng cổ kẹo dập đầu xuống xé vai áo đánh tới tấp"

Một đoạn văn ngắn với hàng loạt các động từ cùng lối miêu tả các động tác nhanh gấp: chạy vụt ra ném lăng xộc tới nắm cái uổng cổ kéo dập đầu xuống xé lai áo đánh tới tấp... cho thấy sức mạnh và tính cách con người A Phủ qua hành động.

Ở vùng núi cao bọn chúa đất như thống lí Pá Tra là một thứ trời con con trai thống lí là con trời không ai dám đụng tới. Nhưng A Phủ không sợ. Với A Phủ A Sử chỉ là đứa phá đám cuộc chơi cần phải đánh. Thế thôi.

A Phủ đã phải trả một cái giá rất đắt cho hành động táo tợn ấy. Nhưng là người đơn giản A Phủ không quan tâm. Khi đã phải sống thân phạn của kẻ làm công trừ nợ A Phủ vẫn là một chàng trai của tự do dù phải quanh năm một thân một mình "đốt rừng cày nương cuốc nương săn bò tót bẫy hổ chăn bò chăn ngựa..." nhưng cũng là quanh năm A Phủ "bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng" làm phăng phăng mọi thứ không khác với những năm tháng trước kia. Khi rừng đôi vì mải bẫy nhím để hổ bắt mất bò A Phủ điềm nhiên vác nửa con bò hổ ăn đó về. A Phủ nói chuyện đi "lấy con hổ về" một cách thản nhiên và coi đó là một chuyện rất dễ dàng. A Phủ cãi lại thống lí cũng rất điềm nhiên: A Phủ không biết sợ các uy của bất cứ ai. Con hổ hay thống lí Pá Tra cũng thế thôi. Kể cả khi lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây rồi đóng cọc để người ta trói đứng mình chết thế mạng cho con vật bị mất A Phủ cũng làm các việc ấy một cạch thản nhiên không nói. Là người mạnh mẽ và gan góc A Phủ không sợ cả cái chết...

Có thể nói nhân vật A Phủ đã được khắc hoạ thành công. Sở trường quan sát nhạy bén và khả năng thiên phú trong việc nắm bắt cá tính con người là hai yếu tố đã giúp nhà văn chỉ với mấy nét đơn sơ mà tạo dựng được một hình tượng đặc sắc.

 

More...

Đặc điểm của ngôn ngữ văn học

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Đặc điểm của ngôn ngữ văn học

      Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học như màu sắc đối với hội họa âm thanh đối với âm nhạc hình khối đối với kiến trúc. Nói cho cùng văn họcnghệ thuật của ngôn ngữ. Những nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt. Trong sự sáng tạo của nhà văn sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng. Trong lao động nghệ thuật của nhà văn có một sự lao tâm khổ tứ về ngôn ngữ.
      Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ toàn dân để sang tác tác phẩm văn học để sang tạo ra ngôn ngữ văn học. Giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn học có sự khác biệt. Theo Go-rơ-ki ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói "nguyên liệu" còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói đã được nhứng người thợ tinh xảo nhào luyện.
Ngôn ngữ văn học có những đặc điểm riêng:
      Ngôn ngữ văn học chính xác tinh luyện.

      Thường thì một khái niệm có nhiều từ để diễn tả nhưng chỉ một từ là đúng là chính xác với điều nhà văn muốn nói. Trong khi viết văn nhà văn phải lựa chọn từ nào là chính xác nhất. Các nhà văn cổ điển đã giác ngộ về ngôn ngữ sâu sắc vì vậy tác phẩm của họ có giá trị bền lâu.
Nguyễn Du tả Thúy Vân:
"... Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da"
Và tả Thúy Kiều:
"... Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh"
"Thua" và "nhường" "ghen" và "hờn" là những từ "định mệnh" của hai nhân vật chính xác một cách tuyệt đối.
Tản Đà đã cân nhắc từ "tuôn" và "khô" cho câu thơ:
"Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày"
Và:    "Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày"
      Cuối cùng tác giả đã chọn từ "khô" vì nó sâu hơn chính xác hơn tinh luyện hơn.
Nói đến đặc điểm này chúng ta cũng nên nhớ đến một ý kiến của Vích to Huy-Go. Ông nói: "Trong tiếng Pháp không có từ nào hay từ nào dở từ nào đặt đúng chỗ là từ đó hay".
Thật vậy chúng ta hãy thưởng thức cái hay của sự "đặt đúng chỗ" đó:
"Lúa níu anh trật dép"
(Trần Hữu Thung)
Từ "níu" rất quen thuộc được đặt vào văn cảnh này ý nghĩa trở nên mênh mông.
"Mình đi mình có nhớ mình"
(Việt Bắc - Tố Hữu)
Từ "mình" rất cũ Tố Hữu đã dung với ý nghĩa mới để diễn đạt nội dung tư tưởng cách mạng.
Đúng như Mai-a-cốp-xki nói "làm thơ là cân từ 1/1000 mg quặng chữ".
      Đặc điểm thứ hai của ngôn ngữ văn học là tính hình tượng.

Ngôn ngữ văn học không trừu tượng như ngôn ngữ triết học chính trị cũng không phải là ngôn ngữ kí hiệu hóa như một số môn khoa học.
Ngôn ngữ văn học trực tiếp xây dựng hình tượng trong tác phẩm nên nó không trừu tượng mà mang tính chất cảm tính cụ thể.
Ngôn ngữ gợi màu sắc:
"Vườn ai mướt quá xanh như ngọc."
(Hàn Mặc Tử)
"Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh"
(Xuân Diệu)
"Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông"
(Nguyễn Du)
Ngôn ngữ gợi đường nét:
"Lơ thơ tơ liễu buông mành"
Ba âm "ơ" (lơ thơ tơ) gợi đường nét thưa thớt của những chiếc lá liễu buông mành.
"Súng bên sung đầu sát bên đầu"
(Chính Hữu)
Hình ảnh của tình đồng chí: nét thẳng (súng) của ý chí hòa hợp với nét cong (đầu) của tình cảm.
Ngôn ngữ gợi hình khối:
"Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa"
(Hồ Chí Minh)
"Cổ thụ" là một khối to đậm tiêu biểu cho sự hung vĩ của núi rừng. "Hoa" là một nét nhỏ nhẹ tiêu biểu cho vẻ thơ mộng của núi rừng. Tất cả đều nhuốm ánh trăng thật là huyền ảo.
" Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bong chiều sa."
Từ "đùn" miêu tả sự vận động của những khối mây như núi bạc. Bên cạnh khối mấy khổng lồ đó cánh chim đã nhỏ lại càng nhỏ hơn. Huy Cận đã diễn tả tài tình tâm trạng cô lieu trong tâm hồn thi nhân.
Nhà  thơ Tố Hữu đã diễn tả tâm trạng của ông khi trở về thăm người mẹ nuôi xưa với ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc tĩnh:
Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa
Mát rượi long ta ngân nga tiếng hát
Nhà thơ Tố Hữu nói: "Nhịp điệu của hai câu thơ là nhịp điệu của sóng gió và cũng là nhịp điệu của náo nức xôn xao và biết bao sung sướng êm ái trong lòng người trở về quê cũ nơi đã nuôi mình".
      Đặc điểm thứ ba của ngôn ngữ văn học là tính biểu cảm.

Ngôn ngữ văn học chẳng những phải chính xác phải có tính hình tượng mà còn có giá trị biểu cảm. Văn học trực tiếp bộc lộ cảm xúc của nhà văn qua ngôn ngữ văn học. Nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc nên ngôn ngữ văn học giàu tính biểu cảm. Tất nhiên tính biểu cảm có thể bộc lộ dưới nhiều dạng thức: trực tiếp gián tiếp có hình ảnh hoặc là ngôn từ thuần túy.
Khi Nguyễn Trãi viết: "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn" thì từ "nướng" đã chứa chất cả tinh thần phẫn nộ của ông đối với giặc Minh.
Khi Tú Xương viết: "Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông" thì từ "lèn" vữa diễn tả chính xác hành vi của kẻ cướp lại vừa bộc lộ thái độ châm biếm chế giễu tên quan tuần phủ.
Khi Xuân Diệu viết: "Con cò trên ruộng cánh phân vân" thì cánh cò ấy là cánh cò đầy tâm trạng của trái tim đang yêu của thi sĩ.
Khi Chế Lan Viên viết: "Ta là ta mà vẫn cứ mê ta" là ông quá say mê với cuộc sống quá tự hào về thời đại và dân tộc mà ông đã diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ trần trụi như thế.
      Nói đến ngôn ngữ văn học không thể quên được lời nhận xét tinh tường của Pau-tốp-xki (Nga): "Thi ca có một đặc tính kì lạ. Nó trả lại cho chữ cái tươi mát trinh bạch ban đầu. Những chữ tả tơi nhất mà chúng ta đã nói cạn đến cùng mất sạch tính chất hình tượng đối với chúng còn lại chẳng khác gì một cái vỏ chữ. Những chứ ấy trong thi ca lại sáng lấp lánh lại kêu giòn và tỏa hương".

More...

ĐIỀU GÌ KHIẾN BẠN SỢ NHẤT KHI PHÂN TÍCH "VỢ NHẶT" - Phần II

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

..."Tôi vẫn có ý định là không mô tả trực tiếp trạng thái tâm lý của người đàn bà. Tôi muốn qua cách nhìn của Tràng của bà cụ Tứ để làm nổi bật lên sự hiện diện của thị. Ở đây mỗi khi thay đổi cách gọi: người đàn bà thị ả là một lần "nhân vật vợ mới" thay đổi vị trí trong hai con người kia. Bà cụ không còn giấu cảm nghĩ của mình nữa. Bà kể lể về đám cưới với dăm ba mâm cỗ cho hàng xóm họ hàng nhưng "nhà nghèo" và "năm nay thì đói to" nên chỉ cần "chúng mày hòa hợp là u mừng". Sự thành thật xen lẫn nỗi đắng cay khiến bà khóc. Bà khóc vì lo cho cái hạnh phúc mong manh của con trai khó có thể giữ nổi trong cuộc sống đói khổ này..."

 

 


  • alt

     

    Chân dung Nhà văn Kim Lân - Tranh của  họa sĩ Nguyễn Thị Hiền - con gái cả của nhà văn

     

    Trong tâm trạng bồn chồn của Tràng và sự tủi thân câm lặng của cô vợ việc bà cụ Tứ trở về đã xua tan được không khí bế tắc. Tràng vui vẻ hẳn còn người đàn bà lạ cất một câu chào ấm áp: "U đã về ạ". Bà cụ Tứ có ngỡ ngàng chút ít nhưng bà cũng đồng ý chóng vánh. Không thấy bà lục vấn hỏi han gì con trai điều mà các bà mẹ thường làm. Vậy trong mạch truyện sự đồng ý nhanh chóng của người mẹ có quá gượng ép?

Nhà văn Kim Lân: Chúng ta nên hiểu tâm trạng của bà mẹ. Bà cụ Tứ ngay khi về đến nhà đã bị ngạc nhiên vì sự vui vẻ và chờ đợi "nóng cả ruột" của con trai mình. Bà càng ngạc nhiên khi có người đàn bà lạ ở trong nhà mà lại đứng ở "đầu giường thằng con". Người đó lại chào bà bằng u. Cái cảnh đó chưa được giải thích đến nỗi bà cụ tưởng nhầm như mình đang mơ thấy cái Đục - cô con gái đã chết hiện về. Và khi Tràng giải thích bà "nín lặng" hiểu ra mọi chuyện. Bà tủi phận vì đã không xứng đáng là một người mẹ không lo cho con một cách đàng hoàng như người khác. Hơn cả đứa con bà hiểu rõ hơn hoàn cảnh của chúng. "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy mình. Mà con mình mới có vợ được" bà nghĩ. Có thể bà hơi ngao ngán về chuyện đó một chút nhưng cảm giác "hàm ơn" đối với người đàn bà là nhiều hơn người đã giúp bà "lo" cho con trai bà bằng cách làm vợ anh ta. Bà không dám tin rằng "Chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này". Ý nghĩa về cuộc sống tương lai và hiện tại gian nan có người đàn bà lạ tham dự vào là một cách bà đồng ý với Tràng. Cuộc sống không cho họ đòi hỏi nhiều hơn. Dù họ có vật lộn có làm khó dễ có khó tính đòi hỏi điều này điều nọ thì câu trả lời cho họ vẫn là cái đói treo lơ lửng trước mặt.

 
  • Tương lai của cặp vợ chồng mới nay như bóng tối trong con mắt bà. "Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt". Xen vào ý nghĩ tối tăm hiện thực cuộc sống đồng thanh xác nhận điều đó bằng mùi trấu khét lẹt ở nhà những người chết. Bà nghĩ đến cuộc đời bà và ngầm so sánh với cuộc sống của cặp vợ chồng này. Chúng chỉ có một điểm chung là không một chút nào tươi sáng. Bà nhắc " Con ngồi xuống đây". Lời nhắc này có ý nghĩa như lời chào thuận lòng của người mẹ. Bà thực sự chấp nhận thị là con dâu bà hay do hoàn cảnh mà bà phải chấp nhận?

Nhà văn Kim Lân: Cuộc gặp đầu tiên đó không có cái ý nghĩa "mẹ chồng con dâu". Cái tình cảm chiếm nhiều nhất trong lòng bà cụ Tứ là tình cảm "thương xót" một người đàn bà cùng đường. Hơn nữa có một nỗi "hàm ơn mơ hồ" luôn bám lấy bà. Người đàn bà đã giúp bà cái việc bà không thể làm cho con trai là lấy vợ cho anh ta

 
  • Ở đoạn văn này tại sao tác giả lại không phân tích tâm trạng của người đàn bà tâm trạng nơm nớp vì có thể bà cụ Tứ sẽ không bằng lòng?

Nhà văn Kim Lân: Tôi vẫn có ý định là không mô tả trực tiếp trạng thái tâm lý của người đàn bà. Tôi muốn qua cách nhìn của Tràng của bà cụ Tứ để làm nổi bật lên sự hiện diện của thị. Ở đây mỗi khi thay đổi cách gọi: người đàn bà thị ả là một lần "nhân vật vợ mới" thay đổi vị trí trong hai con người kia. Bà cụ không còn giấu cảm nghĩ của mình nữa. Bà kể lể về đám cưới với dăm ba mâm cỗ cho hàng xóm họ hàng nhưng "nhà nghèo" và "năm nay thì đói to" nên chỉ cần "chúng mày hòa hợp là u mừng". Sự thành thật xen lẫn nỗi đắng cay khiến bà khóc. Bà khóc vì lo cho cái hạnh phúc mong manh của con trai khó có thể giữ nổi trong cuộc sống đói khổ này.

  • Tràng hồi hộp háo hức chờ mẹ và khi bà cụ Tứ đồng ý "Tràng thở đánh phào một cái" như vừa trút hết gánh nặng. Như vậy là Tràng chính thức có vợ. Nhưng Tràng có hiểu được những giọt nước mắt của mẹ?

Nhà văn Kim Lân: Tràng hiểu bà mẹ chỉ nhìn thấy ở việc mình có vợ những viễn cảnh tăm tối. Đó chính là điều đặc sắc của Tràng. Tràng tin tưởng ở mình tin tưởng ở những điều tốt đẹp nẩy sinh từ lòng mình. Những điều đó không thể có một kết cục tệ hại được. Có thể là ý nghĩa nhất thời nhưng Tràng phải nhắc nhở mẹ và vợ về điều này.

  • Và ngọn đèn Tràng thắp lên đã an ủi cả mấy người?

Nhà văn Kim Lân: Tràng "hầm hầm bước vào" và "đánh diêm đốt đèn". Hành động kiên quyết tạo ra một hình tượng "Ngọn đèn tỏa sáng trong căn nhà tối tăm". Tại sao Tràng không thắp đèn ngay khi về nhà? Bởi Tràng chỉ thắp khi phải củng cố niềm tin dù là nhỏ nhoi cho người khác. Ngọn đèn vừa mang biểu tượng cho một tương lai tươi sáng vừa liên kết gắn bó ba người lại với nhau - ba con người đói rách. Ngọn đèn là niềm yêu thương cảm thông lẫn nhau để cùng vượt lên trên số phận buồn thương của họ. Và khi thấy sáng bà lão "vội vàng lau nước mắt". Rõ ràng là căn nhà và trong lòng bà lão đều tốt như nhau. Ánh sáng như một lời hứa quyết tâm của người con trai gửi đến bà mẹ. Dầu đắt thế nhưng bởi có vợ mới nên con trai bà cũng mua được cơ mà. Tuy nhiên đèn sáng lên bà cũng chỉ "uể oải" đứng dậy đi nằm. Cái rạng rỡ của ánh sáng cũng chỉ là một viễn cảnh quá xa.

  • Ánh sáng soi rõ lòng bà mẹ và một lần nữa ngọn đèn tỏa rọi vào cuộc sống chung của đôi vợ chồng mới?

Nhà văn Kim Lân: Thực tại luôn luôn kéo người ta lại với nó. "Tiếng ai hờ khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ" đã lấy mất không khí lãng mạn ngọn đèn vừa mang đến. Cả hai một lần nữa lại "sượng sùng" không biết nói gì. Hình ảnh thực nhất là hình ảnh "ngọn đèn" hạnh phúc tương lai soi rọi họ và "kéo dài hai cái bóng trên vách". Hai cái bóng đó chính là cuộc sống thực của họ. Hai cái bóng lờ mờ lê thê khốn khổ. Sự thật trần trụi họ phải tiếp nhận là như thế.

  • Đêm tân hôn của cặp vợ chồng là đèn hạnh phúc. Mọi khó khăn đều tạm quên đi. Hai người hưởng cái niềm vui tột cùng mà thiên nhiên trao tặng. Nhưng cái niềm vui ấy được bao quanh bởi "tiếng khóc tỉ tê nghe càng rõ". Một đêm tân hôn trong tiếng khóc người chết và mùi trấu hun khê nồng. Tràng có cảm thấy hạnh phúc không?

alt


Nhà văn Kim Lân

Nhà văn Kim Lân: Tôi tả đêm tân hôn trong hoàn cảnh đó và để phân tích xem hạnh phúc tột cùng đó có chiến thắng cái đói không. Tràng hạnh phúc. Trong khung cảnh tối tăm và ghê rợn như thế nhưng niềm vui của con người vẫn không mất đi. Sáng hôm sau Tràng thức dậy rất muộn khi "mặt trời lên bằng con sào" chứng tỏ niềm hạnh phúc mà anh được nếm trải. Anh ta trở thành một con người khác. Một người chồng thực sự. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa soi vào hai con mắt của Tràng và mọi thứ bỗng nhiên thay đổi.

  • Đó là thay đổi thực hay Tràng chỉ cảm thấy thế?

Nhà văn Kim Lân: Cuộc sống thay đổi thực dù không nhiều với gia đình ấy. Tràng thấy mọi thứ "mới mẻ khác lạ". Nhà cửa vườn tược được thu vén gọn gàng. Các lu đựng nước đầy ắp. Quần áo cũ được giặt giũ và phơi nắng. Một nếp sống khác bắt đầu xuất hiện. Người làm thay đổi nếp sống ấy là người vợ đang "quét lại cái sân tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất". Cái âm thanh ấy ngày thường Tràng cũng nghe nhưng chưa bao giờ gợi cảm như thế. Người vợ mới muốn quét mạnh tay để tạo ra những âm thanh rộn rã khẳng định sự có mặt của mình trong ngôi nhà.

  • Cảnh tượng đó đã khiến Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng". Tràng là con là chồng Tràng có nhiều trách nhiệm hơn với ngôi nhà. Cái trách nhiệm cái niềm vui của cuộc sống mới đã khiến cho Tràng có "một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng" và "cũng muốn làm một việc gì để dự phần sửa lại căn nhà". Tất cả mọi người đều hiểu phải tiến gần nhau hơn?

Nhà văn Kim Lân: Cả ba đều ý thức thực sự về hoàn cảnh của mình. Tràng rõ ràng cảm thấy mình là chủ gia đình là nơi nương tựa của hai người đàn bà. Cái khao khát muốn làm một việc gì để "dự phần tu sửa lại căn nhà" như một lời hứa của Tràng. Tràng cảm thấy "hắn nên người". Bà cụ Tứ thì "lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở" và bỏ sẵn gieo trồng một thứ gì đó trong vườn.

  • Trong ba người người vợ lại ít được mô tả nhất. Tại sao?

alt

 

 Nguyễn Thị Thu Trang - Em học sinh từng đạt điểm 10 môn văn trong kỳ thi đại học năm 2005 với bài phân tích tác phẩm "Vợ nhặt".

Nhà văn Kim Lân: Thì thuận lòng làm vợ Tràng do hoàn cảnh nên luôn lặng im và khép nép. Sau đêm tân hôn sau đêm trở thành một phần đời sống của gia đình này thị bắt đầu tham gia vào công việc gia đình. Thị thay đổi là "người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn" nữa. Thị thay đổi nhiều so với "mấy lần gặp ở ngoài tỉnh". Thị không buông xuôi theo cuộc sống nữa mà bắt đầu hoạt động để thu vén tổ chức lại cuộc sống của mình. Người đàn bà thực thụ đã sống lại trong thị.

  • Mọi người đều có niềm vui nhưng rõ ràng họ luôn cố gắng tìm cách quên đi thực tại. "Bà lão nói toàn chuyện vui toàn chuyện sung sướng về sau này". Bà mẹ muốn cho ngày đầu tiên này thật tốt đẹp. Người vợ thì quét chổi "sàn sạt". Tràng thì muốn "thu xếp lại cửa nhà". Nhưng họ càng cố gắng thì cuộc sống khó khăn càng hiện ra khủng khiếp hơn?

Nhà văn Kim Lân: Ở đây tôi không chủ tâm diễn tả cái đói mà là muốn thể hiện cuộc sống của một cặp vợ chồng mới trong nạn đói. Cho nên cuộc sống đói khổ chỉ là cái nền thôi. Tuy nhiên chính vì nó mà niềm vui của cặp vợ chồng luôn bấp bênh. Ở đây có một ẩn ý: Cả ba người đều không quên thực tại và cố gắng của họ là tìm thấy niềm vui trong cuộc sống tối tăm. Cái bữa ăn đầu tiên ba người ngồi ăn chung mang ý nghĩa như bữa "tiệc cưới" tội nghiệp. "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rồi và một đĩa muối ăn với cháo". Sự tồi tàn của bữa ăn tương phản với niềm vui của họ. Họ đều "ăn rất ngon lành" và "vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn gia cảnh". Họ gắn bó nhau và yêu thương nhau hơn. Tràng trở nên ngoan ngoãn và nghe lời mẹ. "Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại hòa hợp thế". Tầm quan trọng của bữa ăn đầu thật rõ. Nhưng "tiệc cưới" kéo dài không lâu mỗi người chỉ được hai lưng cháo "lõng bõng". Màn cuối của bữa hoàn toàn phũ phàng khiến mọi người nhớ đến thực tại khắc nghiệt. Cô dâu đón lấy bát ăn và "đưa lên mắt nhìn" rồi "hai con mắt thị tối lại" vì cảm nhận tận cùng cái cơ cực của cuộc sống mới. Nhưng thị đã "điềm nhiên và vào miệng". Đấy dù sao cũng là lối tốt nhất cho cuộc đời của thị.

  • Nồi cháo đã đập tan không khí vui tươi ở phần đầu bữa ăn. "Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì họ cắm đầu ăn cho xong lần họ tránh nhìn mặt nhau một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người". Trong sách Văn học lớp 12 phần được trích giảng cũng dừng ở đoạn này. Câu văn dường như bóc nốt lượt cuối lớp vỏ bên ngoài của cuộc sống để cho cả ba thấy cái "đắng chát" cái nghẹn bứ trong cổ. Cuộc sống không báo hiệu một tia hy vọng nào?

Nhà văn Kim Lân: Thực ra với tứ truyện "Vợ nhặt" truyện nên kết thúc ở đây. Thâm tâm tôi cũng định thế nhưng do điều kiện của tờ báo bấy giờ truyện mới được kéo dài ra thêm. Tôi muốn cho độc giả thấy dù hoàn cảnh thế nào đi nữa thì tình người vẫn vượt lên trên tất cả. Có tình người là có cuộc sống. Có tình người là có hy vọng vào tương lai.

  • Thưa nhà văn đoạn nào trong truyện là đoạn gây xúc động nhất cho riêng nhà văn?

Nhà văn Kim Lân: Phần gây xúc động nhất cho tôi là khi đọc lại truyện là đoạn bà cụ Tứ trở về. Ở đây tình của người mẹ thật lớn. Bà nhanh chóng hiểu rõ hoàn cảnh và chấp nhận ngay. Bà không chỉ thương con trai mà còn đầy lòng thương xót với người đàn bà cùng quẫn kia dù hoàn cảnh bà cũng không khá hơn lắm. Đó chính là bản chất nhân đạo trong tâm hồn con người Việt. Đó cũng là chủ đề của câu truyện.

Đặng Thanh Hương (thực hiện)

More...