Nhật ký bằng thơ của một người lính - Viết trong ngày 30/4

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  Viết trong ngày 30/4

30/4/1975

Tin toàn thắng nhận khi vừa chạm đích
Tột đỉnh niềm vui bỗng chốc vỡ oà

Chợt ngoảnh phía đồng đội tôi  nằm lại

Nghẹn lòng nước mắt gửi  rừng xa

30/4/2010

Cứ hẹn bạn sau ngày giải phóng

Sẽ vào tìm đưa đồng đội về quê

Dằn dỗi chiến tranh dãi dầu dâu bể

Mãi hôm nay chưa đưa được bạn tôi về

30/4...

Vẫn biết bạn đã  hoá mình vào sóng nước

Ngàn sau  đất mãi  ủ  ấm mình

Xin được thắp nén hương lòng trong ngày hội lớn

Giữa cờ hoa như có bạn hồi sinh

                           Lê bá Dương

                       Nha Trang 30/4/2010

 Và những bài ca..

MÀU HOA ĐỎ
Tác giả : THUẬN YẾN - THƠ : NGUYỄN ĐỨC MẬU

 
"Bài thơ Thời hoa đỏ của Nguyễn Đức Mậu được viết ra vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ bằng xúc cảm của người lính:
 Có người lính mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo
Có người lính mùa xuân ấy ra đi từ đó không về
Dòng tên anh khắc vào đá núi mây ngàn hóa bóng cây che
Chiều biên cương trắng trời sương núi mẹ già mỏi mắt nhìn theo.
Việt Nam ơi Việt Nam! Núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con.
Việt Nam ơi Việt Nam! Ngọn núi nơi anh ngã xuống
Rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
Rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn.

Thoáng chút bùi ngùi song phần hồn của Màu hoa đỏ là niềm tin tất thắng vào ngày mai. Màu hoa đỏ chính là vầng hào quang chiến thắng mà tác giả đã mường tượng và đã trở thành hiện thực vào ngày 30-4-1975 lịch sử.

Nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ khá nhiều bài thơ thành những ca khúc hay đặc biệt là những bài thơ viết về chiến tranh và người lính. Với Màu hoa đỏ không phải là khổ thơ vần song ông đã phổ nên một giai điệu trữ tình lẫn bi tráng tạo cảm xúc mạnh với người nghe."

 

More...

THƠ RAXUN GAMZATỐP

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

TRIỆU LAM CHÂU

  Nhà thơ Raxun Gamzatốp sinh năm 1923 người dân tộc thiểu số Avar nước Cộng hoà tự trị Đaghextan thuộc Liên bang Nga. Ông được tặng danh hiệu nhà thơ nhân dân Liên Xô (1959) Nhà hoạt động xã hội Anh hùng Lao động xã hội chủ nghĩa Liên Xô (1974).Năm 1963 Raxun Gamzatốp đoạt Giải thưởng Lênin về văn học với tập thơ Những ngôi sao trên cao. Bạn đọc Nga say mê phong cách thơ độc đáo của Raxun Gamzatốp phản ánh mảng hiện thực miền núi Đaghextan với một loạt tập thơ và trường ca đặc sắc: Mảnh đất của tôi Tổ quốc của người sơn cước Trái tim tôi trên núi Bên bếp lửa Và trò truyện cùng sao Chuỗi hạt tháng năm Cô sơn nữ Cái giá cuối cùng Trò truyện với người cha Hãy phán xét tôi theo đạo luật của tình yêu Hãy bảo vệ các bà mẹ Hòn đảo của phụ nữ... Đặc biệt là hai tập văn xuôi trữ tình Đaghextan của tôi (đã được dịch sang tiếng Việt) càng thể hiện rực rỡ phong cách sáng tác độc đáo của ông.
  Nét nổi bật nhất trong phong cách thơ Raxun Gamzatốp là sự giản dị giàu chất dân gian nhưng thấm đượm một trí tuệ thâm trầm sâu sắc đôi lúc có pha chút hóm hỉnh rất giàu chất dân dã của miền Đaghextan xứ núi. Nó thể hiện thành công tâm hồn mộc mạc đôn hậu giàu nghĩa khí của người miền núi quê ông cùng những giá trị thăm thẳm của lịch sử và chiều sâu văn hoá của miền Đaghextan xa xôi mà gần gũi với chúng ta.
  Thơ Raxun Gamzatốp là sự giao thoa đẹp đẽ giữa hai nền văn hoá Nga và Đaghextan. Trước kia thơ Raxun Gamzatốp là tiếng ca lạc quan là sự suy ngẫm và trải nghiệm sâu xa về tình yêu cuộc đời về dân tộc thời đại về Tổ quốc lịch sử về tình đoàn kết các dân tộc xây dựng cuộc sống mới trong Liên bang Xô Viết.
  Sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ năm 1991 một nhà thơ giàu ý thức công dân như Raxun Gamzatốp hẳn ông cảm thấy đau đớn vô cùng. Chính vì vậy thơ của ông sáng tác thời kỳ sau này nhuốm một nỗi buồn thế sự rất sâu xa. Mỗi vần thơ của ông chính là máu thịt của ông giữa cuộc đời này.
  Thơ Raxun Gamzatốp đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Đồng cảm với tâm hồn Raxun Gamzatốp tôi chọn dịch những vần thơ tứ tuyệt của ông từ tiếng Nga và tập hợp thành tập "Cây tiêu huyền nghe mưa". Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa...



1 .
    Lãnh tụ cũ ra đi sẽ có lãnh tụ mới
    Những sắc lệnh họp bàn tranh cãi...
    Đất cần có nông dân và nắng mưa
    Chứ đâu cần quyết định trên giấy tờ.


2
. Người ta mơn trớn chúng tôi rằng :
    Anh bay trong "bước ngoặt vĩ đại"
    Thực ra chúng ta đang chữa lại
    Chiếc thang máy cũ mèm trong nhà bẩn tồi tàn.



3. Vạn Lý trường thành -  hiện vật bảo tàng
    Bức tường Béclin- tuyệt nhiên không phải...
    Lời nói dối mạnh hơn hai tường ấy
    Nó phá tan tất cả tanh bành.


4. Chúng ta mãi nhìn qua ống nhòm
   Tạc lãnh tụ đội mũ giáp cầm gươm cưỡi ngựa chiến
   Tôi cũng muốn dựng một tượng đồng
   Lưu danh một kẻ không hề rơi giọt máu.


5. Cuộc tranh luận bỗng dừng bao ngữ ngôn lặng im
    Tất cả đều quay nhìn
    Khi em xinh đẹp vừa xuất hiện
    Nơi đàn ông đang bàn việc công.


6. Trước đây chỉ cần một lời gọi một ánh nhìn
    Là triệu cánh tay lao vào công việc
    Giờ đây tất cả giơ nắm đấm và la hét
    Thế nhưng chẳng có việc nào xong.


7 . Tôi ngồi dưới bóng cây bên biển
     Rồi viết trong tiếng lá sóng rì rào
    Ai là tác giả bài ca ? Xin nghĩ thử
    Nhà thơ hay bóng lá biển xao ?


8. Giá bánh mì tăng lên từng ngày
    Giá con người giảm đi mỗi ngày
    Tình trạng này kéo dài bao lâu
    Rồi chúng ta sẽ đi về đâu?


9. Tôi không nói mình xấu từ trong nôi
    Tôi thành xấu theo tháng năm cuộc sống
    Tôi không nói: Mình hiền từ trong nôi
    Tôi thành hiền theo tháng năm cuộc sống.

10 . Thế gian này có ba loại người hạnh phúc:
    Loại thứ nhất - Người không biết gì
    Loại thứ hai - Là người mất trí
    Loại thứ ba - Thờ ơ với mọi điều.


11 . Người ta hỏi nhà thơ:
    Anh đóng vai trò gì đối với quốc gia đây?
    Người đánh trống hay là người nhảy múa
    Hay là bệnh nhân thiếu thuốc chữa lâu ngày.

12 . Sao trời không sinh ra tôi điếc
    Để khỏi nghe những lời tục tằn và xuẩn ngốc
    Sao trời không sinh ra tôi mù
    Để khỏi thấy những con lừa bạo chúa.

More...

Thế giới màu của Hoàng Vũ Thuật- Hoàng Thụy Anh

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Nguồn:  http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=937C5FF24242DB4F57C251AE9A1C85E0?action=viewArtwork&artworkId=11794

      Mỗi nhà thơ đều xây dựng con đường nghệ thuật riêng của mình. Con đường đó được ký mã bởi sự hợp nhất giữa tài năng và sáng tạo. Đã gần 7 năm kể từ khi tập thơ Tháp nghiêng ra đời Hoàng Vũ Thuật lại xuất hiện và liên tục cho ra đời hai tập thơ: MàuNgôi nhà cỏ. Khoảng thời gian ấy cần và đủ để Hoàng Vũ Thuật tiếp nối và khẳng định con đường thơ siêu thực của mình. Những câu thơ hoa vỡ (theo cách nói của Yến Nhi) lại thêm lần nữa đưa người đọc vào mê lộ. Mê lộ của một thế giới Màu.

    Tập thơ Màu tròn trịa 60 bài. 60 bài hầu hết đều không viết hoa (ngoại trừ một số tên riêng) và không dùng một dấu chấm hay dấu phẩy nào. Dù vô tình hay cố ý đều là cách sáng tạo của Hoàng Vũ Thuật để nhà thơ có thể chông chênh giữa hai bờ hư và thực. Sự chông chênh ấy giúp ông dễ dàng bước vào lãnh địa của thơ siêu thực và sáng tạo những hình ảnh đầy ám dụ. Vì thế mỗi bài thơ trong tập Màu là một thế giới nhỏ trong thế giới lớn thế-giới-trời-ban-cho.

    Hoàng Vũ Thuật luôn nặng tình với cuộc sống với người với thơ. Màu đong đầy nỗi niềm ấy. Vì “quá nhàm mòn các ngả đường đến và đi” nên ông đam mê “những dòng chữ ghép lại” để thơ mang nghĩa tạo sinh: “vừa tối vừa sáng / vừa cổ điển vừa hiện đại / vừa xa lạ vừa gần gũi / vừa đầy ắp vừa mong manh”. Ông tránh xa “chữ nghĩa đánh bóng mạ kền / bày bán cùng / hoa / thử bóc từng cánh áo / đến tận ruột mà xác xơ hương” tránh xa “rao giảng điều vô bổ / không tín đồ không giáo hữu / ngôn từ hẫng hụt phù du / chân trời gốc cây chiếc bóng / ghép mãi chẳng thành”. Với ông bản năng cảm xúc chưa đủ thơ phải giàu triết lí thơ mới tồn tại với thời gian. Dẫu “ý tưởng chắp nối lạc vần / rung trên sợi dây mặc cảm” nhưng tạo ra lửa thì lúc đó sẽ “khởi nguyên / bài thơ thoát xác”. Hoàng Vũ Thuật đã làm được điều ấy khi tung vào thơ những nguồn cảm hứng lạ nhưng đầy lửa. Ông đã vượt qua được “những vòng tròn cấm kị / vành khăn trắng / trong nghĩa địa ngôn từ” nhờ sự phân thân. Phân thân vốn đã trở thành trò chơi của Hoàng vũ Thuật. Trò chơi này đã có từ tập thơ Thế giới bàn tay trái Đám mây lơ lửngTháp nghiêng. Trong guồng quay không nghĩ sự phân thân ở Màu càng sâu đậm và rõ nét hơn: vừa khát khao cất lên “bài ca cuộc hành trình vòng quanh trái đất” lại vừa muốn “chiếc áo quan vĩnh hằng bọc lấy hồn tôi” vừa nhắc nhở “đừng chờ anh / đừng chờ cái hướng không định” vừa khẳng định “anh vẫn chờ vệt nắng màu tím / định vị giờ ấy ngày ấy” vừa muốn “ghép lại tháng ngày cằn rỗng” vừa muốn “tháo sợi dây buộc chặt cõi đời”… Dường như có một cái gì đó mâu thuẫn dằng xé trong con người ông? Ở đây nhà thơ phân thân không phải vì bế tắc mà phân thân để tăng hàm lượng ngữ nghĩa cho thơ. Phân thân để kết nối không gian thời gian và tâm trạng một cách khách quan. Lí giải tâm trạng lưỡng phân đó ông cho rằng đứng giữa khoảng cách con người mới có thể “nghiệm” được các chân giá trị:

khoảng cách ngày và đêm

đủ nhận biết vũ trụ

khoảng cách tối và sáng

đủ nhận biết thế giới

khoảng cách bão tố và bình yên

đủ nhận biết nhân gian

khoảng cách yêu và giận

đủ nhận biết mình

    Những khoảng cách “đủ nhận” thiết lập sự cân bằng của nghiệm. Giữa khoảng cách ấy ông vẫn khẳng định được tâm thế và bản lĩnh: “anh ngược con đường / để trở về con đường khác” dẫu biết mình “như người điên đi trong dầm dã / hai mươi năm sau / không biết nơi nào để dừng”.

    Màu hướng về nhân gian cuộc sống xung quanh hướng về những sự việc nhỏ như: hình ảnh đàn kiến “góp nhặt” người kéo xe “dốc ngược tháng ngày lên vai” hình ảnh con quạ “cứa mặt tôi đường bay đen” cốc kem giữa nàng và con chó phốc “chiều chiều bên sông Nga / bồng bềnh cụm mây kem xốp” hay người hoạ sĩ trong công viên kuntura “trơ trọi giữa khung đêm”… cho đến những sự việc lớn hơn như: Xanh pêtécbua “triệu tảng đá đóng băng vuông vắn chảy về / ngạo nghễ pháo đài Pêtrô Páplốp” chiến tranh ở I rắc và Li Băng nơi “máu xoáy sẹo đen lòng biển” chuyện lăng tẩm uy quyền với “trầm mặc thành quách”… Tất cả đan dệt nên “trái tim mang nỗi niềm”. Màu còn thấy người Digan hát múa cười… rong ruổi khắp nơi. Nhà thơ như nhập cuộc và đồng hành với tâm trạng của họ. Việc lặp cú pháp ở các khổ thơ vừa nói lên cái lẽ thường trong đời sống của người Digan vừa thể hiện cái không bình thường trong tâm khảm nhà thơ: “người Digan bị đánh cắp mọi thứ / chỉ còn trái đất thênh thênh / ngôi nhà không mái / trái đất Digan”. Đến thăm tượng Exênin “trái tim mang nỗi niềm” ấy cũng đầy xót xa trước số phận người-thơ: “ngực áo tháo tung / Exênin đứng mà đang chạy / dòng chữ bị săn / đuổi… / tiếng kèn vỡ vụn / máu trào sau nụ hôn”. Hoàng Vũ Thuật liệt kê các mặt đối lập: quá khứ và hiện tại giữa còn và mất... để người đọc tự chiêm nghiệm và giải mã:

nằm dưới kia

một hộp sọ một ống xương chân một đốt lóng tay

một trung thực một đớn hèn một điên loạn

một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà

một vận hạn một thức thời một nguyền rủa

trầm mặc thành quách

câm lặng

lên tiếng

câm lặng

bên ngách tường

xoáy

chùm hoa mần trầu

   Và ngay cả số phận của con chó con tội nghiệp “quên mất đường về / lang thang”  trước cảnh “người người bận rộn vô ra” cũng gieo rắc vào tâm hồn nhà thơ những đớn đau day dứt: “chiếc lưỡi thè ra / đỏ hỏn / đang ứa một mặt trời non / và dòng dòng nước / nhểu / nỗi buồn gì ơi chó con”. Ta như nghe cảtiếng chim từ Đám mây lơ lửng vẫn còn đồng vọng đến Màu. Nếu tiếng chim cu gù giữa trưa Hà Nội đưa nhà thơ trở về với quê nhà với những con người thân thuộc thì tiếng chim sau hè hôm nay day dứt hơn vì nó phức hợp khoảng đo giữa thời gian và không gian: “nhưng không sao đi hết tiếng chim / xa xăm và buồn / gieo vào tôi những hạt mầm / thời lên bảy”. Hơn nữa khi tiếng “chim sau hè gọi tôi / tiếng buồn xa xăm đến nỗi / tôi tưởng tiếng mẹ” thì tiếng mẹ và tiếng chim đã hoà vào nhau tạo nên cái nhịp bên trong của tâm trạng. Một tâm trạng thảng thốt nhớ mong hẫng hụt.

    Tình yêu cũng đem đến cho Màu những vẻ đẹp rất riêng. Màu là bản hợp tấu của tình yêu vô thường tình yêu nông nổi tình yêu nhẫn nại tình yêu yếu mềm tình yêu sa sẩy… Bởi thế nhà thơ sẵn sàng làm tên trộm để bơi trong hơi thở của người yêu “ngay cả lúc này em chìm sâu giấc đêm / tôi vẫn bơi qua cơn mơ nhẹ và êm / lẹ làng xáo tung đồ đạc / lấy đi mọi thứ trên thân thể / dại dột để lại dấu chấm”. Cái dấu chấm ấy là tình yêu là tấm lòng là sự thừa nhận chân thành của một trái tim chân thành là tất cả tài sản vô giá mà tên trộm sẵn sàng dâng hiến. Tình yêu giúp tên trộm vượt ra ngoài biên giới của sự tầm thường vươn tới sự thánh thiện tâm hồn. Đó là ý niệm trước cái đẹp vĩnh hằng-cái đẹp luôn luôn bị đánh cắp một phát kiến đầy thi sĩ.  Hoặc biết “anh là kẻ có tội / vì đã dám yêu em” nhưng nhà thơ vẫn sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt giam ở địa ngục với sợi dây xích sắt trói chặt đem xử bắn ở pháp trường. Vì tin tưởng và hi vọng tình yêu chân thành của mình sẽ lay chuyển thay đổi bản ngã em chiến thắng những mê trận mà em bày ra. Và cao hơn cả thi sĩ đã bơi được vào tâm thức của em để lí giải sự kiếm tìm của tình yêu: “nếu đạn bắn vào anh / sẽ làm em chết mất”…Tình yêu trở thành biểu tượng của cái đẹp cái cao thượng và thanh khiết. Cách tư duy như vậy thơ tình yêu của Hoàng Vũ Thuật luôn phát hiện những dáng nét không hề trộn lẫn.

      Chính nỗi lòng đầy trắc ẩn với thơ với đời với nhân gian giúp Hoàng Vũ Thuật có cái nhìn sâu vào thế giới: “thế giới sắp xếp tưởng đã ngăn nắp quy củ / thế rồi xáo tung lên hết thảy”. Thế giới bị xáo tung lên bởi những “cái chết được thử nghiệm / I rắc / giờ thì Li Băng…/ những ngày thảm khốc tôi vùi chân bên dòng Nêva” cảnh tượng “nghẹt thở vì xe cộ” nỗi đau nhức nhói “dưới vòm trời / thập loại chúng sinh lang thang tìm lối sống” sự tàn phá “mịt mờ quầng lửa” khiến“những chiếc lá bốc hơi / những chiếc lá dị dạng / những chiếc lá vuốt mặt không kịp cất tiếng”… Thế giới loài người không hề bình yên luôn biến động và đầy phức tạp đã giúp cho nhà thơ một nhãn quan triết lí. Nhà thơ trở thành nhà tư tưởng:

                             làm lại thế giới đã khó

                             làm lại con người càng khó hơn

    Với ý niệm “con người có thể dựng ngược mình lên” “cười nửa miệng / nói nửa miệng / âm thanh nghiêng nghiêng” như “cách nói người thượng cổ” Hoàng Vũ Thuật chấp nhận cái khác người: “tôi cũng là thế giới / tự đảo lộn mình / đi đứng nói cười kiểu mình”. Nhà thơ cho mình là một phần của thế giới nên thế giới thay đổi thì con người thay đổi là tất yếu. Sự thay đổi mình chính là sự thay đổi về nhận thức con đường thơ của mình.

    Màu đã phác thảo chân dung cái Tôi như muốn gồng lên với nhân sinh. Cái Tôi nổi loạn dấn thân vào kiệt cùng của thế giới. Cái Tôi ấy hệ luỵ đến chữ nghĩa khiến chữ nghĩa cuộn sóng “phun trào cát bỏng”.

    Sự chi phối của hai trục: lựa chọn và kết hợp tạo nên khuôn mặt cho thi ca (R. Jakobson). Nhờ sự kết hợp khéo léo và tinh tế Hoàng Vũ Thuật mang đến cho Màu những hình ảnh mới lạ siêu thực: “mặt trời cuộn tròn đêm” “nét cong viền hờn dỗi” “trưa lệch phai” “cát thiền dấu chân” “cây cứ xanh ngoài lời” “những buổi chiều lặng lẽ lên men” “nhện vắt dây qua mùa đông khắc khoải” “con thuyền neo hai bờ sông mắt” “đôi mắt miếu thờ” “sáu mươi ngày bông lông chui qua ngón tay mồ côi” “anh chạm mặt vào đêm” “tình yêu bọc tả lót ru đoá phù dung”… Ngỡ hồ không có sự liên kết lôgíc giữa chúng nhưng chính chúng lại là trung tâm của sự phát nghĩa.

    “Những va đập chói loà của từ ngữ”(J.Vaché) tạo nên sức mạnh của ẩn dụ trong tập thơ Màu. Hình ảnh đơn nghĩa nhoè đi nhường chỗ cho những hình ảnh đa nghĩa. Khi các hình ảnh thơ chuyển động tạo nên những biểu tượng trùng phức giàu sức ám gợi. Tháp chuông nhà thờ không chỉ là biểu tượng văn hoá mà còn là biểu tượng của nỗi đau “vết sẹo bầm tím / không có người đi lễ không có người / cầu nguyện”. Quạ đen là sự chết chóc nhưng với Hoàng Vũ Thuật còn là vẻ đẹp của sự khởi nguyên “vắt qua cửa sổ / tầng tám / tách khỏi vỏ trứng / tôi là quạ đen”… Biểu tượng và ẩn dụ nhập với nhau đem lại những cảm giác mới lạ cho người đọc.

    Sự lặp lại cấu trúc cú pháp song hành với sự tăng nghĩa khiến nhà thơ không cần nhiều lời: “giá như mọi vật đồng nghĩa với cái không tồn tại / giá như cứ thế mà xa cứ thế mà quên”. Kĩ thuật bỏ lửng được gia công rất nhiều trong Màu. Ông bỏ lửng cuối câu nhằm mục đích kéo dài ý nghĩa thơ và khơi gợi tính “đồng sáng tạo” của người đọc. Khi luận giải “điều ấy có ý nghĩa gì” Hoàng Vũ Thuật lặp đi lặp lại trong năm khổ thơ và kết thúc bằng sự lấp lửng bỏ ngỏ rất nghệ thuật: “tôi thường đếm từng nấc cầu thang xuống lên / đếm tiếng trái tim khuya / dấu vết thương vừa ủ / cổ lỗ tên hề / điều ấy có ý nghĩa gì”. Tạo nét thiếu cần có ông đã làm nên vẻ đẹp của “bông hoa vỡ ngàn cánh máu / rỏ xuống lót ổ câu thơ / bào thai thiên thần”. Việc không ngắt câu bằng dấu chấm hay dấu phẩy cùng với thủ thuật dán ghép chắp nối nhà thơ tạo nên một cơn lốc thơ: những dòng chảy tâm trạng triền miên gối lên nhau bởi những hình ảnh không biên giới. Đó là cảm thức chính khi đón nhận Màu.

   Màu là một sân chơi của Hoàng Vũ Thuật. Ở đây không phải là sự va chạm của các sắc màu mà là màu của “nghiệm”. “Nghiệm” chính mình và nghiệm cõi thế. Sự giản nở va đập của các con chữ làm Màu thêm sinh động bởi cái tình của người-thơ. Vì vậy không có cách giải mã nào là độc sáng khi thơ ẩn chứa những mạch ngầm nổi loạn bên trong. Chính Hoàng Vũ Thuật cũng trăn trở khôn nguôi: “còn tôi / màu gì // con thằn lằn bò quanh chờ điều gì đấy”. Sự trăn trở ấy là cần thiết để Hoàng Vũ Thuật tiếp tục hành trình của mình ở phía trước: “trên hứng khởi người tìm bóng tối với những ngôi sao cuồng chết bên gốc dứa dại / trên nỗi giận hờn cánh cửa đóng sập sau lưng trừng phạt ghen tuông mù mì / trên trái chín run rẩy cặp môi tình nhân ngọt ngào nước mắt đoàn tụ / trên cánh bay giấc mơ hoang tưởng và hiện thực chồng chéo tan chảy / trên tuyêt vọng rơi rơi rơi hun hút chín tầng âm u / anh đợi”.

25.5.2010

Nguồn http://nhavantphcm.com.vn/the-gioi-sach/the-gioi-mau-cua-hoang-vu-thuat.html

TÁC PHẨM CỦA HOÀNG THUỴ ANH:

>> Thế giới và những lát cắt siêu thực

>> Thơ Hoàng Vũ Thuật nhìn từ thi pháp học R.Jakobson

 

More...

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ HOÀNG VŨ THUẬT

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ HOÀNG VŨ THUẬT  (PHẦN II)

Hồ Thế Hà

Những bài thơ hay đều có những đặc điểm thi pháp nói trên như: Hạt cúc Thăng Long Trên cánh đồng anh Mắt đêm Phác thảo Khát Ảo giác Dấu lặng Gãy khúc Vô thức Những mảnh vỡ không nhìn thấy... (Ngôi nhà cỏ) Đọc Kafka Màu Điều ấy có nghĩa gì Viết dưới tượng Exênin Đo Lăng tẩm Chân dung K Nghiệm Tại vì Tháp Mãi viên trà... (Màu). Hai tập thơ xuất bản cùng thời gian và có lẽ cũng sáng tác cùng thời gian nên thống nhất về phương thức biểu hiện và giọng điệu. Nghệ thuật hiện đại và dấu ấn hậu hiện đại được quan tâm tăng cường đã làm cho thơ Hoàng Vũ Thuật có những phẩm chất nghệ thuật mới nhưng vẫn dựa vào cảm xúc chân thành và triết luận thâm thúy thời hiện đại. Vì vậy tránh được sự làm dáng đáng trách như một số nhà thơ trẻ thường mắc phải. Ý thức cách tân thơ luôn thường trực trong từng cảm giác bé nhỏ của mình trước hiện thực cuộc sống đang từng giờ thay đổi đã thôi thúc Hoàng Vũ Thuật phải cách tân bút pháp phải tạo ra mối quan hệ hài hòa mới giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ: "Nghệ thuật vì thế không thể bằng lòng với những gì đã có rập khuôn trùng lặp cái xưa cũ. Nghệ thuật phải làm cuộc cách mạng tự thân để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng... Có điều sự thay đổi của thơ không phải sự thay đổi thiên về mặt chữ nghĩa nặng về hình thức. Cảm xúc con người không đứng yên luôn ở trong thế vận động. Cảm xúc không thăng hoa không nhập thần thơ sẽ trở thành thứ xác chữ. Con sông sáng tạo chẳng khác nào mặt hồ phẳng lặng buồn tênh"(3).

Những giả định "giá như mọi vật đồng nghĩa với cái không tồn tại - giá như cứ thế mà xa cứ thế mà quên" luôn xuất hiện trong thơ Hoàng Vũ Thuật như là những mệnh đề thao thức thơ về nhân tình thế thái. Chúng như những "bông hoa vỡ ngàn cánh máu - rỏ xuống lót ổ câu thơ - bào thai thiên thần". Hàn Mặc Tử cách đây hơn nửa thế kỷ cũng đã có những liên tưởng kỳ lạ như thế: "Sao bông phượng nở trong màu huyết - Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu" nhưng không táo bạo như Hoàng Vũ Thuật:

sao không được làm sao đổi ngôi

đốt cháy đêm đông đặc

sao không cuộn tròn hạt nước

chìm vào thâm u

sao không được làm đá sỏi

rơi theo nhau nát vụn cùng nhau

(Hoa vỡ)

Nỗi hẫng hụt để biết đời đang thường trực những nỗi buồn thánh thiện lại là những ý nghĩ cứu rỗi dính kết vào nhau để linh hồn được phiêu diêu trong cỏ cây hoa lá để chứng thực những mảnh đời bé mọn đang từ bi dưới cánh lá bồ đề: "nấp dưới cánh lá bồ đề màu phật - một cô bé một thiếu nữ một người mẹ - cô bé vắt tuổi thơ qua đồi sim - thiếu nữ mười sáu lần trăng đỏ - người mẹ đội nước lên chùa" (Mãi viên trà). Và cũng chỉ có cách đó nhà thơ mới chứng kiến những hiện thực đang diễn ra trước mắt mình:

mười lăm phút dư thừa đói nghèo khôn dại

chiếc gương phản chiếu hành tinh

trẻ và già gái và trai hiền và dữ

tóc nâu tóc vàng tóc xanh

cuối mùa thu rừng phong trút lá

trơ trọi mình họa sĩ giữa khung đêm

(Họa sĩ trong công viên kuntura)

Tất cả điều ấy có ý nghĩa đánh thức những tiềm lực những va chạm và rạn vỡ khiến con người không thể thờ ơ trước những biến động của thời hiện đại dù có lúc họ tỏ ra bất lực bởi "mọi thứ  - dài - và - ngắn - hơn tôi tưởng" mọi thứ đều vụt hiện vụt biến:

vì những tháp chuông nhà thờ

nối với một ngôi sao

vì chú lạc đà trong công viên bỏ quên sa mạc

vì đôi chân trần bạch dương quyến rũ

(Điều ấy có ý nghĩa gì)

Cho nên con người cũng phải nương vào vũ trụ để tồn tại để làm lại những tương hợp sinh thành dù điều đó không phải dễ: "làm lại thế giới đã khó - làm lại con người càng khó hơn" nhưng dù sao cũng phải làm lại từ đầu:

thế giới còn phải làm lại từ đầu

huống gì một con người

thế giới sắp xếp tưởng đã ngăn nắp qui củ

thế rồi xáo tung lên tất thảy


tôi cũng là thế giới

tự đảo lộn mình

đi đứng nói cười kiểu của mình

(Thế giới và tôi)

Tác giả thao thức về một cõi mê lộ có dấu chấm linh huyền để "cho tôi - thêm lần trời rộng - thêm lần mặt đất trinh bằng - cho tôi - từ không đến có - thêm lần hư thực - thực - hư" (Cõi ). Và một sự thánh thiện khác lại bắt đầu đánh thức những tiềm lực mới như "đàn kiến kia - với bài ca  diệu kỳ - bài ca cuộc hành trình vòng quanh trái đất" (Kiến). Và hệ quy chiếu hồi sinh cũng lại nảy mầm:

như suối nguồn thơm thảo

miên man

hết tháng cùng năm

hạt thánh

nảy nở muôn loài


như bừng bừng của lửa

làm nóng ran tế bào ngủ quên

rực rỡ trên đỉnh hoan lạc

uyển chuyển

vầng trăng cong

(Sự thánh thiện)

Trong thơ Hoàng Vũ Thuật câu chữ thường lưu vong trong thế giới siêu thực để hư vô hóa những hệ lụy và bất ổn của cuộc sống hiện tại. Và sau miền hư vô hoang tưởng ấy nhà thơ phải thốt lên"a men - a di đà - tôi giật lùi và chắp tay lên ngực" để sau đó chính mình lại được hiện hữu trong một vũ trụ tinh thần khác đầy tin yêu hoan lạc: "anh ngược con đường - để trở về con đường khác". Ở đó ngày đêm vần vũ theo nhau chống chọi với cô đơn và tật nguyền để hiện về gương mặt đồng trinh thanh khiết:

từng ngày từng ngày từng ngày

từng đêm từng đêm từng đêm

cây khô lại mướt sao tàn lại hiện

(Năm ngày đêm)

Và một khát khao mới lại bắt đầu:

tôi bay khỏi hành tinh đến hành tinh khác

em vẫn đợi nơi ngõ nhà trái đất

tôi đứng một mình cây cột đèn

đêm đêm hắt bóng loài người đi qua

tôi bay giữa muôn chiều giãn nở phập phồng

cõi phù sinh

ẩn hiện biến tan trong bóng tối

(Khát)

Bài thơ Lăng tẩm là một tương hợp một đúc kết mang tính khái quát vĩnh cửu về trầm luân kiếp người không phân biệt đẳng cấp hư vô hóa mọi thực thể:

nằm dưới kia

một ông vua một hoàng hậu một người hầu

một thanh gươm một tuấn mã một mê nón

một lệnh truyền một trống giục một lời van


nằm dưới kia

một hộp sọ một ống xương chân một đốt lóng tay

một trung thực một đớn hèn một điên loạn

một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà

một vận hạn một thức thời một nguyền rủa


nằm dưới kia

tất cả dưới kia

không tan chảy không đông đặc không biến hóa

không lắng xuống không đầy lên

hợp duềnh bể máu

(Lăng tẩm)

Thế giới màu trong thơ Hoàng Vũ Thuật hầu như bị khúc xạ và hóa thành những ảo giác những  nghi vấn: "tôi quay sang trái - đen và đen và đen - tôi quay sang phải - đen và đen và đen" (Màu). Cuối cùng khát vọng của con người vẫn là ước mơ vào những điều hằng cửu như "giá đỡ những trang sách mở ra số phận - cay đắng hạnh phúc" để mãi mãi niềm mong đợi thành huyền khải ban đầu bởi vì: "thế giới tồn tại nhờ cứu rỗi - thế giới tồn tại nhờ tử tế" (Tử tế). Vậy tại sao con người không hy vọng và  mong đợi vào "tính bổn thiện" của con người?

trên đồng cỏ mượt mà loài dế nỉ non bài hát

tuổi thơ

về một thế giới xanh bất tận

trên cát bỏng xương rồng khô khan

tua tủa gai nhọn

chọc thủng trời sâu

trên sóng bạc đầu truyền kiếp hải âu sải cánh

dệt miền huyền thủy

trên mây tím thổn thức ngàn năm trôi dạt

không chốn nương thân

trên dư vị hoàng hôn đánh thức chán chường

cây lá dưới nắng và gió

anh đợi

(Anh đợi)

Anh đợi như cây thánh giá thay đồng hồ điểm giờ cho tháng năm dích dắc trên miền đất hoan cảm. Sự phục sinh trở nên kỳ diệu làm sao qua khát khao tương ngộ giữa con người và vũ trụ: "hãy đến cùng tôi hoa ơi - hãy đến - tôi mở tung cánh cửa ngực mình - trái tim tôi - chiếc bình không vỡ - sẽ là nơi cắm xuống mối tình" (Hoa ơi hãy đến).  Ở đó những giọt đắng sẽ nâng bước ta đi: "ta đi hay đời đi - những bước chân khởi thủy - những bước chân hoang tàn - những bước chân hiện hữu" (Đắng). Dù có "phô bày trước ánh sáng - khỏa thân đêm tân hôn" thì cũng chỉ có đêm mới xóa đi tất cả. Và khi ấy bóng tối trở thành màu cứu rỗi cho những tâm hồn nguội lạnh cho những hồi sinh bắt đầu quên - nhớ từ những mảnh vỡ hư vô và hiện hữu. Cứ thế thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang trên hành trình về phía da diết bản thể người. Với thơ Hoàng Vũ Thuật mãi còn làm người nô lệ khuân vác chữ nghĩa đi trong hoàng hôn buồn bã bình minh vui không phải chỉ cho mình mà chính là cho thi ca.

Hai tập thơ một hành trình nghệ thuật chưa kết thúc Hoàng Vũ Thuật đã vắt kiệt tâm hồn mình để đi và đến để nhớ và quên để yêu và giận để  buồn và vui. Sau những câu thơ rướm máu là những giọt nghĩ đứt nối trong đêm không phải chỉ cho mình mà chính là cho những điều hằng cửu của cuộc sống và thi ca. Thế giới màu trong ngôi nhà cỏ của Hoàng Vũ Thuật lung linh mỗi sáng mà ở đó luôn có sự giao động giữa ánh sáng và bóng tối giữa ngày và đêm giữa hiện hữu và hư vô giữa hiện thực và siêu thực giữa thất vọng và hy vọng. Nhiều bài thơ hay nhiều câu thơ tài hoa nhiều cấu trúc nghệ thuật mới mẻ đã làm nên tính hiện đại trong thơ Hoàng Vũ Thuật nhưng rất tiếc trong bài viết ngắn này chúng tôi chưa thể thao tác để giải mã nghệ thuật cấu trúc của từng bài thơ được. Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang vẫy gọi sự đồng vọng của những độc giả đồng sáng tạo.

Vỹ Dạ tháng 8 năm 2010

H.T.H

 Vận mệnh thơ như vận mệnh con người
                                                                      HOÀNG VŨ THUẬT

Giai thoại về Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) giảng thiền trả lời và giải thích cho các môn đệ về Phật Pháp Tăng đã được ghi lại trong sách nhà Phật. Nhà thơ Bằng Việt mượn lời Phật viết:

Bảy trăm năm sau tôi hành hương lên Yên Tử

Đêm - nằm mơ thấy Phật

Nhớ lại chuyện xưa bèn hỏi: “Bạch thầy việc đời thế nào là đúng?”

Người ngậm ngùi: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”

Lại hỏi: “Thế nào là hạnh phúc trần ai?”

Người bật cười to: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”

Hỏi tiếp: “Vậy thế nào là thơ?”

Người lại phủi tay: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”

(Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm giảng thiền)

Tôi không bàn chuyện phận đời phận người trong bài thơ này dù ý tưởng ấy xuyên suốt bao trùm toàn bài. Tôi muốn nói đến phận thơ mà Bằng Việt gửi gắm: Chấp theo lối cũ là không đúng.

Số phận thơ Việt Nam chúng ta quá thăng trầm. Thơ luôn đi trên con đường đầy chông gai thử thách. Các thế hệ nhà thơ luôn tự đặt câu hỏi: viết như thế nào để sinh mệnh bài thơ đích thực là nó sống cho chính nó để đứa con tinh thần của nhà thơ ra đời sẽ không bị chết yểu?

Căn bệnh không rõ nguyên nhân đã thành sức mạnh bao trùm lên cả người đọc lẫn nhà biên tập lâu ngày như một món ăn quen thuộc nhàm chán.

Điều kỳ diệu là bảy trăm năm trước một vị vua anh minh thông tuệ bậc nhất triều Trần hai lần lãnh đạo quân và dân ta đánh thắng đế quốc Nguyên-Mông rời ngai vàng đi tu luôn ý thức mọi việc trên đời không thể chấp theo lối cũ. Nhân tố sáng tạo bao giờ cũng mang đến cho người ta một thế giới mới mẻ tươi sáng. Thơ ca nghệ thuật không thể nằm ngoài chân lý ấy.Thế nhưng sau bao năm đổi mới nền thơ Việt dường như vẫn quằn quã trong cái ngôi làng lặng yên. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho chiến tranh không thể đổ lỗi vì thời kì quá độ mà phải tự nhận ra chúng ta tự trói lấy chúng ta bảo thủ tự bằng lòng thoả mãn với những gì có được.

Các chuẩn tắc ngôn ngữ tiếng Việt và chuẩn tắc thơ ca bấy lâu đã mặc định trong tiềm thức người viết. Sự làm mới và thay đổi các chuẩn tắc ấy không thể thực hiện bằng sự bắt chước về mặt hình thức mà phải từ nhận thức. Lịch sử xã hội và lịch sử văn học nước ta trong một thời gian dài đã sinh ra một thứ khuôn mẫu cả cho xã hội cả cho thơ ca. Thơ tô son làm đẹp một cách khiên cưỡng với những ngôn từ rỗng sáo đã như thứ hàng quen dùng thứ áo quen mặc nghĩa là cứ theo lối cũ mà đi. Thay đổi nó ư? Đâu dễ dàng. Việc nhận thức lại như Bằng Việt đã khó huống gì bằng việc viết bài thơ ra trên giấy trắng mực đen.

Khlebnikov từng tuyên bố: một chữ in sai đôi khi là một nghệ sĩ tài danh. Do thiếu hiểu biết những kiệt tác nhân loại bị đập phá tay chân làm cho đời sau không thể phục chế những phần mất đi của tác phẩm. Các nhà điêu khắc thời nay đã chăm chú điều ấy sản sinh ra những tác phẩm không hoàn chỉnh từ đó một thứ đề dụ nghệ thuật ra đời.

Làm thế nào buông lỏng các chuẩn tắc thơ nghĩa là tự giải phóng mình thoát khỏi những ràng buộc vô hình như một sức mạnh ngự trị bấy lâu. Biên độ để tách bài thơ thoát khỏi chính nó là vô cùng. Trên vai ngôn ngữ nhà thơ có thể nhân danh nhiều khuynh hướng khác nhau nhân danh một khác biệt một trật tự mới cho thơ ca.

Có thể có người mệt mỏi khi đọc những câu thơ sau đây của Trần Tuấn một nhà thơ trẻ sinh năm 1967 trong Ma thuật ngón:[1]

kiếp trước của lửa hát về kiếp trước của tàn tro

lửa của tàn tro hát về tàn tro của lửa

.

phải mất đi bao nhiêu ngón

phải thêm bao nhiêu ngón

mới đủ một bàn tay

Nhưng tôi yêu nó nhìn thấy phía sau ngôn từ kia một thông điệp phải tìm cách giải mã cho bằng được. Quả thực cái giá tàn tro lửa phải đổi phải trả trong cuộc mưu sinh này quá đau thương. Bao nhiêu ngón tay phải mất đi bao nhiêu ngón tay phải thêm vào mới đủ một bàn tay. Trần Tuấn không vin vào sự thật không vin vào hiện thực một cách thô thiển anh thả lỏng cảm xúc của mình như cái bóng siêu hình đi theo trường liên tưởng nhiều chiều. Người tiếp nhận thơ anh được tự do lựa chọn tuỳ thuộc tâm trạng của mình. Cái ranh giới giữa thơ và hiện thực đời sống đã biến mất. Bài thơ trở thành nhật ký của lữ trình cảm xúc chứ không phải là nhật ký đời sống mà bấy lâu thơ ca miêu tả thường làm. Không phải lúc nào nhà thơ cũng nhân danh hiện thực một cách cứng nhắc. Jakobson rất hóm hỉnh khi khẳng định: “thơ ca cũng là một sự dối trá và nếu nhà thơ không sẵn sàng nói dối – nói dối từ cái đầu tiên mà không ngại ngùng – thì anh ta chẳng đáng gì cả”. [2]

Chớ coi nhẹ những hiện tượng không bình thường trong thơ ca. Sự tương phản dị biệt phản biện nhiều khi làm mầm mống cho cái mới hình thành. Nhận thức thuộc quyền của mỗi người nhưng nhận thức tới lúc nào đó sẽ gặp nhau. Một bức tranh một bản nhạc khi ra đời thông thường phải lãnh đủ mọi thứ nghiệt ngã. Nhưng giá trị đích thực của nó bao giờ cũng là nơi gặp gỡ của số đông.

Làm sao mỗi nhà thơ trở thành một vương quốc trong việc sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong tay nhà thơ trở nên ma thuật có thể dẫn dụ độc giả đến những bến bờ lạ của cảm xúc tạo ra một thế giới tinh thần mới mẻ. Muốn vậy tôn trọng tự do sáng tạo chưa đủ mà phải tìm đất cho sản phẩm của họ được công bố. Vì sao trong nước ta hình thành các nhóm thơ Mở miệng Ngựa Trời Thơ xuất bản bằng giấy vụn Thơ photocopy?Tại vì sản phẩm của họ không được các tờ báo chính thống dùng cho rằng thơ chữ nghĩa rối rắm thơ bí hiểm thơ ngoa ngôn. Tôi đã đọc ít nhiều của họ bên cạnh cái được cũng có cái chưa được. Nhưng tôi khẳng định rằng đó là một việc làm nghiêm túc khi không có điều kiện in ấn xuất bản. Và tên tuổi các nhà thơ ấy vẫn được neo vào độc giả trong và ngoài nước như các nhà thơ khác.

Vận mệnh thơ như vận mệnh con người. Từ chối tự do sáng tạo như từ chối một con người. Còn gì đau đớn hơn khi tác phẩm nghệ thuật của họ bị chối bỏ? Tất nhiên thơ ca vốn không dung nạp sản phẩm trá hình nó không phải là nó.

Ít nhất đã ba lần tôi gọi điện trực tiếp cho Tổng biên tập báoVăn Nghệ cùng trao đổi làm sao nâng cao hơn về chất lượng thơ trên báo. Bạn đọc trong và ngoài nước đang đọc báoVăn Nghệ với niềm tin xem đấy là gương mặt văn học nước nhà. Thơ trên báo nhiều số chưa làm được điều đó khi người biên tập chọn những sản phẩm không xứng đáng những sản phẩm dùng làm minh hoạ gượng ép. Mọi hình thức thơ phải được tôn trọng mọi đề tài phải được nâng niu nhưng nhất quyết phải là thơ hay. Sự tiếp nhận của bạn đọc cho dù chưa quen thậm chí không thích nhưng lâu dần sẽ tìm được đồng cảm nếu bài thơ có giá trị. Chúng ta đều biết mọi cuộc cách tân thơ ca không dễ dàng gì. Nếu các báo chí thời Thơ Mới đều tẩy chay thì phong trào Thơ Mới thật sự khó ra đời.

Ngôn ngữ thơ vốn đa dạng muôn hình vạn trạng. Nhà thơ có thể làm tăng thêm hiệu lực ngữ nghĩa tăng thêm sự biệt lệ làm phong phú hình thức câu thơ. Vần luật xưa nay như một công cụ bất biến của bài thơ. Nhưng vần luật cũng tồn tại như một hệ thống nằm ngoài ngôn ngữ ở những bài thơ không theo thể thức truyền thống. Các nhà biên tập phần thì e ngại độc giả chưa hợp khẩu vị phần thì bị trăm thứ khác chi phối. Độc giả bây giờ khác trước rất nhiều bởi trình độ và khả năng thưởng thức ngày càng cao khi mà các kênh truyền thông như cơn lốc tràn vào đời sống.

Sự sinh lợi của thơ ca luôn ở từ hai phía: người làm ra nó và người thưởng thức. Để một nền thơ phát triển đất đai cho nó phải được mở rộng dung nạp nhiều thể loại xu hướng và khuynh hướng. Chúng ta không thể xem nhẹ hoặc khước từ mọi sự thể nghiệm. Công việc nghiên cứu thơ ca phải như công việc nghiên cứu khoa học vậy phải chấp nhận cách thức và thủ pháp nghệ thuật. Thơ ca trong một nghĩa nào đó đồng nhất với tôn giáo thế giới thần linh của con người. Thơ ca có sức mạnh trực tiếp đồng thời có sức mạnh làm mê dụ tinh thần con người nó là tiếng đàn vô âm không phải lúc nào cũng dễ dàng nghe thấy.

Thơ Việt Nam ngày nay đã khác trước rất nhiều không phải lúc nào cũng đối ẩm có khi va đập như sóng lại có khi như đá tảng trơ ra cùng mưa gió bão bùng.

More...

Giới thiệu nhà thơ Hoàng Vũ Thuật hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Giới thiệu nhà thơ Hoàng Vũ Thuật hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam 

 Hoàng Vũ Thuật sinh năm 1945 tại làng Thạch Xá Hạ xã Hồng Thủy huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình; Hội viên Hội Nhà văn VN.

Tác phẩm:

Những bông hoa trên cát

Thơ viết từ mùa hạ

Gửi những ngọn sóng

Giàn bí đỏ (thơ thiếu nhi)

Thế giới bàn tay trái

Cỏ mùa thu

Đám mây lơ lửng (đã tái bản)

Tháp nghiêng

Giải thưởng:

- Hai giải thưởng thơ của Báo Văn nghệ 1981 và 1985.

- Giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2000.

- Hai lần đoạt giải A Giải thưởng Văn học nghệ thuật Lưu Trọng Lư (1991-1995) và (1996-2000).

- Giải thưởng thơ của Tổ chức Cứu trợ Thụy Điển và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cùng nhiều giải thưởng khác.

TẠM BIỆT



khép lại bảy giờ

chào nhé bông hoa của bốn mùa

sớm sớm đợi tôi

nở

những bé trai kháu khỉnh

ngồi trên xe đẩy giơ bàn tay nhỏ xíu

ngón ngón sương mai

hôm kia chú bông lau

líu lo vào lúc này

giờ còn nghe ngòn ngọt

lưỡi

tạm biệt chim non và những đứa bé

con đường hẹp xum xuê tán nhản tán đào

ngã tư ngập ngừng

 

bạn bè tôi vơi đi gần hết

viết

làm ăn

bới đào

lừa đảo

cầu may đúng ngày chín tháng chín năm chín

giữa các phương trời tức ngực

 

đã có nhiều cuộc

cãi lộn mắng chửi khước từ

vô duyên

về cuộc đời này vốn đã

có nhiều tiếng khóc không thành tiếng

rượt đuổi nhau trận lốc thân xác

nhoáng

nhoàng

sau lưng

tưng tửng đùi non

.                   
TẠI VÌ


tại vì con đường dài hơn con đường thường khi em vẫn đến

gió lạnh thổi tắt cơn sốt

trên chót đỉnh bà nà treo ta lơ lửng cùng đám sương

lơ lửng tấy lên chốn kiệt tận


tại vì sông gianh một thời hằn sâu nhát dao khắc nghiệt

cuộc tình cổ xưa hai trăm năm lênh đênh

và tình ta lênh đênh con thuyền ấy


tại vì biển nhật lệ mỗi ngày mỗi hẹp

cát trắng bảo ninh mỗi ngày mỗi đen

người mỗi ngày mỗi lạ

nên mỗi ngày ta lại thấy buồn thêm


29 / 11 / 2009

 

 

TRÙNG PHÙNG

anh quay lại khi anh không còn nữa

bước vào nhà và sẽ

gọi tên em

ngồi chiếc ghế em vẫn ngồi

lưu ảnh

 

dù môi anh chẳng thể cất lời

dù mắt anh đong đầy cát bụi

dù tai anh ù ù gió nổi

dù trái tim xào xạc lá

rừng khô



anh quay lại

với mưa nguồn tất bật

với nắng chiều từng mảng đổ bên thềm

như bão từng cơn mùa tiếp mùa rung chuyển

như đám cháy

tro tàn

hơi ấm



em chải nỗi buồn óng mượt

phô bày trong suốt gương trời

không bóng hình không dấu chân anh

cuộc trùng phùng huyền bí

.
1 / 12 / 2009

 

ĐÁM MÂY LƠ LỬNG

 

Đám mây lơ lửng trước hiên

Đám mây đứng yên từ sáng sớm

Tôi chống gậy trông lên

Dưới ánh nắng ban mai mở cửa

.

Đám mây như hơi thở

Của tôi

Vừa phà ra sau bao ngày vất vả

.

Cái khổ nhất của người ta

Phải đi bằng ba chân

Một chân tòng teng gậy gỗ

Dẫn qua lối hẹp sân nhà

.

Đám mây không chân không cánh

Vẫn ngự trên xanh từ sáng tới giờ

Còn tôi như đứa trẻ lại như người già

Bật khóc khi cơn đau hạt cơm khi nhạt miêng

.

Những giọt máu trong tim

Tưởng chừng không cháy nữa

Soi con đường tôi qua

.

Tôi bẻ đôi chiếc gậy

Đứng thẳng bằng chân mình

Lòng nhập vào mây trắng

27-6-1999

(Bài thơ rút trong tập  thơ Đám mây lơ lửng)

.

.

THẾ GIỚI TƯƠNG HỢP TRONG THƠ
HOÀNG VŨ THUẬT

(PHẦN I)

Hồ Thế Hà

Hành trình thơ Hoàng Vũ Thuật trải dài gần 40 năm với những thăng trầm vinh quang và hệ lụy. Và ở từng chặng hành trình Hoàng Vũ Thuật đã lấy thơ ca làm cứu cánh làm chứng chỉ văn chương và tâm thức sáng tạo của mình với quan niệm nghệ thuật sáng rõ như trong lời tự bạch anh viết: "Với tôi hầu như tất cả những sản phẩm sáng tạo đều xuất phát từ một chuyện buồn một niềm cô đơn vật vã. Câu thơ vui cũng hình thành từ nước mắt. Cô đơn là một đặc tính của con người. Trong ý niệm tương đối cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp. Tôi coi trọng cái riêng con người chất cá thể con người nên có lúc bài thơ bật ra trong trạng thái vô thức. Thơ chính là mảnh tâm trạng cõi riêng thân phận một cảnh huống đơn độc của con người"(1). Đến với thơ Hoàng Vũ Thuật tôi chọn chìa khóa nội tâm này để tìm ra cơ chế tâm lý sáng tạo trong hai tập thơ "song sinh" của ông được xuất bản năm 2010: Ngôi nhà cỏ (Nxb Hội Nhà văn) và Màu (Nxb Lao động).

Điều nhận xét đầu tiên và tổng quan của tôi về hai tập thơ này là ở chất đời chất triết lý nghiệm sinh được tác giả nghiền ngẫm từ kinh nghiệm buồn của chính mình và thế giới chung quanh trên chất liệu ngôn từ được tổ chức và tư duy theo "một hệ thi pháp" mang tính sáng tạo riêng độc đáo mới mẻ hơn so với các tập thơ trước. Sự tiết kiệm ngôn từ và ưu tiên thể hiện chất thơ trên trục lựa chọn mà nhà thi học R. Jakobson quan tâm chính là ý thức sáng tạo mà Hoàng Vũ Thuật đã theo đuổi và thành tựu. Chính điều đó đã làm cho chất thơ và sự tạo sinh nghĩa trong thơ Hoàng Vũ Thuật trở nên đa dạng biến ảo lấp lánh lời giải đáp về những điều muôn thuở của cuộc sống và hiện sinh con người. Chỉ riêng phẩm chất ấy thôi cũng đủ để thơ ông hấp dẫn độc giả bằng những tầm đón đợi và đón nhận khác nhau. Với ý nghĩa đó hai tập thơ đã trở thành thông điệp da diết về cõi người kiếp đời vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận.

Bài thơ Chân dung có thể xem là cái nhìn đồng cách hóa để Hoàng Vũ Thuật nói lên quan niệm của mình về sứ mệnh của thi ca:

hiện ra trên trang giấy những gương mặt

ông đã vẽ trang trọng và

mực thước

chằng chịt đường gân thớ thịt căng phồng

lửa đèn tắt sáng nụ cười trên môi

thời sủng ái

...

trên trang giấy gương mặt ông vẽ

máu thấm bao cánh hoa

không còn hương sắc

những cánh hoa

bốc cháy

nơi miền đất chết

(Chân dung)

Ở đó nhà thơ tự vực dậy những hiện hữu và hư vô những tiềm thức vô thức và ý thức để nhận biết bóng tối và ánh sáng ngày và đêm bão tố và bình yên dịu dàng và cuồng nộ qua đó thấy hết những đối lập và sinh thành của vạn vật cũng là một thực tế có tính bản thể triết học mà con người phải đối diện để tồn tại và hành động như một chủ thể hiện sinh tự nghiệm: "mấy vạn cánh chim đến được phương ấy - khoảng cách ngày và đêm - đủ nhận biết vũ trụ... mấy vạn bước chân đến được miền ấy - khoảng cách tối và sáng - đủ nhận biết thế giới... mấy vạn lời nguyền đến được chốn ấy - khoảng cách bão tố và bình yên - đủ nhận biết nhân gian... mấy vạn hơi thở đến được cõi ấy - khoảng cách yêu và giận - đủ nhận biết mình" (Nghiệm). Qua thơ Hoàng Vũ Thuật luôn nghĩ và đặt ra những câu hỏi trùng điệp về những điều có tính hằng cửu và tính khoảnh khắc của cuộc sống và con người như cách để tự nhận thức và kêu gọi mọi người cùng nhận thức:

một cái gì đó hiện hữu sẽ tốt lên rất nhiều

cho mỗi thời khắc sống hướng về phía trước

anh đã bước không mệt mỏi

bằng đôi chân nối dài

mảnh ghép quả cảm

Cứ thế nhà thơ làm người hành trình đơn độc trong đêm tối có khi vấp ngã nhưng liền đứng dậy và mong thấy một cái gì đó hiện hữu trước mặt mình để được tin yêu và có hình bóng để làm điểm tựa tinh thần "dẫm lên cơn đau đơn độc - đạp đổ khoảnh khắc bóng tối nhìn ra vĩnh hằng và - anh tìm thấy - một cái gì đó" (Một cái gì đó). Phải tin vào những quy luật tương đối của tự nhiên và cuộc sống xã hội như thế thì mới mong nhận thức và tìm  lối thoát trong tư tưởng và cảm tính để đối diện với sự thật:

có lẽ nghìn năm đã trôi qua

trong giấc ngủ không là giấc ngủ

trong tỉnh thức không là tỉnh thức

trong cái chết không là cái chết

(Giao cảm)

Hoặc:

hết con đường gặp con đường lại con đường

thăm thẳm

dấu chân mờ tiếp dấu chân chồng dấu chân

cuộc chạy trốn phiêu pha nghiệt ngã


sẽ rụng rơi như trái chín qua thời

sẽ vụn nát những điều chưa tới

thất vọng còn thất vọng nữa

(Thất vọng còn thất vọng nữa)

Trong hai tập thơ ta bắt gặp một thực tế có tính dụng điển của Hoàng Vũ Thuật. Đó là hình tượng và tư tưởng lạc lối hay mất tích cũng thế. Đó phải chăng là sự vô nghĩa lý và bất ổn của cuộc sống trước những rào cản của hiện thực mà con người quyền lực cố tình bày ra để hạn chế con người nhỏ bé mà F. Kafka đã nhìn thấy từ lâu trong Lâu đài Vụ án. Đó có thể xem là tâm lý hậu hiện đại kiểu "như người điên đi trong dầm dã - hai mươi năm sau - không biết nơi nào để dừng" (Mưa trên mười ngón tay dài):

- anh ngược con đường

để trở về con đường khác

(Ngược)

- đi trọn một năm vẫn không

ra khỏi vùng ám tượng

lưỡi hái thần chết

đốn ngã linh hồn

...

đi trọn một đời vẫn không

ra khỏi cuộc tranh giật

nghìn cánh tay giơ cao

biểu quyết

không biết nữa cái gì xảy ra

ý tưởng chắp nối lạc vần

rung trên sợi dây mặc cảm

lửa

(Ý nghĩ vụt hiện)

Bài thơ K đặt vấn đề về hiện tồn và hư vô khi chính con người không thể trả lời cho những câu hỏi day dứt do chính mình đặt ra: "liệu chúng mình còn sống được tới hôm sau - bốn bề núi và núi - bốn bề đá và đá - bốn bề suối và suối - sương âm u run rẩy bốn bề - trái đất chật chội thế này ư". Và một nỗi cô đơn đồng hiện hữu:

biết nói thế nào với k

ba vạn chín nghìn bậc ta chưa hết một nghìn

thôi ngủ đi ngày mai biết đâu rồi khác

ta gõ tiếng chuông cho số kiếp lạc loài

mây trắng chở về miền thiên hư


ngủ đi ngủ đi k

đàn bướm ngoài kia đã ngủ

ngọn nến vàng rũ xuống từ lâu

mặt trời cuộn tròn đêm

trắng

Hình như không chỉ có con người - chủ thể có ý thức mới cảm nhận được nỗi cô đơn và lạc lõng ấy. Hoàng Vũ Thuật đã thấy được cả sự mất tích và lạc loài của các sự vật hiện tượng trong không gian. Bài chó con là một trường hợp đáng thương như thế:

đứng trước cổng nhà

ngơ ngác

người người bận rộn vô ra

một con chó con tội nghiệp

quên mất đường về

lang thang

(Chó con)

Với bài thơ Đọc Kafka theo tôi là một thực tế cho thấy ở một ý nghĩa có tính triết lý con người là một thế giới xa lạ với thế giới thực tồn. Khi ấy muốn cô đơn cũng không được phép cô đơn muốn trả lời cho những nghi vấn cũng không thể trả lời cho những nghi vấn chỉ còn biết dùng phép thắng lợi tinh thần   ước mơ vào một thế giới trời ban cho trong tưởng tượng:

trốn chạy thế giới nghiệt ngã

câm lặng nấm mồ chật hẹp

dưới vực thẳm tình yêu

em trao hết anh tất cả thuần khiết

mà thế gian gạt bỏ


chết miền phục sinh

phôi thai từ thế giới khác

em gọi thế - giới - trời - ban - cho

không có hạnh phúc giống nhau

không có cay đắng giống nhau

gương mặt anh và em hai nửa trái đất hợp lại


đơn lẻ cơn đau đến mức không hiểu nổi

ai sinh ra ta và ta sinh ra ai

chỉ tiếng khóc vỡ òa tồn tại

đứa bé

rời bụng mẹ bước ra ngoài


như chiếc lá khan buồn mất ngủ

trên nhành cây cạn kiệt thân hình

ta ngù ngờ u mê ương dại

thế giới là ai

và ta nữa là ai

(Đọc Kafka)

Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng về mục đích và khát vọng sáng tạo thi ca Hoàng Vũ Thuật quan niệm dứt khoát: "viết để giải tỏa ẩn ức luôn đeo đẳng mình viết cho mình. Tôi quan niệm rằng thơ là dấu ấn cá nhân. Dấu ấn từng cá nhân làm nên dấu ấn xã hội. Một xã hội tốt đẹp hay không hãy nhìn vào từng cá thể ấy. Tôi cự tuyệt với những thứ thơ chung chung những thứ thơ lấy đề tài chủ đề làm thước đo cho nghệ thuật. Vì thế các nhà thơ đích thực họ luôn cô đơn trước đám đông thậm chí bị khích báng lên án hoặc chỉ trích"(2). Như vậy là đã rõ. Trong hai thi phẩm Ngôi nhà cỏ Màu Hoàng Vũ Thuật đã tạo được tâm thức sáng tạo khớp với quan niệm và  tư tưởng trên. Và may thay những khát vọng thi ca ấy không mất hút giữa rổn rang câu chữ mà chúng biến thành thế giới tương hợp mới mẻ trong thơ. Nhiều bài thơ hay được cấu trúc theo trục lựa chọn với kiến trúc hiện đại hình thức tự do tổ chức câu thơ theo dòng tâm trạng có khi vô thức trực giác và vắt dòng theo nhịp cảm xúc thế sự triết lý. Kết cấu theo nhịp thơ lỏng và chặt đan xen kiệm lời làm cho thế giới hình tượng lung linh lạ hóa nhưng lại có sức năng động bùng nổ bên trong bên sau bên xa của bề mặt câu chữ. Tôi gọi đó là thơ tạo nghĩa hay thơ ẩn dụ thơ tượng trưng cũng thế. 


(1) Nhà văn Việt Nam hiện đại Nxb Hội nhà văn tr. 289.

More...

PHỎNG VẤN NGUYỄN TUÂN

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 


HỎI : [...]

ĐÁP : Có lần tôi đã nói với chị là tôi không có tuổi thô ấu. Trong xã hội cũ tôi chưa thấy được sống thời tuổi trẻ thì đã thành ông cụ non. Tôi viết Vang bóng một thời lúc 29 tuổi mà Vang bóng đúng là một ông già hoài cổ. Có lẽ lúc nhỏ tôi chịu ảnh hướng sự bắt đắc chí của cha tôi. Lớn lên đi học tôi lại bất mãn với bọn thầy giáo Tây dám khinh miệt mình.Tôi chơi bời cũng là một cách tự phá phách để lẩn trốn mình chứ có thích thú gì đâu. Sau mỗi cuộc chơi bời phá phách về mình lại tự chán mình tự xỉ vả mình nhưng sau đó lại lao vào con đường cũ. Vào kháng chiến đi bộ đội tôi như trẻ lại tôi tìm thấy mình nên tôi thật lạc quan. [...]

HỎI : Ảnh hưởng của gia đình đối với bác ? Bác đã viết nhiều kỉ niệm về cụ thân sinh. Xin bác kể cho nghe đôi mẫu chuyện về ảnh hưởng của cụ đối với cuộc đời và tác phẩm của bác ?

ĐÁP : Phải nói rằng họ nhà tôi có cái gien giang hồ. Chị có tin vào cái gien di truyền không ? Nó là khoa học đấy ! Không hiểu cụ tổ tôi thế nào chứ từ ông nội tôi bố tôi cho đến tôi thì cái gien giang hồ ấy như ngày càng mạnh lên. Ông tôi và bố tôi là những người thích chu du đây đó ra Bắc vào Nam. Phải nói rằng tôi mê bố tôi chứ không phải chỉ là chịu ảnh hưởng mà thôi đâu.Tất nhiên là tôi tiêm nhiễm cái tốt lẫn cái xấu của ông cụ. Bà cụ thường lo sợ thay cho tôi và nhiều lúc phản ứng ra mặt. Bố tôi nghiện thuốc phiện rồi vợ bé con thêm chơi bời phóng túng việc nhà phó thác một tay mẹ tôi. Bố tôi làm việc viên chức nhà nước nhưng kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào bà cụ. Có lần tôi hỏi xin bà cụ tiền cụ hất hàm chỉ lên nhà trên nơi ông cụ nằm hút và bảo : - Anh lên mà xin "nhà nước" ấy. Bố tôi có các bà vợ bé ở Quảng Nam - ở Huế ông cụ thường vào ra thăm các bà và mỗi lúc đi cứ kéo tôi đi theo. Từ hồi trẻ tôi đã thích đi lang thang theo ông cụ như vậy. Bà cụ cản nhiều lần nhưng không được đành bỏ mặc. Nhưng có một nguyên tắc mà cụ kiên quyết không từ bỏ làm nhiều lúc tôi thật đến khổ : Bố tôi đi đâu thì đi nhưng ngày Tết bà cụ buộc tôi nhất thiết phải có mặt ở nhà. Nhiều lúc bố tôi mải rong chơi sắp đến Tết cũng không nghĩ đến chuyện đưa tôi về thế là bà cụ quyết lặn lội vào tận nơi bắt tôi đưa về nhà ăn Tết cho bằng được. Những lúc tôi được lang thang theo ông cụ như vậy cụ kể cho tôi đến lắm thứ chuyện. Những truyện trong Vang bóng một thời là dư âm của cuộc đời ông cụ và những chuyện kể của cụ đấy.

HỎI : Như vậy hoá ra ông cụ lại quá nuông chiều dễ dãi với bác còn bà cụ thì nghiêm khắc hơn có phải không ?

ĐÁP : Nói thế này thì đúng hơn : tôi và bố tôi đã làm khổ bà cụ quá lắm. Về sự tần tảo tháo vát đảm đang của người phụ nữ Việt Nam thì bà cụ tôi thuộc loại số một. Tất nhiên là bà cụ không thể kham nổi với các thói tật của bố tôi trước kia rồi đến tôi sau này. Và ngược lại đã là kẻ giang hồ phóng túng tôi như có mệnh xung khắc với lề tói nề nếp của bà cụ. Bà cụ càng chăm lo càng cố sức trói giữ chân tôi lại thì tôi càng cố tình chuồi ra khỏi vòng tay níu giữ đó.

HỎI : Xin bác kể một vài kỉ niệm về thời thơ ấu kỉ niệm học đường ?

ĐÁP : Tôi không có kỉ niệm đẹp về thời thơ ấu và tuổi thanh xuân. Tôi chưa có tuổi trẻ đã trở thành ông cụ non rồi. Tôi viết Vang bống một thờiThiếu quê hương từ những năm 29 - 30 tuổi như vậy làm gì có tuổi trẻ.

Hồi đi học tôi rất lười và nghịch chuyên ngồi ở cuối lớp để dễ bề trốn học và bày trò nghịch. Học với cô giáo đầm bày đủ trò để phá cô giáo. Học đến giữa năm đệ tứ ở Collềg Carreau tham gia bãi khoá để chống lại các thầy cô giáo đầm xúc phạm đén tinh thần dân tộc của học sinh bị đuổi học về Thanh Hoá mở hàng sách (...)

HỎI : Hồi đó bác định sang Xiêm để làm gì ?

ĐÁP : Hồi ấy những thanh niên trí thức có lòng tự trọng ai cũng muốn tìm đường đi Tàu đi Nhật ... đi bất cứ đâu miễn là không ở trong cái nước An Nam nô lệ mà bất cứ lúc nào ở đâu mình cũng có thể bị thằng Tây nó xà - lù mẹc và đá đít. Cái tính mình thích phiêu lưu lại gặp bạn rủ rê thế là đi thôi. Mình sang Xiêm là tính đưòng đi tiếp nữa nhưng vừa chân ướt chân ráo đến Băng Cốc là bị tóm ngay. Cũng chẳng phải vì lí do chính trị gì ráo rọi mà vì tội trốn ra nước ngoài không có hộ chiếu. Vậy mà nó cũng giam giữ mình một năm trời. Sau khi nó thả về ở Cầu Mới nó còn bắt quản thúc tại địa phương tháng tháng phải ra trình diện với Sở cẩm. (...)

(Tác phẩm mới số 6 tháng 8 - 1990)
 Hoàng Phong Tuấn

More...

Hỏi chuyện tác giả bài thơ Dòng sông mặc áo

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

DÒNG SÔNG MẶC ÁO

Dòng sông mới điệu làm sao
Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha
Trưa về trời rộng bao la
Áo xanh sông mặc như là mới may  
Chiều chiều thơ thẩn áng mây
Cài lên màu áo hây hây ráng vàng
Đêm thêu trước ngực vầng trăng
Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên
Khuya rồi sông mặc áo đen
Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ.

Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ
Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa?
Ngước lên bỗng gặp la đà
Ngàn hoa bưởi trắng nở nhoà áo ai…
 

Hà Tĩnh 1972

Văn tuổi thơ: Xin chào nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo bài thơ Dòng sông mặc áo có phải viết về một dòng sông trên quê hương của nhà thơ?

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Quê tôi ở Nghệ An cũng có dòng sông Bùng chảy qua làng rất đẹp. Nhưng tôi làm bài thơ này khi đã xa làng tôi. Hồi đó tôi có dịp đi qua dòng sông Ngàn Sâu và Ngàn Phố đó là hai dòng sông nhỏ chảy qua vùng rừng núi tuyệt đẹp của Hà Tĩnh. Cây cối hai bên bờ soi bóng xuống dòng sông đẹp như tranh vẽ. Tôi đã nhiều lần đi dọc dòng sông vào buổi sáng buổi chiều và buổi tối. Chú ý quan sát thì thấy nước sông như luôn thay màu theo ánh sáng mặt trời mặt trăng và cây cối bên sông. Tôi nghĩ dòng sông cũng như con người và liên tưởng đến những chiếc áo mà con người luôn thay đổi. Thế là tứ thơ “dòng sông mặc áo” hiện lên trong tư duy của tôi và tôi viết những liên tưởng đó thành thơ.

Văn tuổi thơ: Cách nói “dòng sông mặc áo” thật hay. Nhà thơ có thể nói thêm đôi điều về ý nghĩa cái hay của  hình ảnh đẹp này?

NTT: Bài thơ được hình thành theo một tuần tự thời gian: sáng trưa chiều tối khuya và rạng sáng – vòng quay của một ngày đêm. Lấy ánh sáng của các thời khắc để pha màu cho những “chiếc áo” của sông tạo nên những hình ảnh bất ngờ cho bài thơ. Ví dụ buổi “nắng lên” thì nắng đang hồng ánh bình minh nên dòng sông mới mặc “áo lụa đào” hay ban đêm có trăng sao thì áo màu “nhung tím”… Còn khi trời sắp sáng khi ta vừa tỉnh giấc mơ màng nhận ra hương thơm của hoa phảng phất đâu đó ta bỗng bất ngờ thấy sông mặc áo hoa mà lại là “hoa bưởi trắng”. Đó là hoa bưởi bên bờ sông vừa nở đang soi bóng xuống dòng sông. Nhưng có một bất ngờ nữa ở cuối bài thơ là sự xuất hiện con người mặc áo hoa đi trong rừng bưởi. Áo của sông và áo của người như hòa vào nhau tạo nên cảm xúc yên bình của sự hòa nhập thiên nhiên với con người: “Ngước lên bỗng gặp la đà/ Ngàn hoa bưởi trắng nở nhoà áo ai…”. Bài thờ vừa khép lại thì nó lại mở ra những liên tưởng mới về thiên nhiên và con người. Đó cũng là vẻ đẹp mà bài thơ mang tới.

(Tôi cũng xin lưu ý rằng bài thơ trong sách giáo khoa bị in sai mấy chữ: “Đêm thêu” bị in thành “Rèm thêu” thì thật vô nghĩa “hoa bưởi trắng” in thành “hoa bưởi đã”. Mong những người soạn sách sửa lại mấy từ in nhầm ở các năm sau).

Văn tuổi thơ: Bài thơ với vần điệu lục bát  khiến các bạn nhỏ rất dễ thuộc dễ nhớ…Vì sao nhà thơ chọn viết về vẻ đẹp của dòng sông quê bằng thể thơ lục bát? Lục bát có phải là thể thơ mà nhà thơ yêu thích…?

NTT: Tôi là nhà thơ chú ý nhiều đến thơ lục bát cũng đã chủ ý “làm mới” thể lục bát bằng nhiều cách như ngắt nhịp theo bậc thang đảo nhịp hai thành nhịp ba hoặc gieo những từ lơi nghĩa ở cuối câu vân vân… Nhưng điều tôi quan tam nhất đến thể thơ lục bát là cảm xúc mới. “Dòng sông mặc áo” là một tứ thơ mới và độc đáo lại được sử dụng thể thơ lục bát thì tôi cảm thấy bài thơ trôi chảy như dòng chảy tự nhiên của sông vậy. Thú thực là tôi cũng không nhớ là tại sao tôi lại chọn thể lục bát cho bài thơ này nhưng chắc chắn rằng cảm xúc của tôi lúc đó đã bảo tôi phải viết như thế mà thôi. Làm thơ nhiều khi nó tự nhiên vậy đó như là ý trời vậy.

Văn tuổi thơ: Xin trân trọng cảm ơn Nhà thơ!

More...

Nhà thơ Vương Trọng và những vần thơ về mẹ

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Nhà thơ Vương Trọng và những vần thơ về mẹ 

Phan Quế 

Nhà thơ Vương Trọng - người con của Đô Lương xứ Nghệ. Ông có nhiều bài thơ cảm động viết về những người phụ nữ ruột thịt và gần gụi trong gia đình. Trong những bài thơ đó có bài "Khóc giữa chiêm bao" nhà thơ viết về người mẹ kính yêu của mình đã khuất núi từ nhiều năm nay. Ông kể với tôi về xuất xứ của bài thơ này:  

Đó là một đêm ở Hà Nội nhà thơ nằm mơ thấy mẹ mình. Đây là giấc mơ thường có với ông khi nghĩ về mẹ. Lạ lùng là trong giấc mơ nào cũng vậy bao giờ ông cũng mơ về những tháng năm khốn khó của gia đình. Những năm mà cuộc sống của anh em ông đè trên đôi vai gánh gồng của mẹ. Ông thường khóc trong giấc mơ gặp mẹ. 
Giấc mơ là kí ức hiện về sau nỗi nhớ. Nó là vầng huyền ảo kỳ diệu của cảm xúc. Đấy là những ký ức cốt nhục khó có thể quên nhưng lại không thể hiện hữu. Mơ gặp mẹ khi tỉnh dậy biết là mẹ đã đi xa lâu rồi mà tâm hồn con vẫn bổi hổi bao nỗi nhớ thương. Lúc ấy người làm thơ đã khóc. Đúng ra là đứa con trai đã khóc khi gặp lại mẹ mình. Những giọt nước mắt hiếu thảo trong một đêm Hà Nội vào năm 1988 cách đây hơn hai mươi năm ấy đã thao thức với Vương Trọng để cùng ông hiện lên những dòng chữ cảm động này: 

Đã có lần con khóc giữa chiêm bao 
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó 
Đồng sau lụt đường đê sụt lở  
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn. 
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn  
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa. 
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa 
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về. 
Chiêm bao tan nước mắt dầm dề  
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng. 
Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng  
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương. 
Con lang thang vất vưởng giữa đời thường  
Đâu cũng sống không đâu thành quê được. 
Còn quê mẹ cuối chân trời tít tắp  
Con ít về từ ngày mẹ ra đi. 
Đêm tha hương con tìm lại những gì 
Với đời thực chẳng bao giờ gặp nữa. 
Mong hình mẹ lại hiện về giấc ngủ 
Dù thêm lần con khóc giữa chiêm bao.
 

Đây là toàn văn bài thơ "Khóc giữa chiêm bao" của nhà thơ Vương Trọng tôi xin phép được chép lại toàn bộ để bạn đọc thưởng thức và cùng suy ngẫm. Bài thơ của riêng ông cũng là tình cảm chung nhiều người. 

Nhà thơ Vương Trọng tâm sự với tôi rằng có rất nhiều nhà thơ viết thơ về mẹ. Họ dễ thành công khi viết về hình tượng người mẹ công dân người mẹ đất nước. Trong những nhà thơ thành công viết về người mẹ công dân người mẹ của đất nước ấy có nhà thơ Tố Hữu. Tôi nhớ tới những vần thơ của bài thơ "Bầm ơi" của Tố Hữu qua lời ông nói: 

Con đi trăm núi ngàn khe/ Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/ Con đi đánh giặc mười năm/ Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi/ Con ra tiền tuyến xa xôi/ Yêu bầm yêu nước cả đôi mẹ hiền/ Nhớ thương con bầm yên tâm nhé/ Bầm của con mẹ Vệ quốc quân... 

Có lẽ không nhà thơ nào là không có thơ về mẹ. Mẹ của mọi người và mẹ của mình. Trước ngày mẹ mất Vương Trọng đã có thơ về mẹ sau ngày mẹ mất ông vẫn viết thơ về mẹ nhưng phải đợi đến nhiều năm sau năm 1988 nhà thơ mới bật lên được thi khúc khóc mẹ thấm lòng này. Theo ông có chuyện khó như vậy bởi mẹ mình là cái gì quá thân thương quá gắn bó với mình. Có ai gần gũi với mẹ hơn con. Có ai thương con hơn mẹ. Mẹ thật vĩ đại niềm vĩ đại cốt nhục trong mỗi đứa con. Cảm nhận về sự khôn cùng ấy thì dễ nhưng thể hiện được nó ra bằng chữ bằng lời không dễ. Nhiều khi ta viết về mẹ mà cảm thấy chưa thật vừa lòng về những điều ta viết ra. Nỗi niềm đó là của Vương Trọng cũng là nỗi niềm của nhiều người làm thơ khác. 

Tôi cũng đã nhiều lần như Vương Trọng khóc trong mơ mỗi buổi mẹ về và từng thốt lên bằng thơ về tấm lòng mình với mẹ: 

Ai lấp nổi khoảng đời thiếu mẹ/ Tôi xin dâng núi bạc biển vàng/ Ai bù nổi khoảng đời không mẹ/ Tôi xin đền bằng tháng bằng năm 

Nước mắt của những đứa con mồ côi khi mẹ mất đều có chung vị mặn như nhau. Không hẹn mà gặp. Nhà thơ Vương Trọng đã nói giúp tôi và nhiều người khác niềm đau đáu này. 

Giọt nước mắt trong mơ của Vương Trọng giấc mơ thì sẽ tan đi nhưng nước mắt theo nhà thơ lại là thật lại là một hiện thực khắc nghiệt của tình cảm một sự mất mát không sao có thể tìm lại được của người con. Vương Trọng đã khóc trong mơ khi gặp mẹ. Ông khóc khi đã cao niên. Giọt nước mắt nhớ thương mẹ không có tuổi tác. 

Tôi cũng vậy. Vẫn luôn luôn bàng hoàng sau mỗi giấc mơ khi gặp mẹ cho dù bây giờ trên đầu đã hai thứ tóc. Nhiều người gặp tôi kể cả những người chẳng làm thơ bao giờ vẫn hay thổn thức câu "Thương quá đêm qua mình lại mơ thấy mẹ!". Thưa mẹ người mẹ kính yêu của tôi đang yên nghỉ giữa cánh đồng làng Nủa Chợ Hữu Bằng và thưa tất cả mọi người với mẹ của mình chúng ta mãi còn bé bỏng trẻ dại. Thật hạnh phúc cho những ai còn mẹ và quá đỗi thiệt thòi cho những ai đã mất mẹ. Nhưng luật Trời đã định rồi. Làm sao qua khỏi ngưỡng của vận mệnh. Mẹ chẳng thể sống mãi và ở mãi với ta. Từ nay mất mẹ biết bao giờ tìm. Ta chỉ còn gặp lại được mẹ trong mơ. Xa xót vậy làm sao không thể không khóc được! 

 Bài thơ thấm đậm nghĩa tình. Giọt nước mắt ấy không thể làm chúng ta mộng mị mà chỉ có khắc sâu thêm nỗi thương nhớ mẹ một đời vất vả nuôi ta để ta được sống tốt hơn như những điều mẹ mong muốn. 

Tôi cũng không thể quên được chi tiết xúc động này của gia đình ông với mẹ. Nhà thơ Vương Đình Trâm anh trai ruột của Vương Trọng đã khắc bài thơ của em mình vào đá trắng và đặt bên mộ mẹ. Mộ của thân mẫu nhà thơ ở trên núi Quỳ Sơn. Tấm bia tạc thơ về mẹ của đứa con hiếu thảo đặt bên phía tay phải chỗ mẹ nằm. 

Nơi này khi nhìn xuống thấy dòng sông Lam chảy miên man về biển khiến ta nhớ tới câu ca dao "Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!". Và khi ngước lên trong độ cao của một trăm mét núi nơi mẹ yên nghỉ ta nhận ra mẹ của nhà thơ được tạc bằng chữ nghĩa của người con trai đã thành đạt trong cuộc sống và gia đình vẫn khôn nguôi nhớ về những ngày mẹ tảo tần nuôi các con thuở còn nhiều khốn khó. 

Mẹ là Phúc Thần của mỗi đời con!
 

Phan Quế ( Nguồn: CAND )

More...

Lỡ hẹn cùng ca dao - Nhìn từ góc độ ngôn ngữ thơ - Bùi Lan Anh

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  VH&HV xin trân trọng giới thiệu bài viết của cô giáo trẻ Bùi Lan Anh THPT Nam Đàn I (Nghệ An)

LỠ HẸN CÙNG CA DAO

Vườn nay người khác đã vào

Khóm mai thay chỗ khóm đào ngày xưa

Em ngồi giặt áo giữa trưa

Đâu rồi môi hát vu vơ một mình

Em ngồi giặt áo lặng thinh

Vò cho sạch những vết tình còn vương

Giũ cho vơi bớt giọt buồn

Phơi cho khô hết nhớ thương xa vời

Đàn Kiều được mấy khúc vui

Thơ Kiều có vận vào đời em chăng?

Tình so chưa đủ ngũ âm

Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi

Áo ca dao gió cuốn rồi

Câu ca dao trả cho người khác qua

Tóc mai rủ bóng hiên nhà

Chuyện xưa dù nhắc cũng là chuyện xưa

Em ngồi giặt áo giữa trưa

Rát bàn tay vẫn vò chưa sạch lòng.

Đời con người thật lắm nghịch lý; nghịch lý nhiều nhất của đời người thường lại tụ trong chuyện tình yêu trai gái. Bao nhiêu nước mắt đã rơi trong đời và trong thơ bởi lỡ làng lệch nhịp chia xa ...Mỗi thi sĩ qua thơ mình có tiếng nói riêng thổn thức nỗi đau đớn ấy. Lỡ hẹn cùng ca dao có con đường ngôn từ độc đáo đặc sắc nên góp vào mảng thơ tình một giọng không thể tan hoà.

Trước hết là tựa đề bài thơ- Lỡ hẹn cùng ca dao. Ca dao trữ tình như ta biết phần lớn cũng là phần hay nhất dành cho tình yêu trai gái. Đành rằng trong xã hội cũ trai gái lỡ duyên thất tình không ít nhưng không phải vì thế mà không có những bài ca dao rất nên thơ tình tứ kín đáo và mãnh liệt say nồng giữa những trái tim trao gửi hẹn hò. Lỡ hẹn cùng ca dao vì thế là lỡ nhịp bẽ bàng với tình yêu đẹp với ước hẹn kết tóc xe tơ. Và đi suốt bài thơ là tiếng lòng của một chàng trai thời nay với người yêu giờ đã thành của kẻ khác. Thương cảm xót xa cho em cũng là thương cảm xót xa cho chính mình...

Toàn bài làm bằng thể lục bát thể thơ đâm chồi từ ca dao cổ và vững gốc xanh um tán lá cùng Truyện kiều. Vào ngay cặp sáu- tám đầu người đọc gặp ngay những vườn mai đào đã vào gợi nhớ đến bài ca dao rất mực tình tứ:

Đến đây mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa:

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Cái vườn hồng ái tình xưa hé lộ cuộc giao duyên bền chặt giữa đôi trai- gái Mận- Đào mà nay éo le thay với chàng trai nhân vật trữ tình bài thơ thì Vườn nay người khác đã vào- Khóm mai thay chỗ khóm đào ngày xưa. Giải mã ca dao với những mô típ Vườn mận đào mai cùng những từ Vườn nay người khác thay chỗ và giọng điệu đã không gì vui thậm chí có phần ấm ức ta hiểu ra rằng chàng trai không lấy được người mình hằng yêu (Đào) mà phải sống với người con gái khác ( Mai). Nhưng rồi từ đó anh không ngớt dõi theo thân phận cuộc đời người tình xưa- xưa mà không chịu cũ! Phần còn lại của bài thơ lục bát cứ xoáy vào chi tiết câu chuyện em ngồi giặt áo. Giặt áo khi làm vợ người của em dưới con mắt anh- nhân vật trữ tình của bài ca- thật cơ cực nhọc nhằn. Nào là Giặt áo giữa trưa lặng thinh rồi rát bàn tay. Có lẽ bởi thương em quá đỗi nên nói quá lên đó thôi chứ cái việc giặt áo âu cũng là thường nhật với người phụ nữ người vợ. Mỗi chữ đều chở nặng lòng thương cảm người tình xưa. Đọng và day dứt nhất là câu thơ hình ảnh:

Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi

Gánh nặng chồng con như món nợ đời đè lên đôi vai em vút cong hình hài cuộc đời em! Thơ hay thường câu chữ hình ảnh rất mực giản dị giản dị mà đeo bám mãi không thôi đối với người đọc...

Thơ trữ tình trong bản chất đặc trưng của nó là tiếng nói đồng cảm đồng điệu. Trước hết đồng điệu đồng cảm giữa bộ đôi chủ thể trữ tình với đối tượng trữ tình. Chàng trai trong bài thơ Lỡ hẹn cùng ca dao không chỉ thương xót người tình như đã phân tích mà còn đọc được thành lời những cử chỉ việc làm rất nhỏ của cô gái mà với với người ngoài cuộc có khi chẳng có ý nghĩa gì! Anh nhớ và đem đối lập cái hồn nhiên xốn xang môi hát vu vơ cái thời cô đang yêu mình bên dáng hình tội nghiệp ngồi giặt áo giữa trưa...của hôm nay. Anh nhìn ra trong việc giặt giũ thông thường của người phụ nữ nỗi cay đắng oán hận thân phận cuộc đời lỡ làng của người yêu xưa. Chỉ hai cặp lục bát 28 chữ Em ngồi giặt áo lặng thinh- Vò cho sạch những vết tình còn vương- Giũ cho vơi bớt giọt buồn- Phơi cho khô hết nhớ thương xa vời sao lắm đay nghiến: Vò cho giũ cho phơi cho. Ngôn ngữ thơ khác ngôn ngữ văn xuôi nó nối những sợi tơ nhện mảnh mai giữa hai nhịp cầu thực- hư lấy cái hữu hình để diễn tả cái vô hình. Vò cho sạch áo hay đang vò sạch những vết tình còn vương của những tháng ngày say đắm yêu đương? Giũ áo hay cũng là giũ cho vơi bớt giọt buồn của những ngày chẳng có chút vui làm vợ? Phơi áo cũng phải chăng là phơi khô hết nhớ thương chàng? Thật quả là có những điều chỉ có thể nói được bằng thơ!

Tôi không nghĩ tựa đề Lỡ hẹn cùng ca dao là lối làm dáng cố tỏ ra độc đáo của tác giả khi đặt tên khai sinh thi phẩm. Phải chăng trong chàng- nhân vật trữ tình- cứ thổn thổn thức thức: Sao ca dao xưa có những bài tình ái đẹp thế trai gái ở cái thời cơ cực ấy mà có những vận may đến vậy. Thế mà cuộc tình với nàng lại trớ trêu??? Hay em là cô Kiều- đẹp nết đẹp người của thời nay:

Thơ Kiều có vận vào đời em chăng?

Nên như Thuý Kiều thuở nào khúc đầu so dây với chàng Kim Trọng chưa đủ ngũ âm ( cung thương dốc chuỷ vũ) đã phải đoạn tình em chẳng đi hết con đường đắm say với anh! Thêm ít nhất lần nữa trong lòng anh lại liên tưởng sống với ca dao:

Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà mẹ hỏi qua cấu gió bay

Chủ thể trữ tình Lỡ hẹn cùng ca dao không được cái phút giây nồng nàn dâng hiến ấy câu ca dao xưa đâu phải cho anh mà cho người khác đã qua. Anh cứ lấy ca dao ái tình mà vận vào mình: Buổi đầu hò hẹn giao duyên chẳng thành: Vườn nay người khác đã vào nên những hạnh phúc âu yếm trời ban cho cho trai gái trần thế thật xa vời với anh:

Áo ca dao gió cuốn rồi

Câu ca dao trả cho người khác qua

Xót xa cho tình yêu không thành đau đớn vì không được hưởng niềm đam mê hạnh phúc của ca dao. Nhưng rất đẹp ở sự cao quý của tiếng nói trữ tình bài thơ: Giọng điệu toát lên trong cả bài và rồi đúc lại ở hai cặp lục bát cuối cùng- thương mình một chia sẻ xót đau cho người yêu đến mười:

Tóc mai rủ bóng hiên nhà

Chuyện xưa dù nhắc cũng là chuyện xưa

Em ngồi giặt áo giữa trưa

Rát bàn tay vẫn vò chưa sạch lòng

Tóc mai rủ bóng hiên nhà! Làm sao mà hiểu hết hàm nghĩa của câu thơ đầy sức ám gợi này?! Em em sống âm thầm như cái bóng trong ngôi nhà chồng hay chính Em đổ bóng đêm đau khổ chịu đựng vào cuộc đời mình bởi chuyện xưa dù nhắc cũng là chuyện xưa còn chuyện nay Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi!

Trong ca dao cổ cũng như thơ Việt rộng ra thơ Á Đông xưa nay chiếc áo tấm áo được nói đến thật tình tứ ân nghĩa không chỉ về tình trai gái mà còn tình mẹ con đồng bào đồng chí ...Nhưng trong bài thơ cũng áo mà giặt áo lại là chuyện cay cực của đời người con gái. Bài thơ cứ xoáy mãi hình ảnh khổ đau của đối tượng trữ tình và đầy xót xa thương cảm của nhân vật trữ tình: Em ngồi giặt áo giữa trưa! Nhưng xót xa nhất chưa phải ở đó ở Áo chồng con đã nặng oằn dây phơi mà ở cái quyết chí vò áo đến rát bàn tay mà không thể nào rũ sạch lòng một sinh mệnh tình yêu có sức sống dai dẳng trong lòng. Đau khổ và kỳ diệu thay tình yêu trai gái! Giữa chàng trai- chủ thể trữ tình và cô gái em- đối tượng cảm xúc của bài thơ- có sự đồng điệu sâu thẳm ấy là do gốc rễ tình yêu họ gieo trồng được trở thành vốn chung về tình cảm muôn đời mạnh hơn cái chết.

Khép lại bài thơ người đọc cứ ám ảnh mãi... Đưa ca dao dân ca vào thơ hiện đại thì không ít người làm. Nhưng sống với tiếng nói của ca dao tình yêu như một ám ảnh một khát vọng của Lỡ hẹn cùng ca dao thì thật hiếm! Ngôn từ bài thơ không có gì xa lạ lời ăn tiếng nói đời thường chứ không phải thứ lời thơ khó hiểu rắc rối đánh đố người đọc của không ít thơ hiện nay mà sao lay động đến sâu xa tâm trí độc giả. Có lẽ bí mật huyền diệu là ở sự mắc nối thực- hư cái nhìn thấy và không nhìn thấy. Nhưng trên tất cả phải là một tấm lòng một tình yêu say nồng mà cao quý cao cả ở nhân vật trữ tình với đối tượng được gọi là em trên trang thơ và trong tim anh!

 (Bài do tác giả gửi qua Email)

More...

Bồng bềnh cho tới mai sau - Bài thơ hay và lạ của Hoàng Phủ Ngọc Tường - Ngô Minh

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng


Bồng bềnh cho tới mai sau

Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng
Bồi hồi như một trái tim
Em chèo thuyền về phía hướng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng
Anh mãi nghe từ đáy màu sương mỏng
Bài hát tình yêu dậy một phương hồng

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như đã từ vạn kỷ
Bên sông này đứng hát mặt trời lên
Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau.


     Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay. Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc quyến rũ. Đó là những trang viết tài hoa tài tử tài tình.

      Thực ra bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là những áng thơ văn xuôi cuốn hút người đọc. Có độc giả ở Hà Nội đã công phu cắt từng câu trong bút ký nổi tiếng Ai đã đặt tên cho dòng sông của anh xếp lại thành một bài thơ. Ngoài bút ký anh có nhiều bài thơ hay được rất nhiều độc giả thuộc như Địa chỉ buồn Dù năm dù tháng Dòng sông đời mẹ Đêm qua: "Bây giờ đã hết trò chơi/ Đã tàn cuộc rượu để người ra đi/ Đêm qua không biết làm gì/ Muốn về tìm gã Trương Chi nghe đàn"... Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường là vẻ đẹp của nỗi buồn hoài niệm những day dứt triết học từ sâu thẳm thời gian sâu thẳm đất đai vọng lên trong tâm khảm người đọc. Chỉ có bài thơ Bồng bềnh cho tới mai sau là bài thơ tình (với chất liệu vũ trụ) rất hay và rất lạ trong mạch thơ buồn viết ra từ máu của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong vài chục năm nay!

      Năm 1986 Hoàng Phủ Ngọc Tường về thăm Lệ Thủy quê vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Lệ Thủy là vựa lúa của tỉnh Quảng Bình nơi sông nước mênh mang trong xanh chảy qua những làng quê thấm đẫm điệu hò khoan da diết. Từ chợ Tréo có thể đi đò về khắp nơi trong huyện. Người Lệ Thủy đam mê dân ca và hò hát. Đêm trăng hò giã gạo chèo thuyền hò mái nhì mái đẩy mái bảy mái ba mái sắp mái nện... không khác gì xứ Huế. Đêm Hoàng Phủ ngủ lại với mảnh đất đã cho mình tình yêu mảnh đất đã cho anh câu thơ khái quát: "Ai người làm thơ ai người cứu nước".

      Trong đêm khuya khoắt tiếng hát từ những con đò chở lúa trên dòng sông Kiến Giang làm anh choàng giấc. Anh chạy ra Mũi Viết nơi ngã ba sông và bàng hoàng ngẩn ngơ trước cảnh tượng thơ mộng như tranh thủy mặc: Bắt gặp những cảnh tượng bình minh như trong cổ tích đó Hoàng Phủ Ngọc Tường bị hớp hồn. Để rồi những hình ảnh đẹp đó đi vào tâm hồn thơ của anh vô cùng xao động và ấn tượng hơn nhờ những cặp liên tưởng bất ngờ và thú vị: "Có con thuyền trong sương trắng/ Bềnh bồng như một cánh chim/ Có em chèo thuyền áo trắng/ Xôn xao như trốn như tìm/ Có vầng mặt trời rựng sáng/ Bồi hồi như một trái tim".

      Nhờ thủ pháp so sánh liên tưởng điêu luyện những cảnh thực vào thơ đã thành ảo thành mộng cái tả đã biến thành cái cảm cái say dẫn người đọc đến một trạng thái tình cảm mới: Tình yêu! Cô gái chèo thuyền trên sông phút chốc biến thành Nàng Tiên Nữ giữa chốn bồng lai tiên cảnh với những nét đẹp vàng son lấp lánh và cực kỳ sang trọng: "Phấn mặt trời trên má" "bụi mặt trời vương gót chân" "dấu chân thành hoa hài trên sóng"...

      Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường "...thấm đẫm triết học về cái chết... thơ anh buồn mỗi nỗi buồn đứt ruột... Đấy là thơ của cõi âm...". Đó là một nhận xét xác đáng. Nhưng trong nguồn thơ như từ đất vọng lên của Tường lại có một bài thơ khác lạ bài thơ "Như từ trời vang xuống đầy chứa chan khoái cảm và trí tuệ. Đó chính là Bồng bềnh cho tới mai sau bài thơ về trái tim tình yêu "Trái tim mặt trời" vĩnh cửu một bài thơ tình hay và mới mẻ.

 Nguồn: http://evan.vnexpress.net

More...