VỘI VÀNG - Xuân Diệu - TS Nguyễn Phượng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm

Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới” (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất mang đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ giao cảm tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung đại.

         Thi sĩ được giới trẻ tấn phong là “ ông hoàng của thơ tình yêu” bởi đã đem vào thơ tình một quan niệm đầy đủ toàn diện một cách thể hiện mới mẻ phong phú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu.

          Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi cách tân trong nghệ thuật ngôn từ : lối diễn đạt chính xác những thông tin cụ thể tỉ mỉ mang tính vi lượng thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờ phát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan.

Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm chính:

- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian

- Một trái tim luôn hướng đến mùa xuân tuổi trẻ tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời yêu sống cuồng nhiệt sôi nổi.

- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt.

Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ thơ thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới.

2. Tri thức văn hoá

Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bởi những lời kêu gọi kiểu : Nhanh với chứ với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em em ơi! Tình non sắp già rồi! hoặc Gấp lên em! Anh rất sợ ngày mai! Đời trôi chảy tình ta không vĩnh viễn!

Khi thi nhân cất cao những lời kêu gọi : Mau lên thôi! Nhanh với chứ! Vội vàng lên! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh “là đã làm vang động chốn nước non lặng lẽ” thì không có nghĩa là anh ta đang tuyên truyền cho một triết lý sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đông một xứ sở vẫn chuộng lối sống khoan hoà chậm rãi.

Cần phải thấy rằng bước vào thời hiện đại sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.

Nhìn ở một góc độ khác bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời. 

3. Tri thức thể loại

Bài Vội vàng được viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân Tây học trưởng thành vào những năm 30 của thế kỷ trước được gọi chung là phong trào Thơ Mới.

Thơ Mới vẫn được coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm một mặt khước từ luật thơ gò bó phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh vần điệu chống lại thói quen “ đông cứng” văn bản thơ trong những cấu trúc đã trở thành điển phạm kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức cách dùng từ đã trở nên sáo mòn; mặt khác nỗ lực đổi mới tư duy thơ trên nhiều phương diện. Chẳng hạn mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ câu thơ táo bạo trong việc thể nghiệm cấu trúc mới cú pháp mới nhịp điệu mới từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năng của tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ. Nhưng điều quan trọng hơn nói theo nhận xét của Hoài Thanh tất cả chỉ nhằm để bộc lộ “ cái nhu cầu được thành thực” trong xúc cảm và suy tư của một thế hệ.

IV.PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1.     Về nội dung

Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc “ biện luận” rất riêng của tác giả.

a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời như  một thiên đường trên mặt đất.

    Bước vào bài thơ độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

                      Tôi muốn tắt nắng đi

                      Cho màu đừng nhạt mất

                      Tôi muốn buộc gió lại

                      Cho hương đừng bay đi!

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị ngông cuồng bề ngoài thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.

Nhưng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn lại dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa đời là chốn bụi trần cuộc đời là bể khổ. Đấy là lý do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con người trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn cõi Tây Phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lý hoài cổ phục cổ khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên nhờ tuổi trẻ họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung mờ mờ nhân ảnh cũng chẳng phải là cái bể khổ đầy đoạ con người bằng sinh lão bệnh tử … những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại là cả một thế giới tinh khôi quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu tất cả đều gần gũi đầy ắp ngay trong đời thực và trong tầm tay với. Trong cái nhìn mới mẻ say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi chào mời bằng vẻ ngọt ngào trẻ trung và đang như vẫn có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi trẻ trung ngọt ngào : đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm đây là hoa của đồng nội (đang) “xanh rì đây là của cành tơ phơ phấtkhúc tình si kia là của những lứa đôi.

          Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng mùa Xuân sao ngon như  một cặp môi gần! 

b....đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:

Tuy nhiên trong ý thức mới của con người thời đại về thời gian khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác tất cả đều nhuốm màu của âu lo bàng hoàng thảng thốt.

Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa tăng cấp : “nghĩa là (3lần/3dòng thơ) để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữuphôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp  nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não : 

    Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

              Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc

              Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

              Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây thời gian không còn là một đại lượng vô ảnh vô hình nữa người ta nhận ra nó trong hương vị đau xót của chia phôi người ta phát hiện nó tựa một vết thương rớm máu trong tâm hồn :

                Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa : lòng người rộng” mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn” mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều “ bất công” này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.   

c.  Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn nghịch lý:

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian con người chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi là vội vàng. Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất bằng một tốc độ thật lớn và một cường độ  thật lớn.

Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn : “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. Vội vàng vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ hiện đại. Tuy chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhưng dù sao trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh “ép xác diệt dục” là không còn phù hợp nữa nó là lời cổ động cho một lối sống tích cực sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của cái Tôi.

Tuy nhiên lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà : không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

2. Về nghệ thuật

Nét độc đáo trong cấu tứ.

Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận. Trong đó chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái Đẹp của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận lí giải về lẽ sống vội vàng thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả được trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý mâu thuẫn đến giải pháp.

Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ cách diễn đạt mới hình ảnh mới ngôn từ mới.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như : ôm” ( Ta muốn ôm )   riết ( Ta muốn riết ) “say” ( Ta muốn say )   thâu ( Ta muốn thâu )...Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: “chếnh choáng đã đầy no nê...diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

More...

TIẾP CẬN "TRAO DUYÊN" THEO CÁI NHÌN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 TIẾP CẬN "TRAO DUYÊN" 

THEO CÁI NHÌN  THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

      Nguyễn Thị Thúy Anh-Trường THPT chuyên Phan Bội Châu

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

          Nguyễn Du là một trong những đỉnh cao của nền văn học Việt Nam cuộc đời và sự nghiệp của ông mang nhiều tâm tư  sâu sắc quy tụ được những vấn đề xã hội và dự báo nhiều điều cho mai hậu. Việc nghiên cứu về Nguyễn Du không bao giờ kết thúc. Truyện Kiều - tác phẩm bất hủ của ông "tập đại thành" của văn học Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và từ đó đến nay việc nghiên cứu Truyện Kiều không bao giờ đứt đoạn nó luôn phát triển cùng nghành văn bản học và ngữ văn học. Hơn nữa Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm vị trí không thể thiếu trong chương trình văn học ở trường phổ thông tính cả chương trình văn THCS và THPT Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm một thời lượng lớn. Trong đó Truyện Kiều được học với tư cách tác phẩm và nhiều đoạn trích. Đoạn trích "Trao duyên" là màn đặc biệt diễn tả sâu sắc bi kịch đầu tiên  trong cuộc đời đầy bi kịch của Kiều đồng thời thể hiện tập trung nghệ thuật miêu tả nội tâm và tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Vì thế "Trao duyên" là một đoạn trích hay nhưng cũng rất khó tiếp cận nó thu hút những sự tìm tòi khám phá của các nhà nghiên cứu và của giáo viên giảng dạy môn văn. Qua nhiều năm giảng dạy tích lũy chúng tôi mạnh dạn đề xuất một hướng tiếp cận đoạn trích này.

          II. NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐÃ MỞ :

         Như đã nói ở trên là một đoạn trích tiêu biểu cho ngòi bút của Nguyễn Du trong Truyện Kiều nên "Trao duyên" được nhiều nhà nghiên cứu phân tích và khám phá trên nhiều bình diện.

         Lê Trí Viễn với bài viết "Trao duyên" trong cuốn "Đến với thơ hay" - NXB Giáo dục -1998 đã phân tích sâu sắc ngôn ngữ nhân vật chỉ ra cách sử dụng từ ngữ độc đáo ý nghĩa của các từ ngữ  trong việc Kiều thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim nhằm làm nổi bật cái "sắc sảo mặn mà" của nhân vật nhưng cũng chính vì thế mà bài viết chưa làm nổi bật được diễn biến tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

      Bài viết của Lê Bảo trong "Giảng văn văn học Việt Nam" - NXBGD-1997 - một bài viết rất công phu khám phá sâu sắc về nhiều phương diện nghệ thuật của đoạn trích "Trao duyên" nhằm làm nổi rõ dòng tâm trạng của nhân vật như tác giả kết luận: “ý thức về thân phận của con người trong tác phẩm là kết quả của những yếu tố nghệ thuật kết hợp lại một cách nhuần thấm tự nhiên trong đó có nhịp điệu các thành ngữ việc miêu tả thời gian tâm lý trong cái dòng phát triển biện chứng của những trạng huống tâm hồn" và tác giả Lê Bảo phân tích rất kỹ các yếu tố nghệ thuật như nhịp điệu từ ngữ thành ngữ - tác giả chú ý phân tích làm rõ thời gian tâm lý trong đoạn trích nhưng chỉ chú ý vào phần sau mà chưa chú ý dòng chảy thời gian tâm lý xuất hiện ngay từ đầu đoạn trích chính nó tạo nên nhịp độ chung cho đọan trích cũng như quy định ngôn ngữ hành động của nhân vật trong việc trao duyên. Hơn nữa đây là một bài viết chuyên sâu nên nếu áp dụng bài viết này vào bài giảng trong hai tiết ở lớp với trình độ của học sinh giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn lúng túng giữa việc cân bằng nội dung bài giảng với lượng thời gian lên lớp.

    Ở sách giáo viên một cuốn sách có tầm định hướng cụ thể chi tiết cho giáo viên trong soạn bài lên lớp cũng viết bài nàykhá rõ ràng chu đáo với mục đích "làm rõ" chủ đề "bi kịch tình yêu tan vỡ" khám phá lôgích trong diễn biến tâm trạng và ngôn ngữ biểu đạt. Bài viết này chia đoạn trích làm hai phần với ba nội dung chủ yếu : nội dung thứ nhất "Mâu thuẫn làm nền cho diễn biến tâm trạng nhân vật". Nội dung thứ hai: "Thúy Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa Kim Trọng". Nội dung thứ ba: "Tâm trạng bi kịch của Thúy Kiều”. Như vậy tác giả Nguyễn Lộc chỉ tập trung khám phá tâm trạng nhân vật ở phần thứ hai còn phần đầu của đoạn trích tác giả chỉ tập trung phân tích sức thuyết phục trong lời lẽ của Thúy Kiều khi nhờ Thúy Vân trả nghĩa Kim Trọng. bài viết này phù hợp với nội dung câu hỏi hướng dẫn học bài ở sách giáo khoa. ở sách giáo khoa có ba câu hỏi: Câu hỏi 1 và 2 đòi hỏi học sinh tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ thành ngữ trong việc thuyết phục Vân cuả Thúy Kiều. Câu hỏi 3 đòi hỏi phân tích tâm trạng của Thúy Kiều từ câu: "Ngày xuân em hãy còn dài " đến hết đoạn trích

       Như vậy chúng ta thấy rằng các bài viết đã có những thành công nhất định nhưng về mặt nào đó vẫn có những hạn chế như việc tách riêng hai phần đoạn trích để khám phá sức thuyết phục trong lời lẽ của nhân vật ở phần 1 và khám phá diễn biến tâm trạng ở phần 2. Chưa tác giả nào khám phá đoạn trích từ phía tìm hiểu dòng thời gian tâm lý. chính sự cảm nhận thời gian của nhân vật trong đoạn trích đã quy định cách thể hiện ngôn ngữ hành động cũng như thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật.

      Vì thế để khám phá sâu sắc diễn biến tâm lý nhân vật chúng tôi đề xuất khám phá đoạn trích từ cái nhìn thời gian nghệ thuật.

       III. CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP

    1. Cơ sở lý luận:

            Cùng với sự phát triển của ngành thi pháp học các học giả nước ta đã mở rộng con đường tiếp cận tác phẩm văn học họ đã có phương tiện hữu hiệu khám phá sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm và một trong những cách tiếp cận tác phẩm của thi pháp học là nghiên cứu thời gian nghệ thuật của tác giả xây dựng trong tác phẩm của mình.  Không gian thời gian là hai phương thức tồn tại của tất cả các sự vật khách quan vì thế thời gian nghệ thuật (cùng với không gian nghệ thuật) là yếu tố quan trọng mà nhà văn sử dụng để kiến tạo thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Là phương thức tồn tại của thế giới vật chất thời gian cũng như không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như một hiện tượng của thế giới khách quan. Nhưng đồng thời thời gian còn là một yếu tố nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng tình cảm được nhào nặn và sáng tạo để giúp nhà văn mô tả nhân vật phản ánh đời sống một cách chân thực nhất. Con người tùy theo tâm trạng tư tưởng tình cảm và ý thức mà cảm nhận thời gian một cách khác nhau cho nên các nhà văn tập trung xây dựng trong tác phẩm của mình một hình tượng thời gian với sự tập hợp các yếu tố thời gian cá biệt để tạo nên nhịp độ đời sống trong tác phẩm. vì thế khám phá được các biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tác phẩm chúng ta có thể giải mã được nhiều điều mà tác giả muốn gửi gắm. Việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật là một trong những vấn đề hiện đại và hiệu quả của nghiên cứu văn học .

 2. Cơ sở thực tiễn

          Nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những vấn đề được các nhà khoa học chú trọng từ trước đến nay trong đó có hai công trình lớn rất có giá trị là: "Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của Phan Ngọc và "Thi pháp Truyện Kiều" của Trần Đình Sử; hai tác giả này đã nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau của Truyện Kiều trong đó có sự tập trung khám phá thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Qua nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định Truyện Kiều có “hai thời gian" "một thời gian khách quan của thế giới  và một thời gian nội  tâm trong lòng từng nhân vật” ông còn nói "thời gian nghệ thuật này không được đo bằng kim đồng hồ mà được đo bằng xúc cảm con tim”. Ông còn chỉ ra sự cảm nhận thời gian cụ thể ở  nhân vật Thúy Kiều: "Thế giới nội tâm tách ra thành ba thời gian: sững sờ trước hiện tại hồi tưởng tới quá khứ và lo lắng cho tương lai". Trong "Thi pháp Truyện Kiều " Trần Đình Sử dành một mục lớn để khám phá nhiều phương diện của hình tượng thời gian ông đã chỉ ra Truyện Kiều có "một dòng thời gian tâm lý" đó là sáng tạo độc đáo vượt xa truyện nôm đương thời của Nguyễn Du. Dòng thời gian tâm lý xuất hiện ở tất cả các nhân vật nhưng rõ nhất ở Thúy Kiều: "thời gian của Kiều là do hoạt động có ý thức của Kiều tạo ra trong tương quan với hoàn cảnh”. Vì thế  trước mỗi hoàn cảnh cảnh ngộ Kiều lại có sự cảm nhận thời gian  theo một cách riêng và dòng thời gian đó bộc lộ rõ thế giới nội tâm của Kiều. Sự cảm nhận thời gian của Kiều rất phong phú và đa dạng tùy vào sự biến thái đổi thay tâm trạng của nàng trước mọi cảnh huống.

     Như vậy chúng ta thấy các học giả đã khẳng định trong Truyện Kiều có một dòng thời gian tâm trạng dòng thời gian đó được xây dựng trên sự cảm nhận ý thức của nhân vật trong mối quan hệ với hoàn cảnh vì thế muốn khám phá thế giới nội tâm nhân vật ta có thể dựa vào khám phá hình tượng thời gian nghệ thuật mà tác giả xây dựng trong tác phẩm.

     Những thành tựu của ngành thi pháp học cộng với những nghiên cứu cụ thể của các giáo sư trong hai công trình trên đã trang bị cho chúng tôi phương tiện để đi vào khám phá những biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong đoạn trích "Trao duyên”. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thế giới nội tâm của Kiều được bộc lộ rõ qua việc nhà thơ xây dựng một dòng thời gian một cách đặc biệt đó là một thời gian hiện tại dồn nén thắt ngặt trong cảnh huống đầy bi kịch một thời gian đồng hiện trong sự hoảng loạn của nội tâm vì tình yêu tan vỡ.

    IV. ĐỀ XUẤT HƯỚNG TRIỂN KHAI BÀI GIẢNG “TRAO DUYÊN”

    1. Lưu ý khi dạy phần tiểu dẫn:

        Bên cạnh việc xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ bố  cục kết cấu của tác phẩm như sách giáo khoa đã trình bày chúng tôi còn chú ý giúp học sinh xác định sự kiện trao duyên xảy ra trong giai đoạn nào của cuộc đời Kiều để xác định rõ tâm lý nhân vật lúc đó đồng thời định hướng cho học sinh thấy đoạn trích tập trung miêu tả tâm trạng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại: Nhân vật tự suy ngẫm tự nếm trải giãi bày cảm nhận trước thực tế phũ phàng nên thế giới nội tâm đó càng sâu sắc chân thực. Từ những suy nghĩ  đó chúng tôi thử đề xuất hệ thống câu hỏi trong phần này:

Câu hỏi : Dựa vào phần tiểu dẫn ở SGK và những hiểu biết về Truyện Kiều em hãy nêu ngắn gọn vị trí đoạn trích?

Yêu cầu: Đoạn trích nằm phần đầu tác phẩm từ câu 724 đến câu 756 sau một loạt những biến cố lớn: Kiều phải chia tay để Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú gia đình Kiều bị vu oan Kiều phải từ bỏ tình yêu bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em đây là đêm cuối cùng trước ngày ra đi Kiều tâm sự và nhờ Vân trả nghĩa chàng Kim.

 Câu hỏi Những biến cố này xảy ra trong giai đoạn nào của đời Kiều?ở Kiều nảy sinh tâm lý gì?

Yêu cầu: Sự kiện này xảy ra khi Kiều chỉ mới "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê"

(khoảng 15 16 tuổi) Kiều còn rất ngây thơ trong sáng chưa có va chạm trong cuộc đời chưa hề có sự chuẩn bị chống đỡ những nghiệt ngã của số phận tai họa lúc này tạo nên ở Kiều một cú sốc tâm lý lớn  với những biến thái nội tâm vô cùng phức tạp.

Câu hỏi : Truyện Kiều là tác phẩm tự sự nhưng đoạn trích lại sử dụng  ngôn ngữ độc thoại dụng ý của tác giả ?

Yêu cầu: Để nhân vật tự độc thoại tức là để cho nhân vật tự suy ngẫm tự nếm trải tự giãi bày thế giới nội tâm của mình thì thế giới nội tâm đó hiện lên một cách chân thực và sâu sắc nhất.

    Từ đó chúng ta rút ra cho học sinh thấy đoạn trích "Trao duyên" chủ yếu thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật khám phá đoạn trích tức là đi sâu khám phá diễn biến tâm lý đó. Đồng thời để thấy rõ tấm lòng cũng như tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lí nhân vật ở Truyện Kiều.

2. Phân tích đoạn trích :

câu hỏi:Dựa vào sự tìm hiểu kết cấu và bố cục đoạn trích em hãy đề xuất cách phân đoạn để phân tích? 

     Theo dòng chảy tâm trạng của nhân vật trong đoạn trích chúng tôi chia đoạn trích làm hai phần để tìm hiểu phần thứ nhất từ đầu cho đến câu: "Duyên này thì giữ vật này của chung" phần thứ hai: Tiếp đó cho đến hết.

     a. Phần thứ nhất:

      Có thể nói màn "Trao duyên" diễn ra toàn bộ ở phần này ở đây tác giả đã xây dựng một bối cảnh thời gian đặc biệt. Bối cảnh thời gian làm nổi bật diễn biến tâm trạng của nhân vật vì thế để phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều ở đây chúng tôi đề xuất những câu hỏi như sau:

Câu hỏi: Kiều tâm sự với Vân ở thời điểm nào? Thời điểm đó tác động gì đến  nhân vật?

Yêu cầu : Kiều tâm sự với Vân vào đêm cuối cùng trước ngày Kiều theo Mã Giám Sinh từ  bỏ gia đình từ bỏ mối tình với chàng kim ra đi đây là khoảng thời gian ngắn ngủi mà kiều còn được ở với gia đình. Sự thắt ngặt của thời gian đó tạo nên sự dồn nén  cảm xúc đậm đặc trong mỗi tích tắc của thời gian có sự vận động của nội tâm của ý thức với những biến hóa khôn lường bởi chỉ có một thời điểm duy nhất một con người duy nhất có khả năng nhận lời gửi gắm cái tài sản quý giá nhất cái hi vọng cuối cùng của Kiều. Tính chất thắt ngặt dồn nén của bối cảnh thời gian đó đã tạo nên một cơn lốc nhỏ làm cồn lên những suy nghĩ những thổn thức thúc đẩy nhân vật hành động. Sau những đắn đo: “Hở môi ra cũng ngượng ngùng/ để lòng thì phụ tấm lòng với ai”  Kiều quyết định trao duyên cho em

 Câu hỏi : Việc Kiều trao duyên cho em thể hiện rõ nhất ở những câu thơ nào trong đoạn trích?

Yêu cầu: màn trao duyên diễn ra trọn vẹn ở phần thứ nhất của đoạn trích và hoạt động trao duyên cũng chỉ diễn ra ở những câu thơ đầu và cho đến câu thơ "Duyên này thì giữ vật này của chung" Những câu thơ thể hiện một sự kiện có một không hai trong cuộc đời Kiều bộc lộ sâu sắc nỗi đau của thân phận con người thân phận tình yêu trong xã hội xưa.

  Câu hỏi : Màn trao duyên diễn ra qua trình tự như thế nào?

  Yêu cầu : - Trong 4 câu thơ đầu ngôn từ và hành động của Kiều vô cùng đặc biệt

            * Câu thơ mở đầu có hai từ  em cậy

            *Có sự phi lý trong thái độ trân trọng quá đáng với Thúy Vân của Kiều  ở hành động "lạy thưa "

Câu hỏi: Em có nhận xét gì về lời lẽ hành động của Kiều đối với Thúy vân trong màn trao duyên? vì sao Kiều lại hành động như thế?

Yêu cầu: Lời nói hành động được Kiều thể hiện liên tiếp dồn dập vội vàng. Hành động vội vàng này của Kiều trước hết bắt nguồn từ việc Kiều ý thức sâu sắc hoàn cảnh của mình trong hiện tại: Tình yêu vô cùng mãnh liệt khát khao hạnh phúc thì vô biên mà thời gian để yêu thương thì ngắn ngủi chật hẹp. Sóng gió cuộc đời khủng khiếp ập tới bất cứ lúc nào. Chính ý thức thời gian này đã làm cho Kiều phải hành động vội vàng.

     Kiều nói với em bằng những lời lẽ khẩn thiết nhất cảm động nhất “Cậy em em có chịu lời . Tất cả sự trông đợi sự ký thác gửi cả vào từ “cậy” nàng khẩn khoản van nài em bằng những hành động tôn kính quá mức : "lạy thưa ...làm những điều đó Kiều muốn Vân không thể chối từ  và Kiều có thể trả nghĩa chàng Kim trong muôn một.

     Hơn nữa nhịp độ gấp gáp vội vàng trong những câu thơ còn thể hiện tinh thần tranh chấp với số mệnh của Kiều; bởi ngay trước đó Kiều đã có những kinh nghiệm xương máu về những phi lý của cuộc đời: vừa nhận lời yêu Kim Trọng “thề hoa chưa ráo chén vàng” Kim Trọng đã phải ra đi. Gia đình đang hạnh phúc “êm đềm trướng rủ màn che” cha mẹ đã : “rường cao rút ngược dây oan” tai họa có thể ập tới bất cứ lúc nào con người không thể chống đỡ nổi. Kiều phải hành động tranh chấp với thời gian để cứu lấy tình yêu của mình và Kim Trọng.

Câu hỏi: em thử so sánh việc Kiều trao dyên với những việc làm khác của nàng trước và sau này?

Yêu cầu: Những quyết định trong cuộc đời đều được Kiều cân nhắc suy nghĩ rất chín chắn. Khi quyết định bán mình nàng đã “để lời thệ hải minh sơn/làm con trước phải đền ơn sinh thành” sau những đắn đo dằn vặt khủng khiếp và sau này cũng thế bao giờ kiều cũng phải suy nghĩ rất nhiều nhưng ở đây dường như Kiều không hề so đo tính toán nàng  nghĩ đến và làm rất mau chóng. Có lẽ nàng biết mình không thể dùng dằng được nữa thời gian không cho phép sáng ra nàng đã phải lên đường phải từ bỏ tất cả.

Câu hỏi: Trong bốn câu cuối của phần thứ nhất Kiều đã thuyết phục em như thế nào? (Bốn câu cuối từ:    "Ngày xuân em hãy còn dài” cho đến “ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây” )  

Yêu cầu: Để thuyết phục em Kiều đã dùng những lời lẽ thật đặc biệt. Trong lời của nàng có một loạt thành ngữ nói lên mối quan hệ thân thiết ruột rà như:       

        tình máu mủ/ lời nước non

Hay là những thành ngữ chỉ cái chết:

        thịt nát xương mòn/ ngậm cười chín suối

    Đó là lời lẽ có sức mạnh lay động tình cảm lòng trắc ẩn của con người nhất là những người thân. Kiều đã nói với em bằng tất cả sự đau đớn chua xót cho thân phận mình. Lời của Kiều như là những lời trăng trối nàng viện dẫn cả tình máu mủ ruột rà cả cái chết thê thảm để thuyết phục em. Kiều hiểu để Vân nhận lời cũng rất khó khăn bởi đây là một việc làm thay đổi cả đời Vân là gánh nặng mà Vân phải mang suốt cả cuộc đời. Nàng vô cùng thông cảm cho em nhưng nàng cũng không còn cách nào khác nghĩa chàng Kim quá nặng  mà hoàn cảnh của Kiều lúc này thì quán éo le.

    Câu hỏi :Lời lẽ thái độ và hành động của Kiều ở đây cho ta thấy điều gì ?

Yêu cầu: Kiều đã quyết định dứt khoát và tìm mọi cách để thuyết phục Thuý Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim bởi Kiều ý thức sâu sắc về hạn chót của thời gian Kiều không thể làm gì khác để cứu tình yêu. Trong ý thức nàng đây là hành động duy nhất mà nàng có thể làm cho tình yêu cho chàng Kim. Cho nên nàng đã dùng tất cả nỗi thống khổ của đời mình  và những lời lẽ thuyết phục nhất để thuyết phục Vân.

Câu hỏi: bên cạnh việc thuyết phục Thuý Vân lời nói của Kiều còn thể hiện điều gì? 

Yêu cầu: Bên cạnh đó lời của Kiều còn cho ta thấy sự cảm nhận của nàng về bi kịch số phận bi kịch tình yêu một cách sâu sắc. Trong từng câu từng chữ nàng nói với em có sự ý thức sâu sắc về thân phận của mình đó là sự hiển diện của một "mệnh bạc" của cái chết "Thịt nát xương mòn". Nhưng đặc biệt nhất ở đây lời của nàng thể hiện nỗi đớn đau tột cùng trước sự tan vỡ của tình yêu. Nàng nhắc lại kỷ niệm tình yêu thật tha thiết (ngay khi đang tìm cách trao duyên cho em). Nàng nhớ như in phút dây gặp gỡ hẹn thề khi gặp chàng Kim khi ngày quạt ước khi đêm chén thề "đó là phút dây đẹp nhất đời nàng. Thế mà tình yêu đó thật ngắn ngủi những tai hoạ khủng khiếp đổ xuống bất ngờ không thể chống đỡ “sóng gió bất kì” giữa đường đứt gánh tương tư”  tình yêu phút chốc nát tan.

Câu hỏi: để diễn tả nỗi đau này của Kiều tác giả sử dụng những phương tiện nghệ thuật nào?

   Đoạn thơ có điệp ngữ  “khi gặp khi ngày khi đêm” âm điệu thơ  luyến láy nhịp điệu thơ gấp gáp hình ảnh thơ tương phản gay gắt đã diễn giải ý thức sâu sắc của Kiều về sự ngắn ngủi mong manh của hạnh phúc tình yêu giữa cuộc đời dâu bể. Tất cả những điều này làm nổi bật cái bi kịch oan trái của cuộc đời Kiều: Khát khao hạnh phúc thì vô biên hiện thực đời sống tàn nhẫn khủng khiếp đã biến hạnh phúc thành chốc lát tất cả chỉ còn là sự xót xa nuối tiếc khôn nguôi.

   Câuhỏi: Sau những lời thuyết phục em việc làm tiếp theo của Kiều là gì?

   Yêu cầu: việc làm tiếp theo của Kiều là trao kỉ vật cho em

   Câu hỏi: cảm nhận của em khi nghe Kiều dặn dò Vân lúc trao kỷ vật?

Yêu cầu: Kiều trao kỷ vật cho em chiếc thoa bức tờ mây những vật minh chứng cho tình yêu của Kim Kiều bây giờ nàng đưa lại cho em thế là mọi việc đã kết thúc Vân đã nhận lời việc đền ơn Kim Trọng đã xong. Thế mà Kiều vẫn không thể thanh thản bởi  duyên đã trao nhưng tình thì không thể dứt nên kỷ vật đã trao mà nàng vẫn cố níu kéo bằng lời dặn “vật này của chung”. Câu thơ không hề có một từ ngữ nào miêu tả trực tiếp nội tâm nhân vật nhưng sự dùng giằng khi trao kỷ vật của Kiều lại gợi dậy cho người đọc những cảm nhận về tâm trạng  tiếc nuối vò xé của nàng.

     Như vậy ở phần thứ nhất trong đoạn trích này tác giả không chỉ thể hiện sự "sắc sảo" của Kiều trong việc thuyết phục Thúy Vân trả nghĩa chàng Kim. Nếu chỉ là thuyết phục Vân thì bốn câu đầu đã hoàn thành viên mãn. Ở đó có cả việc trao gửi có người nhận lời gửi gắm có cả hoàn cảnh éo le "giữa đường đứy gánh tương tư" buộc Kiều phải nhờ cậy nhưng ở đây Kiều giãi bày rất dài dòng   hành động lời nói của Kiều không chỉ chịu sự chỉ đạo của lý trí mà còn do những cảm nhận về cảnh ngộ của bản thân trong hiện tại đã tạo ra những khủng hoảng nội tâm sâu sắc. Nên những nguồn cơn trong lòng nàng trào dâng không kìm giữ nổi. Chúng ta thấy trong đoạn thơ xuất hiện hai dòng chảy: một dòng chảy của lý trí và một dòng chảy của tâm trạng.

     Mạch ngầm đầy dư ba đó biểu hiện sâu sắc cái nhìn cảm thông nhân đạo của Nguyễn Du trước bi kịch cuộc đời Kiều. Đồng thời việc khám phá được những rung động tinh vi trong tâm hồn nhân vật như thế chứng tỏ nhà thơ là một kì tài trong việc phân tích nội tâm nhân vật.

   b.Phần thứ hai:

         Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thấy được diễn biến tâm trạng của nhân vật từ phần thứ nhất đến phần thứ hai bằng câu hỏi có tính chất gợi ý như sau :

Câu hỏi : Nếu phần thứ nhất tâm trạng của Kiều chủ yếu được thể hiện qua sự cảm nhận cái hiện tại ngắn ngủi thì ở phần này tâm trạng của Kiều được biểu hiện qua dòng thời gian nghệ thuật như thế nào ?

Yêu cầu: ở phần thứ nhất Kiều phải dùng lý trí kìm nén cảm xúc để trao duyên cho em thì lúc này việc vì người đã xong lý trí không còn đủ sức kìm giữ được cảm xúc Kiều rơi vào sự khủng hoảng tâm lý cực độ. Tâm trạng đó của Kiều được biểu hiện bằng  những lời nói hành động của Kiều  trong sự cảm nhận thời gian đặc biệt đó là thời gian đồng hiện quá khứ hiện tại tương lai.

 Câu hỏi : Từ sự kiện trao duyên Kiều cảm nhận hiện tại của mình như thế nào?

 Yêu cầu : Khi duyên đã trao tình yêu vĩnh viễn tan vỡ hạnh phúc trở thành ảo vọng hiện tại đã trở thành thời điểm phân chia ngã ba đường của số phận để nhân vật quay nhìn vào quá khứ soi rọi vào tương lai.  Soi rọi vào tương lai Kiều nhìn thấy hạnh phúc của Thúy Vân khi đã "nên vợ nên chồng" với chàng Kim và Kiều cũng thấy thân phận mình đã trở thành kẻ "mệnh bạc" kẻ bị "mất người" vì thế trong Kiều trào lên niềm tự thương khắc khoải xót xa.

Câu hỏi : Đồng thời với việc nhìn thấy tương lai đó trong  Kiều có diễn biến tâm lý như thế nào? Bộc lộ tâm trạng gì ?

Yêu cầu : Từ hiện tại cay đắng ( mất tình yêu) hình dung một tương lai bất hạnh khi đối sánh số phận mình với duyên tình của Thuý Vân Kiều quay về tìm đến với tình yêu bằng kỷ niệm của ngày gặp gỡ hẹn thề "phím đàn với mảnh hương nguyền”nhưng tất cả đã không còn. Mọi việcđã trở thành quá khứ   hai từ "ngày xưa" đã đẩy lùi cái kỷ niệm êm đềm ngày nào vào quá khứ  xa xôi vời vợi (mặc dù tình yêu Kim - Kiều vừa mới thề hoa chưa ráo chén vàng” những sự biến trong gia đình Vương ông xảy ra gần như đồng thời với việc Kim Trọng về Liêu Dương). Cái ngày nay phút chốc đã là cái ngày xưa cả "phím đàn" cả "lò hương " đêm thề thốt những gì đẹp nhất quý giá nhất đã hun hút xa xôi chìm vào bóng tối. Kiều trở về quá khứ tưởng tìm được nơi an ủi nhưng kỷ niệm lại là nhát dao cứa mạnh vào tim đẩy nàng tới sự hoảng loạn nàng chạy trốn kỷ niệm tìm đến với tương lai.

Câu hỏi : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai như thế nào ?

Yêu cầu : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai thật hãi hùng nàng nhìn thấy số phận của mình nơi mai hậu thật là thê  thảm nàng đã là người của thế giới bên kia linh hồn nàng vật vờ theo lá cây ngọn cỏ trở về mang theo niềm tiếc nuối khắc khoải hồn còn mang nặng lời thề " nhưng tình yêu bất diệt của nàng không còn chỗ trong cuộc sống hiện thực. Cũng lò hương ấy" tơ phím này" nhưng người so tơ đốt lò không còn là Kiều cũng không còn là Kim của ngày xưa. Sự trở về của Kiều chỉ còn niềm hy vọng duy nhất là sự cảm thông của người ngày xưa “rưới xin chén nước cho người thác oan”  Kiều ví mình như chàng Trương Chi thủa nào mang nặng khối tình xuống Tuyền đài chỉ có sự thấu hiểu của người ngày xưa mới có thể hoá giải nỗi oan tình nàng khẩn cầu niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau. Vậy mặc dù duyên đã trao nghĩa chàng Kim đã trả

nhưng Kiều không hề thanh thản sự tan vỡ oan khuất của tình yêu làm nàng đau đớn không cùng hồn nàng không thể về nơi siêu tịnh nàng chỉ hy vọng mai hậu Kim Trọng cảm thông may ra nỗi oan thác này  mới được giải tỏa.

Câu hỏi: em có nhận xét gì về dòng thời gian ở đây?

Yêu cầu: Dòng thời gian ở đây không tuân theo sự chảy trôi của thời gian khách quan bên ngoài mà nó có những nhịp độ hoàn toàn khác: có sự hồi hoàn giữa thời gian hiện tại quá khứ tương lai trong một khoảnh khắc ngắn của cả cuộc đời. Giọng thơ cũng thay đổi hình ảnh thơ chập chờn ma mị thời điểm không xác định (mai sau bao giờ) không khí linh thiêng (đốt lò hương so tơ phím).Tất cả nói lên tâm trạng khổ đau khủng hoảng của nhân vật. Sự đối lập găy gắt giữa ước vọng và hiện thực cuộc sống đã làm cho Kiều rơi vào tột cùng bi kịch dẫn tới sự khủng hoảng tâm lý dữ dội.

Câu hỏi: Nhận xét của em về nghệ thuật miêu tả nội tâm của nhà thơ?                          Yêu cầu: Xây dựng dòng thời gian tâm lý này Nguyễn Du đã làm nổi bật thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn của Kiều. Một mặt nàng muốn trao duyên cho em để chàng Kim đỡ đau khổ một mặt nàng không dứt nổi mối tình tuyệt đẹp của mình và khi không thể giữ  nổi tình yêu nàng đau đớn đến hoảng loạn. Nàng gần như mất hết ý thức về không gian thời gian. Vì thế dòng thời gian ở đây không tuân theo thời gian khách quan mà nó có một nhịp độ riêng thẫm đẫm cảm xúc tâm trạng. Dùng dòng thời gian đặc biệt này  nhà thơ đã mổ xẻ tâm trạng nhân vật một cách chân thực nhất những biến đổi tinh vi của tâm hồn được lý giải thật sâu sắc tài tình.

 Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất Kiều chìm vào một dòng thời gian

ảo Kiều như nửa tỉnh nửa mê đang nói chuyện cùng Vân nàng bỗng như nói chuyện với mình nàng đối diện một thực tế đớn đau:

  Trâm gãy gương tan

 Tơ duyên ngắn ngủi

Câu hỏi : Tâm trạng của Kiều được thể hiện rõ nhất qua từ ngữ nào?

Yêu cầu: Từ “bây giờ” như một cái mốc oan nghiệt xẻ cuộc đời Kiều thành hai nửa. Một nửa trong quá khứ êm đẹp một nửa là hiện tại bi thương. Cái giới hạn chia đời Kiều thành hai nửa đó chính là bi kịch trao duyên  mà Kiều vừa thực hiện xong. Cái“bây giờ” trở thành bản lề khép mở hai thế giới của đời Kiều: một quá khứ “êm đềm trướng rủ màn che” một tương lai “mệnh bạc” hồn vật vờ theo lá cây ngọn cỏ vì ôm mối oan tình không dứt.

Câu hỏi: Quay lại với hiện tại đối diện với bi kịch "bây giờ trâm gãy bình tan” tâm trạng Kiều như thế nào?

 Yêu cầu:Tâm trạng Kiều có sự đột biến. Nỗi đau khi tình yêu bị tan vỡ thì người ngoài cuộc không thể hiểu nàng Vân không thể chia sẻ. Lúc này tâm trạng Kiều chìm tới đáy của sự chiêm nghiệm cá nhân của nỗi đau cuộc đời nàng ý thức sâu sắc thân phận của mình.         

 trâm gãy bình tan

tơ duyên ngắn ngủi

 phận bạc như vôi

 nước chảy hoa trôi

Lời nói của Kiều có một loạt những thành ngữ diễn tả cái tan vỡ cái bất hạnh cái nổi trôi vô định của số phận Kiều nhắc tới điều đó  bằng sự ý thức về thân phận về cuộc đời bi kịch của mình bằng nhận thức sự đối lập găt gắt giữa cái hữu hạn của số phận và cái "muôn vàn" vô hạn của tình yêu ước vọng. Hiện tại đẩy nàng xuống tận cùng bi kịch nỗi đau này không thể chia sẻ cùng ai kể cả nàng Vân  chỉ có chàng Kim là hiểu chàng là người duy nhất có thể chia sẻ vì thế từ sự tự thương mình Kiều tìm đến chàng Kim và bóng hình chàng Kim xuất hiện trong sự tưởng tượng của Kiều. Đang đối mặt cùng Thuý Vân thế mà Kiều dường như vượt qua cả không gian thời gian để cùng tâm sự với chàng Kim. Lời của nàng giờ đây là những lời than chua xót về thân phận của mình và thân phận của tình yêu đặc biệt là những lời  tạ lỗi cùng Kim Trọng:

  Kể làm sao hết muôn vàn ái ân

   Trăm nghìn gửi lạy chàng Kim

   Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Nàng gọi tên chàng Kim  bằng  những tiếng nấc nghẹn ngào  như  trong cơ  mê sảng “Ôi Kim lang hỡi Kim lang/  Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Những gì đã lo cho chàng Kim chỉ làm nàng yên tâm trong khoảng khắc nàng vẫn mang nặng trong lòng mình nỗi mặc cảm tội lỗi.

Câu hỏi: Cảm nhận của em về tâm trạng nhân vật ở đây?

Yêu cầu: Đoạn thơ diễn tả một cơn khủng hoảng một trận sóng gió tơi bời trong lòng của con người tài sắc mà mệnh bạc. Nàng khổ đau quằn quại đâu phải chỉ vì chính mình mà còn vì người nên nỗi đau càng nhân lên gấp bội

       Giáo

More...

TÀI THUYẾT PHỤC CỦA KIỀU - Thầy giáo Mai Văn Hoan

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

                                TÀI THUYẾT PHỤC CỦA KIỀU

          Đời Kiều xoay quanh hai chữ tài và tình. “Rằng tài nên trọng mà tình nên thương” “tài tình chi lắm cho trời đất ghen”. Cái tài luôn đi với cái tình .Cái tài góp phần thể hiện cái tình của Kiều. Cái tài không ít lần giúp Kiều thoát khỏi những tình huống những cảnh ngộ éo le. Nhưng cái tài cũng đôi khi mang tai họa đến cho nàng: “Chữ tài liền với chữ tai một vần” . Ngoài tài làm thơ đánh đàn Kiều còn có tài ăn nói tài thuyết phục. Nguyễn Du thể hiện khá thành công tài đàn của Kiều. Nhưng so với Bạch Cư Dị Nguyễn Du cũng chưa phải là bậc cao thủ. Trong khi đó có thể khẳng định Nguyễn Du thể hiện tài ăn nói tài thuyết phục của Kiều thì ít ai sánh được. Chỉ cần đối chiếu cách ăn nói của Kiều trong Kim Vân Kiều truyện với cách ăn nói của Kiều trong Đoạn trường tân thanh đã thấy cách nhau một trời một vực. Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân nói với Kim Trọng khi chàng ôm liều nàng: “Ô hay sao chàng lại  giở cái thói điên cuồng như vậy? Chàng nên nhớ rằng chúng ta chưa thành đại lễ kia mà!”. Trong khi đó Kiều của Nguyễn Du hết sức nhẹ nhàng: “Thưa rằng đừng lấy làm chơi / Dẽ cho thưa hết một lời đã nao / Vẻ chi một đóa yêu đào / Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh...”. Chính cách ăn nói vừa nhẹ nhàng vừa có tình có lý như vậy mà Kiều đã ngăn được  cái “sóng tình dường đã xiêu xiêu” của chàng Kim. Trong tất cả những lần Kiều phải trổ tài thuyết phục có lẽ trường hợp thuyết phục Thúy Vân nhận lời nối duyên với Kim Trọng là trường hợp khó khăn nhất. Thuyết phục bất cứ ai từ Vương ông đến Từ Hải ngoài tình cảm hết sức chân thành Kiều còn tìm được điều hơn lẽ thiệt cho từng đối tượng. Với Vương ông: “ Sao bằng liều một thân con / Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây”   “Cũng đừng tính quẩn lo quanh / Tan nhà là một thiệt mình là hai” . Với Từ Hải : “Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào / Sao bằng lộc trọng quyền cao / Công danh ai dứt lối nào cho qua ?” . Riêng trường hợp thuyết phục Thúy Vân chắp mối tơ thừa với Kim Trọng Kiều không thể tìm được một điều lợi nào cho Vân cả. Hơn ai hết Kiều hiểu rằng bắt Thúy Vân phải chắp mối tơ thừa là Thúy Vân phải chịu hy sinh. “Lấy người yêu chi làm chồng” đó là điều chắc chắn Thúy Vân không hề mong muốn. Vậy nên Kiều khẩn khoản: “Cậy em em có chịu lời / Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa... Cậy là vừa nhờ cậy vừa tin cậy. Chịu lời là vừa nhận lời vừa phải chịu thiệt thòi chịu hy sinh. Trong tất cả các trường hợp thuyết phục Kiều vừa nói vừa nài ép bằng được các đối tượng nghe theo lời khuyên của mình. Còn lần này Kiều có nài nhưng không ép. “ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” - mặc em có nghĩa là tùy em do em quyết định. Nếu em thương chị mà chắp mối tơ thừa cho chị thì chị cảm ơn. Nhưng nếu em không chịu lời thì chị cũng không trách không giận. Tất cả các trường hợp thuyết phục Kiều đều dùng lý lẽ.  Riêng trường hợp này Kiều chủ yếu thuyết phục bằng tình cảm. Kiều phải đem cả tình máu mủ ruột thịt để nhờ cậy: “ Ngày xuân em hãy còn dài / Xót tình máu mủ thay lời nước non. Nói đến như vậy Thúy Vân còn nỡ nào từ chối! Suốt cả buổi trao duyên Nguyễn Du chỉ để một mình Kiều nói. Thúy Vân chỉ im lặng lắng nghe. Ngay phản ứng nội tâm của Vân như thế nào Nguyễn Du cũng không hề đả động đến. Chẳng cần biết Vân có đồng ý hay không Kiều vẫn cứ bàn giao tình duyên cho em: “ Chiếc thoa với bức tờ mây / Duyên này thì giữ vật này của chung”. Đây là lần thuyết phục duy nhất mà đối tượng bị thuyết phục không hề tỏ thái độ chấp nhận hay chối từ. Các lần khác đối tượng bị thuyết phục đều phải chiều theo ý muốn của Kiều. Vương ông “phải lời ông cũng êm tai” Từ Hải “thế công Từ mới chuyển sang thế hàng”. Vì sao Nguyễn Du không để cho Thúy Vân lên tiếng hoặc tỏ thái độ nhận lời hay từ chối? Phải chăng hơn ai hết Nguyễn Du hiểu rằng Kiều đã đẩy Vân vào một tình thế hết sức khó xử? Nhận lời thì quá ư đường đột vì đây là chuyện hệ trọng chuyện trăm năm cần phải có sự cân nhắc lựa chọn. Nhưng chối từ khi chị đưa cả tình máu mủ ruột thịt để cầu xin như vậy chắc Thúy Vân cũng không nỡ. Vì thế Vân chỉ biết im lặng. Đó chính là chỗ cao tay của thiên tài Nguyễn Du.  

                    Trong suốt Đoạn trường tân thanh không chỉ mình Kiều có tài thuyết phục các nhân vật khác như: Kim Trọng Thúc Sinh Hoạn Thư cũng rất có tài ăn nói. Nhờ tài ăn nói mà Kim Trọng đã làm xiêu lòng Kiều: “ Lặng nghe lời nói như ru / Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng” . Đặc biệt là Hoạn Thư! Khi ra pháp trường Hoạn Thư giỏi kêu ca khiến Kiều phải khen “khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”. Nhưng chưa có nhân vật nào được Nguyễn Du tập trung thể hiện tài ăn nói thuyết phục như Thuý Kiều. Kiều nói năng gần như  suốt cả câu chuyện và lần nào cũng chinh phục được đối tượng  thuyết phục. Bản lĩnh và khí phách như Từ Hải cũng phải mềm lòng trước những lời lẽ ngọt ngào dịu dàng của Kiều. Thể hiện được tài ăn nói của các nhân vật mà đặc biệt là tài ăn nói của Kiều là một thành công hết sức quan trọng của thiên tài Nguyễn Du. 

 (Bài viết do tác giả cung cấp qua Email)  

More...

TRÀNG GIANG-Huy Cận - TS Nguyễn Phượng

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

 I. NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

 1. Về  tác giả và thời điểm ra đời của bài thơ :

          Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ học trường làng sau học trung học ở Huế; đến 1939 ra Hà Nội học trường Cao Đẳng canh nông và năm 1943 tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Tham gia phong trào Việt minh từ năm 1942 từ 1945 đến sau này Huy Cận liên tục giữ các chức vụ quan trọng thuộc hàm Thứ trưởng hoặc Bộ trưởng đặc trách văn hoá văn nghệ.

Huy Cận làm thơ từ năm 1934 được đăng báo từ năm 1936. Ngay trong thời gian ở Huế đã cùng với Hoài Thanh viết những bài bình luận trên các báo Tràng An Sông Hương. Năm 1936 gặp Xuân Diệu ở trường Khải Định và kết bạn từ đó. Từ 1939 ông ra Hà Nội ở chung với Xuân Diệu trên căn gác số 40 phố Hàng Than.

Tháng 11 năm 1940 tập Lửa thiêng được nhà xuất bản Đời Nay của Tự Lực Văn Đoàn ấn hành Xuân Diệu đề tựa Tô Ngọc Vân trình bày bìa gây một tiếng vang lớn trên thi đàn.

Năm 1942   Huy Cận cho xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự hoàn thành tập thơ thứ hai Vũ trụ ca chưa in thành sách. Sau 1945 Huy Cận tiếp tục cho ra đời các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958) Đất nở hoa (1960) Bài thơ cuộc đời (1963). Những năm sáu mươi (1968) Cô gái Mèo (1972) Chiến trường gần chiến trường xa (1973) Những người mẹ những người vợ (1974) Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975) Ngôi nhà giữa nắng (1978) v.v...

Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới.

 Niềm ám ảnh thường trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp người trước cõi vô biên của vũ trụ. Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn mênh mang nỗi ám ảnh trên thường thăng hoa thành niềm cô đơn sầu muộn khó hoá giải.

Thơ Huy Cận thiên về suy tưởng triết lý hơn là giãi bày bộc lộ.

Về nghệ thuật cùng thế hệ với Huy Cận nhiều người hăng hái vận dụng cái mới trong  thơ Tây phương nhằm cách tân về thi pháp riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng thì thường lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp với cái hàm súc sâu lắng của thơ Đường để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng : vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại.

2.                 Tri thức văn hoá

Nếu phương tiện di chuyển chính của người châu Âu xa xưa là ngựa thì ở nước ta phương tiện di chuyển chính là thuyền. Đây là chỗ khác nhau giữa hai nền văn minh một nền văn minh không có nước và một nền văn minh dựa vào sông nước. 

Nước là một trong năm thứ thiết thân với đời sống ca con người ( kim mộc thuỷ hoả thổ ) mặc dù nước thực ra chỉ là một khối chất lỏng. Nhưng chính sự hội tụ của nước làm nên suối sông đầm hồ và biển cả. Con người dựa vào sông nước để tồn tại quần tụ nhỏ thì thành làng xóm lớn là quốc gia thế giới. Sông nước con người vì thế như gắn bó cùng một bọc nước vì thế vừa là chỗ để đi tới vừa là chỗ để trở về.

Từ đó nước hay sông nước trở thành đối tượng để con người khám phá ra chính mình khám phá ra hiện hữu người trong cõi thế.

Quan hệ giữa sông nước với con người đến một mức độ nào đó thì tạo nên cả một nền văn minh dựa trên sông nước. Tức là dựa vào sông nước mà tạo nên nếp sống nếp nghĩ phong tục tập quán tiếng nói rồi hướng tới sông nước mà sáng tạo thơ ca tiểu thuyết suy niệm triết học

          Một cách tự nhiên sông nước trở thành đối tác để làm ăn sinh sống mà cũng lại là đối tượng của thẩm mĩ hay suy ngẫm triết học để con người gửi gắm những vui buồn của thân phận người hoặc triết lý về vị thế tồn tại của con người trong cõi vô thường

3. Tri thức về thể loại

Tràng giang là một trong số không nhiều thi phẩm tuyệt tác của phong trào Thơ Mới. Trong tư cách là một bài thơ mới Tràng giang có nhiều cách tân tìm tòi mới mẻ. Chẳng hạn một phong thái diễn đạt cảm xúc mới một điệu hồn sâu lắng rợn ngợp cô đơn của cái Tôi hiện đại những cách tân trong nhịp thơ để tăng chất nhạc và những lựa chọn táo bạo về hình ảnh ngôn ngữ gây ấn tượng sâu sắc.

Tuy nhiên Tràng giang còn là một thi phẩm được viết trên tinh thần không khước từ với truyền thống. Trái lại tác giả vận dụng được nhiều nét tinh hoa của văn chương trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa mầu sắc cổ điển và mầu sắc hiện đại  phù hợp với phong cách thơ giàu suy tưởng của chính mình.

II. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Về nội dung

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang sâu lắng của một cái tôi cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới.

2. Về nghệ thuật

Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kết hợp hài hoà hai phẩm chất : màu sắc cổ điển và chất hiện đại.

   1. Mầu sắc cổ điển trong Tràng Giang:

 Mầu sắc cổ điển đậm đà in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài Thơ Mới.

a/ Cổ điển ở nhan đề:

          Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán. “Tràng” ( một âm đọc khác của “trường”) gợi sự cổ kính. “Giang” là tên chung để chỉ các dòng sông. Hai chữ này gợi một không gian cổ kính trang trọng bát ngát như trong Đường thi gợi nhớ câu thơ nổi tiếng của Lý Bạch: “Duy kiến trường giang thiên tế lưu” ( Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

b/ Cổ điển ở đề từ:

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

 Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ. Sông dài tạo ấn tượng về cái vô cùng của không gian. Trời rộngsông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảm giác rợn ngợp của con người cô đơn bé nhỏ trước cái mênh mang bất tận của trời đất. Tâm trạng này từng được diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô đọng đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca :

                  Tiền bất kiến cổ nhân

                  Hậu bất kiến lai giả

                  Niệm thiên địa chi du du

                  Độc thương nhiên nhi thế hạ

                 ( Người trước không thấy ai

                   Người sau thì chưa tới

                  Ngẫm trời đất thật vô cùng

                  Một mình xót xa mà rơi lệ )         

c/ Cổ điển ở tứ thơ sóng đôi:

Tràng giang” được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi:

 Có dòng “Tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và ( cũng có ) dòng “Tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng. Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường Thi.

Tiếp cận Tràng Giang trong tư cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông điệp về nước. Thông điệp trực tiếp là các từ : “nước” “con nước” “dòng”…Thông điệp gián tiếp là các từ : “sóng gợn” “cồn nhỏ” “bèo dạt” “bờ xanh” “bãi vàng”…

Tiếp cận Tràng giang với tư cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát hiện thêm một điều thú vị nữa: Cảnh nào cũng gợi buồn. Sóng buồn vô hạn ( buồn điệp điệp); Gió đầy tử khí: “đìu hiu”. Gợi nhớ đến câu: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” ( Chinh Phụ Ngâm); Bến sông cô đơn vắng vẻ: “bến cô liêu”; Nước với nỗi buồn trải khắp không gian: “sầu trăm ngả

d/ Cổ điển ở nghệ thuật đối:

Màu sắc cổ điển còn được bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của Đường Thi nhưng khá linh hoạt và phóng túng.

Chẳng hạn: “Sóng gợn…”đối với “ Con thuyền…”; “Nắng xuống đối với trời lên…” ; “Sông dài đối với trời rộng…”

Nhưng đóng góp quan trọng hơn cả là nghệ thuật đối được sử dụng một cách triệt để bằng hai hệ thống hình ảnh mang tính tương phản giữa một bên là những sự vật nhỏ bé gợi suy ngẫm về cái hữu hạn của kiếp người: thuyền củi bến bèo cánh chim…và một bên là những hình ảnh lớn lao hùng tráng gợi liên tưởng về cái vô hạn của vũ trụ: sông dài trời rộng lớp lớp mây cao núi bạc…

e/ Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hưởng cổ kính: (10 lần/16dòng thơ cách ngắt nhịp truyền thống: 3/4)

Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ: “Tràng giang” “điệp điệp” “song song” “lơ thơ” “đìu hiu” “chót vót” “mênh mông” “lặng lẽ” “lớp lớp” “dợn dợn”.

Ngoài ra tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đường Thi với rất nhiều hình ảnh và chất liệu quen thuộc. Đặc biệt câu kết mượn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” ( Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch ). Điểm khác biệt ở hai tác giả là : Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu được gợi từ hình ảnh “khói sóng”  còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần tác động của ngoại giới ( Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố nội tâm thường trực. Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảm xúc tạo nên đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại.

 2. Mầu sắc hiện đại:

Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phương diện như đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này. Bởi cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang sâu lắng của cái tôi cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới.

Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó được thể hiện đa dạng với nhiều cung bậc và hết sức tinh tế.

          Ngay trong khổ thơ đầu nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật. Tuy thuyền và nước “song song” nhưng “thuyền về” ngược hướng với “nước lại” gợi liên tưởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng. Và hình ảnh gây ấn tượng chính là hình ảnh củi trong câu “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Theo lời thổ lộ của chính tác giả trong bản thảo ông đã băn khoăn nhiều cân nhắc rất kỹ trước khi chọn hình ảnh này. Qủa nhiên chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ một màu sắc hiện đại. Hình ảnh “củi” không chỉ tạo một ấn tượng mới mẻ mà còn gợi những liên tưởng và  suy ngẫm về kiếp người lam lũ tủi cực lênh đênh…

Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững mất liên lạc giữa con người và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con người trước cái thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây “lơ thơ” trên những cù lao nhỏ trơ trọi và ngọn gió hiu hắt buồn như thổi về từ nghìn năm trước. Cảm giác trống trải trước một không gian hoang sơ vắng lặng càng được tô đậm khi tác giả sử dụng nghệ thuật diễn tả cái động để làm nổi bật cái tĩnh:

“Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều…”.

Câu thơ này từng gợi ra hai cách hiểu. Một âm thanh vẳng tới mơ hồ như có như không của phiên chợ vãn ở làng xa khiến nhân vật trữ tình thấm thía hơn nỗi cô đơn trước một không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Hai đây chỉ là một ý nghĩ bất chợt gần như một ảo giác do những mong mỏi thầm kín trong thẳm sâu hồn người vào khi chiều xế trong thời điểm tâm hồn rơi vào một nỗi cô đơn mang tính muôn thuở.

Nhưng câu thơ Nắng xuống trời lên sâu chót vót mới thực sự gây ấn tượng mạnh bởi cách sử dụng nghệ thuật tiểu đối bởi lối dùng từ mới mẻ táo bạo ( cách dùng hình dung từ sâu chót vót thay cho cách diễn đạt thông thường cao chót vót ) vừa mở ra chiều cao mênh mang đến thăm thẳm của bầu trời vừa diễn tả nỗi cô đơn của cái tôi trữ tình đặc biệt là cảm giác rợn ngợp của con người hữu hạn trước một vũ trụ vô biên.

Nếu câu thơ vừa phân tích chủ yếu gợi ấn tượng rợn ngợp bởi nỗi cô đơn do chiều cao vô cùng của bầu trời đem lại thì câu thơ tiếp theo sử dụng nhịp 2/2/3 cùng hàm ý nhấn mạnh vào các tính từ miêu tả không gian: sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu… nghe tựa như một tiếng thở dài đầy bâng khuâng và sầu muộn của cái tôi trước tạo vật hững hờ. Nỗi sầu muộn đó sẽ còn tiếp tục gây ám ảnh trong khổ thơ tiếp theo khi cái tôi trữ tình đối diện với một thiên nhiên gần như ngoảnh mặt làm ngơ với bao nỗi niềm cần chia sẻ của con người: 

          Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

         Mênh mông không một chuyến đò ngang

         Không cầu gợi chút niềm thân mật

         Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Trong khổ thơ có những câu hỏi không thể có câu trả lời. Những câu hỏi như để khơi sâu thêm nỗi buồn cảm giác hẫng hụt và đặc biệt là tình cảnh bơ vơ của cái tôi trước một thế giới không còn là nơi nương tựa quen thuộc như muôn nghìn năm trước nữa.

Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang tính phủ định khiến người đọc nảy sinh những liên tưởng và so sánh. Từ “khách vắng teo” của Nguyễn Khuyến qua “đã vắng người sang những chuyến đò” của Xuân Diệu cho đến hàng loạt từ “không đò” “không cầu” “lặng lẽ” của Huy Cận là cả một hành trình “ càng đi sâu càng thấy lạnh” ( Hoài Thanh ) của con người khi bước vào thế giới hiện đại.

          Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con người với vũ trụ. Cái mênh mông của không gian: “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tương phản gay gắt với hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Rõ ràng không còn là cánh chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ như trong Đường Thi: “ Chiếc cò bay với ráng pha/ Sông xanh cùng với trời xa một màu – Vương Bột ” hay cảnh “Bạch lộ song song phi hạ điền” ( Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng - Thiên Trường vãn vọng - Trần Nhân Tông) nữa. Cánh chim ở đây chứa đựng cái tôi rợn ngợp trước hoàng hôn gợi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp người trước cái vô hạn của tạo hoá.

       Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thương quen thuộc sưởi ấm lòng người trong bối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng như  sắp dìm cái tôi trữ tình vào một nỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa chưa từng trải qua bao giờ sẽ là một tất yếu. Đấy là lý do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu:

          Lòng quê dợn dợn vời con nước

          Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

vừa như chịu ảnh hưởng từ hai câu thơ của nổi tiếng của Thôi Hiệu: Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu vừa như muốn đối lập với người xưa bằng lối bộc lộ cảm xúc trực tiếp theo phong cách của con người thời hiện đại.

More...

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỮ NGHĨA - PGS. TS Nguyễn Đăng Na

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

        Bình Ngô đại cáo là tác phẩm văn học chức năng hành chính quan trọng không chỉ đối với lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học sử Việt Nam. Trong tác phẩm này tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học. Chính vì thế Bình Ngô đại cáo đã trở thành tác phẩm cổ điển sớm đi vào sách Giáo khoa từ Phổ thông cơ sở đến Phổ thông trung học và được giảng dạy ở tất cả các trường Cao đẳng Đại học ngành khoa học xã hội - nhân văn. Với vị trí như vậy Bình Ngô đại cáo cần được nghiên cứu một cách thấu đáo từ văn bản dịch bản đến chú giải. Mặc dù suốt thế kỉ XX các nhà nghiên cứu đã đổ khá nhiều công sức vào nghiên cứu BNĐC nhưng tới nay không phải chẳng còn gì để bàn. Trong hai bài trước(1) chúng tôi đã giải quyết ba vấn đề:
1 - Bài Bình Ngô đại cáo trong Bản kỉ thực lục sách Đại Việt sử kí toàn thư(2) là văn bản có độ tin cậy nhất. Tại văn bản này không có câu “Đại Thiên Hành Hóa hoàng thượng nhược vân”. Câu “Đại Thiên... nhược vân” là lời mào đầu của viên hoạn quan nói trước khi truyền chỉ.
2 – Bốn chữ “Đại Thiên Hành Hóa [代N天ẹƯổ化ặ] là hiệu của Lê Lợi do các tướng sĩ tôn xưng ngài sau chiến thắng Tân Bình – Thuận hóa năm Ât Tị 1425. Theo Toàn thư tôn hiệu trên được dùng cho tới tháng 12 năm Đinh Mùi 1427 khi quân ta đại thắng giặc Minh. Sau đấy Lê Lợi lên ngôi   không dùng tôn hiệu đó nữa mà thay bằng niên hiệu Thuận Thiên  [ảả天ẹ].
3 – Bản mà lâu nay các sách như Tổng tập văn học Việt Nam Tuyển tập văn học Việt Nam sách Giáo khoa Văn học 9 Văn học 10...vẫn ghi là Bùi Kỉ dịch thực ra không phải. Đấy là bản Trần Trọng Kim dịch in trong Việt Nam sử lược từ năm 1919. Nguyên nhân có sự nhầm lẫn này là Dương Quảng Hàm hiểu lầm ghi chú của Bùi Kỉ in trong Quốc văn cụ thể (3) năm 1932.
Trên cơ sở hai bài viết trước ở bài này chúng tôi sẽ đề cập tới vấn đề khác: một số chữ nghĩa trong BNĐC. Về chữ nghĩa bài BNĐC quả là còn nhiều việc phải làm. Trong khuôn khổ một bài viết chúng tôi chỉ đề cập tới cách hiểu nhan đề bài cáo và cụm từ máu chảy trôi chày. Những chữ còn lại xin để dịp khác.

1/ Cách hiểu nhan đề Bình Ngô đại cáo.
 BNĐC là tác phẩm văn học chức năng hành chính. Một quy tắc tuy không thành văn nhưng người cầm bút nào cũng phải tuân thủ là ngay trong nhan đề phải ghi rõ loại hình thể loại của chúng. Nguyên tắc này dường như bất di bất dịch đối với tất cả tác phẩm văn học chức năng (hành chính và lễ nghi). Ta có thể lấy một số tên tác phẩm văn học chức năng hành chính Việt Nam thế kỉ X – XIV làm ví dụ. Chẳng hạn các tác phẩm Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn Dụ chư tì tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn Thất trảm sớ của Chu An... Những chữ đứng cuối tác phẩm đã chỉ cho người đọc biết thể loại của chúng như: chiếu [ả@] hịch văn [檄ấ文ồ] sớ [疏ă]... Nhan đề bài Bình Ngô đại cáo cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Cho nên hai chữ “đại cáo” sẽ là thể loại tác phẩm của Nguyễn Trãi
Vậy “đại cáo” là gì?
Các nhà biên soạn sách Giáo khoa hiện hành(4) có hai cách giải thích khác nhau. Soạn giả Văn học 10 cho rằng Bình Ngô đại cáo “dịch cho sát nghĩa là: tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô”; rồi bổ sung thêm: “bài này viết theo thể cáo”(5). Cách giải thích trên cho thấy “đại cáo” là một cụm từ trong đó đại là “rộng rãi” còn cáo là “tuyên cáo” – nó vừa là động từ vừa là danh từ chỉ thể loại tác phẩm. Soạn giả Văn học 9 thì giải thích khác: “Bình Ngô đại cáo là bài cáo có quy mô lớn nói việc dẹp yên giặc Ngô”(6). Như vậy “đại cáo” vẫn là một cụm từ ở đó cáo là danh từ chỉ thể loại đại phản ánh “quy mô” tác phẩm: lớn.
Thế thì “đại cáo” trong BNĐC thực chất là cụm từ hay một từ? Nếu là cụm từ chúng thuộc cụm danh từ hay cụm động từ? Và đại dùng để nói về tính phổ biến “rộng rãi” hay “quy mô” tác phẩm?
Trong Hán ngữ có hai chữ cáo: một chữ không bộ ngôn [告i] và một chữ có bộ ngôn [ằÂ]
Chữ cáo không bộ ngôn [告i] dùng cho kẻ dưới trình lên bề trên và thường làm động từ; chữ cáo có bộ ngôn [ằÂ] dùng để bề trên ban xuống kẻ dưới và thường làm danh từ. Tuy nhiên không phải lúc nào người viết cũng phân biệt rạch ròi như vậy trừ những văn bản văn học chức năng hành chính hoặc lễ nghi. Hơn nữa cả hai chữ cáo nói trên đều có thể đứng sau chữ đại để thành “đại cáo”. Chẳng hạn thiên Vũ Thành trong Kinh Thư có đoạn: “Việt tam nhật Canh Tuất Sài Vọng đại cáo [大j 告i] vũ thành” – “ sau ba ngày là ngày Canh Tuất làm lễ Sài lễ Vọng kính cáo (đại cáo) việc võ đã thành công”(7).  Hai chữ “đại cáo” ở câu trên Thẩm Quỳnh dịch là “kính cáo”(7) còn Nhượng Tống dịch là “cả tâu.”(8) Trong trường hợp này hai ông đều hiểu cáo [告i] là động từ đại [大j]làm trạng ngữ.
Chữ cáo có bộ ngôn [ằÂ] thường dùng để chỉ thể loại văn học khi kết hợp với đại sẽ thành “đại cáo” [大jằÂ]. Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo [大jằÂ]này để chỉ thể loại tác phẩm của mình. Các sách Toàn thư Hoàng Việt văn tuyển(9)... đều xác nhận như vậy và ghi : 平ư吳d大jằÂ (Bình Ngô đại cáo).
Vậy “đại cáo” [大jằÂ] là thể loại gì và ý nghĩa của nó?
Hán ngữ đại từ điển giải thích: “đại cáo [大jằÂ] là tên một thiên trong sách Thượng Thư. Lời tựa thiên Đại cáo có đoạn: Vũ vương mất Tam Giám cùng Hoài di làm phản. Chu Công giúp Thành Vương trừ bỏ nhà Ân viết Đại cáo. Khổng truyện rằng Trình bày đại đạo [大j ạD]để cáo [ằÂ]với thiên hạ(trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ) nên lấy làm tên thiên sau dùng để phiếm xưng những bài văn có tính chất điển cáo[典ồằÂ].”(10) Như vậy ban đầu “đại cáo” [大jằÂ] do hai chữ mang ý nghĩa quan trọng nhất trong mệnh đề”trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ” ghép lại dùng để gọi tên một thiên trong Kinh Thư rồi thành từ cố định chỉ loại đặc biệt của thể cáo.
Đấy là nghĩa thứ nhất gắn với thời Tây Chu của Trung Hoa cổ đại.
“Đại cáo” còn có nghĩa thứ hai gắn với đương đại thời Minh. Nghĩa này cũng không kém phần quan trọng: “Văn kiện pháp luật ban bố năm Hồng Vũ thứ 18 thời Minh”(11) gọi là Đại cáo. Hồng Vũ [洪x武Z] là niên hiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương [朱ả元á璋ý] – người khai sáng ra nhà Minh làm hoàng đế Trung Hoa những năm 1368 – 1398.
Dựa vào hai nghĩa mà Hán ngữ đại từ điển đã nêu ra chúng ta hãy xem Nguyễn Trãi dùng hai chữ “đại cáo” đặt trong nhan đề tác phẩm của mình nhằm mục đích gì và có ý nghĩa như thế nào?
Thứ nhất chiến thắng giặc Minh là sự kiện quan trọng là bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Nó không chỉ đánh dấu sự thất bại thảm hại của các thế lực hung tàn và cường bạo mà còn khẳng định sự tất thắng của một dân tộc biết lấy đại nghĩa và chí nhân làm nền tảng tư tưởng. Vì thế Nguyễn Trãi muốn nhân dịp này bày tỏ để nhân loại thấy cái “đại đạo” [大jạD] - đạo lí lớn nhất của Việt Nam là “đem đại nghĩa thắng hung tàn lấy chí nhân thay cường bạo” đúng như lời ghi trong Khổng truyện: “trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ”. Đây vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi vừa là mục đích mà thiên Đại cáo ở sách Thượng Thư – một trong năm bộ “kinh” (Ngũ Kinh) của Trung Hoa cổ đại hằng dương cao. Xa rời mục đích ấy ta không thể hiểu thấu đáo tư tưởng chủ đạo bài cáo của Nguyễn Trãi. Khi đi đánh Vũ Canh Chu Thành Vương truyền Đại cáo; bình xong giặc Ngô Lê Lợi cũng tuyên Đại cáo. Tác giả muốn sánh Lê Lợi với Chu Thành Vương quân sư của Lê Lợi với Chu Công Đán và muốn bài cáo bình Ngô của thời đại ông mang ý nghĩa ngang tầm với thiên Đại cáo đánh Vũ Canh thời Tây Chu của Trung Hoa cổ đại.
Vì sao Chu Thành Vương phải đánh Vũ Canh? Bởi y là tên phản chủ kẻ phản phúc! Sách Kinh Thư kể rằng sau khi diệt xong Thương Vương Trụ tàn bạo Chu Vũ Vương – cha của Chu Thành Vương vẫn thương tình phong cho con trai Trụ Vương là Vũ Canh làm vua nước Ân. Khi Vũ Vương qua đời con nối ngôi là Chu Thành Vương còn nhỏ. Trước hoàn cảnh đó Tam giám gồm Quản Thúc Thái Thúc và Hoắc Thúc nổi loạn. Vũ Canh bèn liên kết với các tộc Di ở phía đông hùa theo Tam Giám đem quân đánh Thành Vương phản lại nhà Chu. Cuộc bình Ngô của Lê Lợi cũng mang ý nghĩa như việc Thành Vương diệt Vũ Canh. Đấy là ý thứ nhất của hai chữ “đại cáo” mà Nguyễn Trãi dùng cho bài bình Ngô ở thời đại ông.
Thứ hai Nguyễn Trãi viết bài cáo bình Ngô khoảng cuối năm 1427 - đầu 1428 sau văn kiện pháp luật mà Minh Thái Tổ ban bố năm Hồng Vũ 18 (1365) tới hơn bốn mươi năm. Điều đó cho thấy khi viết bài cáo Nguyễn Trãi hoàn toàn biết có sự kiện Chu Nguyên Chương ban bố Đại cáo. Minh sử ghi: “Minh Thái Tổ đã định xong luật lệnh các quan hữu ti tuân thủ thi hành. Nhưng những kẻ phạm pháp ngày càng nhiều bèn lệnh cho thu thập các sai phạm của quan và dân chia ra từng điều làm thành Đại cáo gồm 10 mục. Tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 18 Đại cáo hoàn  thành gồm 74 điều. Lệnh ban xuống cho các trường học phải đem ra để dạy sĩ tử; còn ở làng quê thì đặt các trường tư thuê thầy dạy”. Không những vậy Chu Nguyên Chương còn khuyến khích mọi người đọc học Đại cáo bằng lệnh: “Những ai đang bị tù đày mà đọc được Đại cáo thì sẽ giảm tội”. Năm sau – 1386 Chu Nguyên Chương lại ban Đại cáo tục biên gồm 87 điều Đại cáo tam biên 43 điều. Như vậy là trong hai năm liền Minh Thái Tổ đã liên tiếp ba  lần ban Đại cáo tổng cộng 204 điều. Tiếp theo năm sau – Hồng Vũ thứ 20 (1387) Minh Thái Tổ lại ban Đại cáo vũ thần. Xem thế đủ biết “Đại cáo” chính biên tục biên tam biên và vũ thần của ông Thái Tổ nhà Minh cực kì quan trọng thật! Ông bắt tất cả mọi người từ thành thị tới nông thôn từ quan đến dân từ văn đến võ từ sĩ tử tới “phó thường dân”... ai ai cũng phải đọc phải học phải thấm nhuần và quán triệt tinh thần của Đại cáo. Lớp học Đại cáo mở tới tận làng quê thậm chí biết đọc Đại cáo là tiêu chuẩn xét giảm án và ân xá cho các phạm nhân. Thế mà nay Nguyễn Trãi gọi bài “bình Ngô” do mình soạn thảo là “Đại cáo”! Rõ ràng ông muốn người đọc thấy rằng bài cáo mà mình thay mặt dân tộc viết ra chính là một văn kiện mang tính pháp luật có ý nghĩa trọng đại ngang với văn kiện pháp luật mà Minh Thái Tổ ban bố ròng rã suốt ba năm: Hồng Vũ 18 Hồng Vũ 19 Hồng Vũ 20. Đặt pháp luật Đại cáo để thống nhất đất nước để cai trị nhân dân để diệt trừ tội ác... Lẽ ra văn kiện pháp luật Đại cáo của người sáng lập nhà Minh phải tượng trưng cho uy quyền và là công cụ bảo vệ nhà Minh. Nhưng ở Việt Nam ngược lại nó dùng để “bình Ngô”!
Ngô là ai? Dụng ý của Nguyễn Trãi khi dùng hai chữ “bình Ngô”? 
Không nên hiểu Ngô theo hai cách như soạn giả Văn học 10 đã nêu ra(12). Ngô là nước Ngô người Ngô giặc Ngô! Vâng! Nhưng nguồn gốc của chữ Ngô từ đâu ra?
Chu Nguyên Chương gốc người Hào Châu [濠Ú州{] (13) mà Hào châu xưa thuộc đất Ngô. Vì thế Ngô chính là quê cha đất tổ của người sáng lập ra nhà Đại Minh: Thái Tổ Chu Nguyên Chương! Hơn nữa khi sự nghiệp đang trên đà thắng lợi (chiếm xong lộ Tập Khánh) năm 1356 Chu Nguyên Chương xưng Ngô Quốc công [吳d國ờ公ẵ] ý muốn nhắc tới nguồn gốc của mình: người đất Ngô. Tám năm sau khi sự nghiệp sắp thành công ông cải xưng là Ngô Vương [吳d王ý] ý muốn hồi cố và ước mơ sự nghiệp của mình sánh với nước Ngô thời cực thịnh dưới quyền Ngô Vương Hạp Lư đánh tan nước Sở hùng mạnh truyền ngôi cho con là Ngô Vương Phù Sai; Phù Sai lại diệt nước Việt cầm tù Việt Vương Câu Tiễn...
Bởi vậy Ngô ở đây vừa là tước hiệu của Minh Thái Tổ khi chưa lên ngôi: Ngô Quốc công Ngô Vương; vừa là nguồn gốc quê cha đất tổ của người khai sáng ra nhà Đại Minh: Chu Nguyên Chương! “Bình Ngô” là “bình” tận gốc gác nòi giống họ Chu – Thái Tổ nhà Minh. Ba đời Vua Minh xâm lược nước ta là Thành Tổ Chu Đệ Nhân Tông Chu Cao Xí Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ Tuyên Đức. Nếu kể từ thái Tổ Chu Nguyên Chương Tuyên Đức là đời vua Minh thứ năm. “Bình Ngô” là bình tận ông thượng tổ năm đời của “đứa trẻ ranh” Tuyên Đức. Hai chữ “Đại cáo” nói riêng nhan đề Bình Ngô đại cáo [平ư吳d大jằÂ] nói chung mang ý nghĩa thâm thúy và sâu sắc như vậy. Nắm được ý nghĩa nhan đề BNĐC là nắm được tư tưởng cốt lõi của tác phẩm.

2/ Máu chảy trôi chày
Tôi còn nhớ khoảng trên dưới mười năm về trước có cuộc thảo luận khá sôi nổi và kéo dài về cách hiểu bốn chữ “máu chảy trôi chày”. Mọi người dường như thống nhất với nhau rằng chày được dịch từ chữ chử. Trong Hán ngữ về cơ bản chử[杵S] có nghĩa là cái chày. Nhưng là cái chày gì dùng để giã gạo hay cái chày nói chung như chày đập vải chày giã thuốc giã trầu hoặc một loại vũ khí thời xưa giống hình cái chày... thì quả thực mọi người chưa hoàn toàn nhất chí. Ngay cả khi đã là cái chày rồi cuộc thảo luận vẫn chưa chấm dứt bởi người thì bảo nó là cái chày giã gạo bằng chân; người lại nói là cái chày giã gạo bằng nước ở miền núi... Cuối cùng khi làm sách Giáo khoa soạn giả Văn 10 chú giải cho học sinh như sau: Máu chảy trôi chày là “máu đổ ra nhiều quá thành suối khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi” (14). Có đúng như thế không? Để hiểu đầy đủ vấn đề chúng tôi thiết nghĩ trước hết phải đọc lại văn bản BNĐC đặng từ đó bám vào chữ nghĩa của Nguyễn Trãi mà bàn mà phân tích!
Đoạn có cụm từ được dịch là máu chảy trôi chày của BNĐC trong Toàn thư và Hoàng Việt văn tuyển đều thống nhất ghi:
Lãnh Câu chi huyết chử phiêu giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích dã thảo vị chi ân hồng(15).
Hai vế đối nhau chỉnh chệ. Năm 1919 trong Việt Nam sử lược quyển Thượng Trần Trọng Kim dịch là:
Suối máu Lãnh Câu nước sông rền rĩ
Thành xương Đan Xá cỏ nội đầm đìa(16).
Khi đem BNĐC in lại vào sách Quốc văn cụ thể (17)năm 1932 Bùi Kỉ vẫn giữ nguyên lời dịch của ông Trần. Đến lượt mình lúc sử dụng lại bản dịch của Trần Trọng Kim in ở sách của Bùi Kỉ năm 1943 trong Việt Nam văn học sử yếu(18) Dương Quảng Hàm cũng không đổi thay gì hết. Vậy là bản dịch của ông Trần được các thế hệ sau dùng tới hơn 40 năm kể từ ngày nó ra đời năm 1919 cho tới những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX. Có lẽ vì muốn giữ theo cấu trúc thể tứ lục khi dịch ông Trần đã lược mỗi vế mất hai chữ “vị chi” và dịch thoát ý các chữ “chử phiêu” “sơn tích”. Phải chăng vì nhận thấy lời văn dịch của ông Trần chưa thật sự lột tả hết ý của Nguyễn Trãi nên năm 1962 khi nhà xuất bản Văn Hóa cho ra mắt độc giả bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập II: Văn học Việt Nam thế kỉ X – XVII các soạn giả đã chỉnh lí lại thành:
Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá thây chất thành núi cỏ nội đầm đìa máu đen (19).
Rồi chú: “máu chảy trôi chày”: do chữ “huyết lưu phiêu chử” ở Kinh Thư. Ý nói giặc bị chết nhiều” (20). Từ đó câu có cụm từ  “máu chảy trôi chày” được thay thế lời dịch của ông Trần và thản nhiên bước vào sách Giáo khoa trong học đường. Rồi cứ thế một số người đã bám vào bốn chữ “máu chảy trôi chày” trong bản dịch và lời chú “huyết lưu phiêu chử” mà trao đổi mà tranh luận một cách hùng hồn sôi nổi hào hứng và kéo dài chẳng cần biết Nguyễn Trãi đã viết như thế nào nữa. Bây giờ nhìn lại tôi thực sự lấy làm ngạc nhiên. Đúng là một thời đã qua!
Như trên đã trình bày Nguyễn Trãi chỉ viết  “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” chứ  đâu có viết “huyết lưu phiêu chử” mà bỗng dưng thành “máu chảy trôi chày” để tranh luận để trao đổi? Mà giả sử nguyên văn chữ Hán cụ viết “huyết lưu phiêu chử” cũng chẳng thể dịch là “máu chảy trôi chày” được! Soạn giả Hợp tuyển chỉ đúng khi cho biết xuất xứ cụm từ “huyết lưu phiêu chử” từ Kinh Thư mà thôi. Nguyên văn đoạn có “huyết lưu phiêu chử” trong Kinh Thư như sau xin dẫn ra để bạn đọc tham khảo: “Giáp Tí muội sảng Thụ xuất kì lữ nhược lâm hội vu Mục Dã võng hữu địch vu ngã sư; tiền đồ đảo qua công vu hậu dĩ bắc huyết lưu phiêu chử”. Nghĩa là “ngày Giáp Tí lúc rạng đông vua Thụ kéo quân đông như rừng họp ở cánh đồng Mục Dã. Các binh sĩ không ai chống lại quân ta toán tiền phong ngược cả dáo lại đánh toán quân đi sau rồi chạy(21) huyết lưu phiêu chử.” Ta thử hình dung xem quân của Thụ (Trụ) dù bị giết nhiều vô vàn đi chăng nữa (vì chúng đông “như rừng”) nhưng làm sao máu đổ ra có thể “thành suối” để đến đỗi “khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi” dù diễn đạt theo kiểu tu từ? Nếu ai đã từng bị đứt tay chảy máu sẽ hiểu máu khi ra khỏi cơ thể người sẽ như thế nào. Máu khi đã thoát khỏi cơ thể người sẽ đông lại làm thế nào để thành suối “khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi”? Thật không thể hình dung nổi! Vậy mấu chốt vấn đề ở chỗ nào? Có hai việc cần giải quyết.
Thứ nhất cách hiểu chữ chử.
Trong Hán ngữ chử [杵S] có 6 nghĩa. Ngoài nghĩa thông dụng là cái chày dùng để giã đập các vật chử còn thông nghĩa với lỗ[櫓r]. Hán ngữ đại từ điển giải thích chử thông nghĩa với lỗ và: “lỗ[櫓r] cổ đại vũ khí trung đích thuẫn [古j代N武Z器ạ中Ô的º 盾ị]”(22) - lỗ là cái mộc loại vũ khí thời xưa. Một thú vị nữa là chính các soạn giả từ điển lại lấy ngay Kinh Thư nơi có cụm từ “huyết lưu phiêu chử” để minh họa cho cách cắt nghĩa của mình. Các soạn giả viết: “Thư Vũ Thành:Thụ xuất kì lữ nhược lâm hội ư Mục Dã ......huyết lưu phiêu chử”. Rồi các soạn giả dùng sách Thuyết văngiải tự của Hứa Thận mục “bộ mộc[木ỡ]” để giải nghĩa: “ lỗ đại thuẫn dã[櫓r 大j盾ị也]]. Thanh Đoàn Ngọc Tài chú: lỗ hoặc giả chử vi chi; huyết lưu phiêu chử tức huyết lưu phiêu lỗ dã”(22). Đoạn văn trên cho biết lỗ[櫓r] là cái mộc lớn. Ông Đoàn Ngọc Tài thời Thanh chú rằng lỗ do mượn chữ chử; huyết lưu phiêu chử là huyết lưu phiêu lỗ.
Thế là đã rõ! Mộc [Thuẫn 盾ị] - một loại vũ khí thời xưa dùng để đỡ dáo đâm hoặc tên bắn. Mộc thì nhẹ được làm bằng gỗ hoặc da thú có hình tròn hình bầu dục hình lưỡi mác hoặc hình chữ nhật... mặt quay ra phía ngoài để đỡ gươm đao đỡ tên bắn có cấu tạo cong như mặt đáy chảo. Với chất liệu nhẹ và cấu tạo như vậy lỗ có thể nổi trôi theo dòng nước trong đó có máu của đối phương bị giết chảy ra. Điều này dễ hiểu và phù hợp với thực tế.
Thứ hai Nguyễn Trãi viết:
Lãnh Câu chi huyết chử phiêu giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích dã thảo vị chi ân hồng.
Hai vế đối nhau từng chữ rất chỉnh. Mỗi vế gồm 12 âm tiết chia thành hai: nửa đầu (6 âm tiết) chỉ nguyên nhân nửa sau (cũng 6 âm tiết) chỉ kết quả. Ta có thể diễn giải như sau: Bởi “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” khiến “giang thủy vị chi ô yết”; do “Đan Xá chi thi sơn tích” khiến “dã thảo vị chi ân hồng”. Nửa đầu của mỗi vế (6 âm tiết) lại theo cấu trúc 4 – 2: bốn âm tiết đầu làm chủ ngữ hai âm tiết sau làm vị ngữ. Chủ ngữ củachử phiêu là Lãnh Câu chi huyết; chủ ngữ củasơn tích là Đan Xá chi thi. Lại nữa trong Lãnh Câu chi huyết thì huyết là trung tâm ngữ; cũng như vậy thi làm trung tâm ngữ cho Đan Xá chi thi. Nên lưu ý “Lãnh Câu chi huyết” là máu (giặc Minh) trong dòng nước Lãnh Câu; “Đan Xá chi thi” là xác (giặc Minh chết) ở Đan Xá. Sơn tích[山s積n]là tích lại như núi; chử phiêu [杵S漂}]là làm trôi cái chử. Xác giặc ở Đan Xá chất lại như núi; máu giặc đổ xuống Lãnh Câu làm cho trôi cái chử. Điều lạ là ý tứ câu văn của Nguyễn Trãi rõ ràng nhưng lời dịch đọc lên nghe mâu thuẫn. Xin đọc: “Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày nước sông nghẹn ngào tiếng khóc”. Vậy Lãnh Câu là suối hay sông? Đã đành rằng câu[溝ắ] là suối nhưng ở đây nó là địa danh! Vả chăng Nguyễn Trãi cũng nói rõ giang thủy[江¿水ụ] – nước sông chứ đâu phải câu thủy[溝ắ水ụ] – nước suối. Hai âm giang[江¿] và câu[溝ắ] đều thanh bằng do đó không phải vì thanh điệu mà Nguyễn Trãi phải thay câu bằng giang ; hơn nữa chúng lại không nằm ở vị trí gieo vần nên càng không phải vì ép vần hoặc ép thanh mà đổi câu(suối) thành giang(sông). Trong một mệnh đề thôi lúc thì suối lúc lại sông thế mà ta cứ thản nhiên nhồi vào đầu bao thế hệ học sinh từ 1962 đến giờ. Thật tội nghiệp! Vế sau cũng thế: “Thành Đan Xá thây chất thành núi cỏ nội đầm đìa máu đen”. Làm gì có thành nào ở đây? Xác chết ở Đan Xá tích lại thành núi vì việc đó mà cỏ ở ngoài đồng – dã thảo[³Ơ¯ú] bị thẫm đỏ. Các chữ Xá và dã cũng tương tự trường hợp câuvà giang đã trình bày trên kia. Thì ra đây là hai trận chiến: một ở sông (giang) Lãnh Câu một ở đồng (dã) Đan Xá hoặc một trận chiến phối hợp thủy lục: sông Lãnh Câu đồng Đan Xá.
Vì sao xẩy ra hiện tượng dịch như vậy? Có lẽ vì soạn giả Hợp tuyển hiểu lầm văn của ông Trần? Ông dịch: “Suối máu Lãnh Câu” và “Thành xương Đan Xá” thật là tuyệt vời. Phải chăng bởi nhận thấy dịch chử phiêu là trôi chày hoặc chày trôi chưa thật  thỏa đáng nên ông Trần muốn lẩn đi dịch thoát cốt giữ ý: Suối máu Lãnh Câu. Suối máu Lãnh Câu là máu ở Lãnh Câu nhiều tựa suối. Như vậy Lãnh Câu đâu phải suối! Thành xương Đan Xá là xương giặc nhiều chất lại tựa thành ở Đan Xá. Như vậy Đan Xá đâu phải thành. Có điều ông đã thay chữ thi (xác chết) bằng chữ xương. Do dịch thoát ý hai chữ suối và thành của ông Trần bị soạn giả Hợp tuyển hiểu nhầm biến thành “suối Lãnh Câu” “thành Đan Xá” khiến câu văn vừa sai lạc ý nghĩa của Nguyễn Trãi và vừa mâu thuẫn. Bây giờ đến chữ ô yết và ân hồng.
Dịch Ô yết là rền rĩ hoặc nghẹn ngào đều được. Song Ô yết[嗚ó咽|] có hai nghĩa: một chỉ tiếng khóc buồn đau; hai chỉ âm thanh bi thương trầm lắng. Nếu dịch ô yết là nghẹn ngào tiếng khóc thì hơi quá vì đã gộp cả một và nghĩa hai của chúng lại. Trong văn cảnh Nguyễn Trãi chủ yếu miêu tả nước chảy làm cho những cái mộc bị trôi nổi va đập vào nhau phát ra âm thanh trầm lắng nghe thấy bi thương. “Ân hồng” dịch là “đầm đìa” thì chưa rõ nhưng dịch thành “Đầm đìa máu đen” lại hơi quá. Ân hồng[殷ù紅ừ] dùng để chỉ màu đỏ thẫm trong màu đỏ có pha sắc đen. Ô yết và ân hồng đối nhau: một từ chỉ âm thanh một từ chỉ màu sắc tạo nên khung cảnh thảm đạm của giặc Minh. Hơn nữa nếu dịch “giang thủy vị chi ô yết” và “dã thảo vị chi ân hồng” là “nước sông nghẹn ngào tiếng khóc” và “cỏ nội đầm đìa máu đen” thì không những thái quá như chúng tôi đã phân tích mà mỗi vế bị bỏ mất hai chữ rất quan trọng: “vị chi”[為°之Đ] - vì việc đó mà... Chữ chi[之Đ] là đại từ thay cho cả mệnh đề sáu chữ đứng trước: “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” “Đan Xá chi thi sơn tích”. Chúng là những nguyên nhân khiến cho nước sông ô yết cỏ đồng ân hồng. Dĩ nhiên dịch vừa sát nghĩa vừa bảo đảm âm luật của thể loại là một việc cực kì khó. Chúng tôi luôn biết rằng nói bao giờ cũng dễ hơn làm rất nhiều nhưng chẳng phải vì vậy mà lặng im.
Khi viết BNĐC Nguyễn Trãi dựa vào hiện thực cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Ông có thể sử dụng nhiều mẫu chất liệu có sẵn trong nền văn hóa Trung Hoa cổ đại nhưng ông chỉ dùng những gì diễn tả đúng nhất với hiện thực cuộc kháng chiến lúc bấy giờ. “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” không phải là “suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày” càng chẳng phải máu “đổ ra nhiều quá thành suối khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi” và chử là cái mộc. Chỉ có những cái  mộc bị trôi chẳng có cái chày giã gạo nào “nổi lên trôi đi” cả! Thế mới biết hiểu cho thấu đáo một câu văn của cổ nhân khó thật!
Trên đây chúng tôi mới nêu hai trường hợp: nhan đề “Bình Ngô đại cáo” và cụm từ “máu chảy trôi chày” mà đã có bấy nhiêu chuyện huống cả bài cáo thì còn biết bao vấn đề nữa để bàn. Chỉ mong rằng các nhà đang biên soạn sách Giáo khoa mới làm sao có được một bài BNĐC chuẩn xác từ văn bản đến chú thích xứng đáng với tầm vóc bản “thiên cổ hùng văn” và thế hệ trẻ không phải học những điều  chẳng có trong văn bản như ở thế kỉ trước!

 
Tháng Chạp năm Giáp Thân 2004

(1). Xem Nguyễn Đăng Na:
a. Bình Ngô đại cáo:  một số vấn đề về văn bản TC Hán Nôm số 4/ 2002.
b. Bình Ngô đại cáo: vấn đề dịch giả và dịch bản TC Hán Nôm số 5/ 2002.
(2). Từ đây gọi tắt là Toàn thư.
(3). Năm 1919 trong Việt Nam sử lược trước bản dịch Trần Trọng Kim cho in nguyên văn chữ Hán BNĐC và giới thiệu: ”Tờ BNĐC này... theo nguyên văn ở trong tập Hoàng Việt văn tuyển...”(tr. 204). Khi in lại bản dịch của ông Trần vào Quốc văn cụ thể (Tân Việt Nam thư xã) năm 1932 Bùi Kỉ nhắc lại lời ông Trần: “Bài này dịch theo bài chữ nho ở bộ Hoàng Việt văn tuyển.”(tr.96). Đọc lời ghi chú đó Dương Quảng Hàm lại ngỡ Bùi Kỉ bảo mình dịch nên lúc tuyển BNĐC vào Việt Nam văn học sử yếu năm 1943 Dương Quảng Hàm chua: “Bùi Kỉ dịch Quốc văn cụ thể Tân Việt Nam thư xã Hà Nội”(tr.262). Từ đấy mọi người đều ghi theo lời chua của ông Dương.
(4). Trong bài này chúng tôi chưa đề cập tới sách Giáo khoa thí điểm.
(5). Văn học 10 sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000 tập một GD tr. 117.
(6). Văn học 9 tập một tái bản lần thứ 11 GD   2001 tr. 21.
(7). Kinh Thư Trung tâm học liệu in lần thứ hai SG 1973 tr. 217.
(8). Thượng Thư Văn Học HN 2001 tr. 112.
(9). Bùi Huy Bích: Hoàng Việt văn tuyển Hi Văn Đường Minh Mệnh 6(1825). Tồn Am gia tàng bản.
(10). Hán ngữ đại từ điển tập 2 Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã Thượng Hải in lần thứ 3 1988 tr. 1388.
(11). Hán ngữ đại từ điển tập 2 sđd tr. 1388.
(12). Soạn giả Văn học 10 viết: “Có hai cách hiểu chữ Ngô: các vua nhà Minh quê ở đất Ngô; đời Ngô (thời Tam Quốc) bọn người sang cai trị nước ta đều rất tàn ác từ đó dân ta gọi người phương Bắc là người Ngô với ý khinh ghét”. Sđd tr. 124.
(13). Hào Châu[濠Ú州{] thuộc đất Ngô thời Xuân Thu bao gồm các huyện An Huy Hoài Viễn Định Viễn Phượng Dương Gia Sơn ngày nay; lị sở là Chung Li thuộc đất phía đông Phượng Dương.
(14). Văn học 10 Sđd tr. 126.
(15). Hoàng Việt văn tuyển Sđd; ĐVSKTT KHXH tập IV 1993 tờ 51 a – b.
(16). Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược quyển Thượng HN in lần thứ hai 1928 tr. 212.
(17). Bùi Kỉ: Quốc văn cụ thể Tân việt nam thư xã HN 1932 tr. 100.
(18). Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu Nha học chính Đông Pháp HN 1943 tr. 261.
(19). Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập II Văn Hóa HN 1962 tr. 257.  Từ đây gọi tắt là Hợp tuyển.
.(20). Hợp tuyển tập II Sđd tr. 260.
(21). Kinh Thư Sđd tr. 215. Trong bản này Thẩm Quỳnh dịch “huyết lưu phiêu chử” là “Máu người chảy trôi cả cái chày giã gạo”.
(22). ). Hán ngữ đại từ điển tập 4 Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã Thượng Hải in lần thứ tư 1994 tr. 855.


 

More...

THANH THẢO VỚI TRƯỜNG CA- TS Chu Văn Sơn

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

THANH THẢO VỚI TRƯỜNG CA

 CHU VĂN SƠN

 Kẻ viết giống như người đi đường mà mỗi bước đi lại vung vãi tác phẩm của mình cho đời. Đến cuối đường ai cũng cố lượm lặt những gì viết ra tỉ mẩn sắp lại mong có tấm có món để đời. Số đông chỉ được mớ hẩu lốn đỡ hơn thì được mẹt hàng xén. Dạng này khó thành tác giả (dù có thể có thẻ hội viên). Số còn lại cực ít. Cái họ tung ra như những miểng vụn bừa bộn đôi khi văng rất xa nhau nhưng xem kĩ mỗi miểng kia lại là một mảnh ghép của một bức tranh toàn vẹn. Chỉ dạng ấy mới thực là tác giả. Trường hợp lớn thì họ đã là tác giả ngay từ miếng ghép đầu tiên.

Điều gì khiến những sáng tác rời rạc rải rác bề bộn kết thành một bức tranh duy nhất những mảnh vỡ gắn thành nhất thể ? Kẻ viết nào mới là tác giả ?

Mượn cách nói của Chế Lan Viên: kẻ ấy phải có cái lõi trầm trong ruột. Khi trong ruột đã có lõi trầm thì mỗi cái được viết ra dù rất không đâu rất xa nhau cũng đều là một làn hương từ một thứ trầm duy nhất đó.

Lõi trầm ấy còn có thể là gì khác hơn một tư tưởng nhân văn riêng? Mỗi tác giả chân chính xuất hiện là sự cất tiếng của một tư tưởng nhân văn thực sự nào đó. Không có điều này anh chỉ là kẻ a dua là bản sao là cái bóng của ai đó mà không tự biết cái viết ra sẽ chỉ là những vay mượn vá víu không tự biết (dù có thể rất hồn nhiên)

Phần cốt lõi nhất của tư tưởng nghệ sĩ là gì nếu không phải là những quan niệm riêng ? Quan niệm nào vậy ? – Quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ. Nếu quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi về hạnh phúc thì quan niệm thẩm mỹ trả lời câu hỏi về cái đẹp. Cả hai tìm thấy nhau trong cùng một băn khoăn chung: thế nào là giá trị người giá trị sống. Mỗi nghệ sĩ chân chính phải là một niềm băn khoăn một câu trả lời. Tất nhiên bằng sáng tác của mình. Băn khoăn ấy là cái lõi trầm trong ruột người nghệ sĩ. Dù có thể anh ta không ý thức rõ về nó dù có khi bất lực trước nó. Kẻ viết có thành tác giả hay không lớn hay bé phụ thuộc vào điều anh có hay không mối băn khoăn ấy và tầm cỡ nó thế nào.

Trong thế hệ mình Thanh Thảo thuộc số ít người viết đã có băn khoăn như thế ngay từ sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi ?

Hạnh phúc nào cho anh ?

Hạnh phúc nào cho chúng ta ?

Hạnh phúc nào cho đất nước?

Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được.

                                 (Thử nói về hạnh phúc)

Đó cũng là những câu hỏi đeo bám suốt đời thơ Thanh Thảo. Cho đến tận sáng tác gần đây nhất trường ca Metro sau 40 năm lăn lộn trường văn trận bút câu hỏi ấy đâu đã chịu buông tha anh: “nhưng hạnh phúc là gì?” ”không ai đủ sức trả lời / dù còn cả cuộc đời trước mặt”. Cũng đeo bám như thế là băn khoăn khôn cầm về cái đẹp. Lúc này: “Cái đẹp là sự thật” lúc kia: “Nhìn cái đẹp hiện diện thơ linh cảm cái đẹp sẽ hiện diện” chỗ khác:“Cảm giác về cái đẹp thường gắn liền với cảm giác nuối tiếc nó hướng ta nhìn lại cái đã qua bằng cái nhìn sâu xa hơn” (Khối vuông rubich) v.v… Cả hai là những băn khoăn song sinh song hành. Chúng thường nhập làm một trong niềm băn khoăn về giá trị sống giá trị người:“Mong một ngày hiện rõ / chất thật mỗi con người” “phải trả giá cho mỗi phẩm chất người / dù rất nhỏ” (Đêm trên cát)... Toàn bộ sáng tác Thanh Thảo xét đến cùng mượn cách hình dung của chính anh cũng là một khối rubích mà mỗi tiếng thơ tựa một ô màu tất cả những ô màu ngỡ rất hỗn loạn kì thực lại xoay quanh một cái trục bí mật duy nhất là mối băn khoăn ấy thôi.

Vỡ lẽ của Thanh Thảo cho mối băn khoăn ấy là gì? Cất công tìm kiếm người đọc sẽ thấy ẩn trong thế giới nghệ thuật phong phú của anh hai chìa khóa: lấp lánh lặng lẽ. Chơi chữ chăng? giật gân chăng? Không. Lặng lẽ tỏa sáng lặng lẽ làm người đó là cái đẹp và hạnh phúc đó là giá trị sống giá trị người theo quan niệm Thanh Thảo. Trong cái thế giới ồn ào đầy rẫy những bạo tàn phàm tục giả trá này cái đẹp thuộc về sự lặng lẽ. Những tinh thể quí giá thường kết tinh trong lặng lẽ. Những phẩm giá cao quí thường lấp lánh trong lặng lẽ. Vẻ đẹp cứ lặng lẽ làm chính nó. Con người cứ lặng lẽ là mình. Không màu mè không ồn ào không phô phang không diễn. Không được ai biết đến không cần ai biết đến. Hiện diện thế là đẹp được sống như thế là hạnh phúc. Lặng lẽ tỏa sáng là vẻ đẹp thiên nhiên lặng lẽ làm người là vẻ đẹp nhân cách cuốn hút hồn thơ Thanh Thảo. Chẳng phải thế sao ? Ai đọc cũng có thể thấy vô vàn những hình sắc khi thì bất ngờ hực sáng lấp lóa lấp loáng khi thì long lanh lóng lánh lấp lánh trong cỏ cây sông nước biển núi mây rừng của thế giới thi ảnh Thanh Thảo dù ở thời trận mạc hay thời bình dù trong quá khứ lịch sử hay trong cuộc sống đương thời (“Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh“Mỗi chúng ta là giọt nước / Uống đất bùn và mặt trời long lanh” Cây ngời sáng long lanh như hồi chuông” “Chim sẻ ơi từ đâu đến đậu ban công nhà ta lung linh như giọt nước” “Lem luốc niềm vui lóng lánh vẩy cá”…). Ai đọc cũng sẽ thấy những vẻ đẹp người mà Thanh Thảo cả đời say mê khám phá như lòng nhân hậu đức hi sinh đặc biệt là tính can đảm trung thực nghĩa khí của thế giới nhân vật trên mọi chặng thơ anh dù của những người lính hay người mẹ nghệ sĩ hay nghĩa sĩ nhà thơ hay trẻ thơ… bao giờ cũng hiện ra trong lặng lẽ (“Màu đỏ thật không ồn ào / máu lặng lẽ ướt đầm ngực áo” “Nhìn mắt bạn thấy bóng mình lẳng lặng / mối hận bỗng trào lên cuộn xoáy con thuyền” “Từ cơn ho của mẹ một mình khuya khoắt”…). Mỗi vẻ thiên nhiên ấy khác nào một giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng/ ! Mỗi chất người ấy khác nào một đạo hào quang ấp ủ trong cõi sâu lặng lẽ của con người ! Lấp lánh mà lặng lẽ lặng lẽ mà lấp lánh là giá trị cũng là hạnh phúc vì thế nó là vẻ đẹp thơ suốt đời Thanh Thảo. Ngay từ sáng tác đầu tay nó đã đến với anh. Và anh sẽ cứ tìm kiếm nó tôn vinh nó suốt cả đời thơ mình. Bởi thế đó chẳng phải là cái trục bí mật của khối rubích thơ anh sao ? đó chẳng phải cái lõi trầm trong hồn thơ anh sao?

                                       *

Lõi trầm trong hồn thi sĩ chắc chắn sẽ nhạt hương nếu thiếu đi thành phần này: quan niệm riêng về thơ. Quan niệm thơ quan niệm nhân sinh quan niệm thẩm mĩ của chính kẻ viết bao giờ cũng đồng hành và chuyển hóa lẫn nhau để cùng làm nên cái lõi trầm bí mật của đời thơ tác giả. Có thể xem đó là tam vị nhất thể của một quan niệm nghệ thuật toàn vẹn ở một kẻ viết chân chính.

Trong thơ kẻ viết nào chỉ chờ chờ chộp từng ý tưởng lượm từng thi tứ vớt từng cảm xúc rồi dùng chút kĩ nghệ nào đó chế ra bài nọ bài kia kiểu ăn đong ăn may chắc chắn không thể đi đường dài. Kẻ đi đường trường tựa như cây lớn ít bận tâm ở cành nhánh mà chăm lo nhiều cho gốc rễ. Ngay từ rất sớm Thanh Thảo đã xem cái gốc của thơ chính là nhân cách thơ. Thơ là sự cất tiếng của nhân cách nhà thơ đó là xác tín của thi sĩ này. Có nhân cách thơ tất sẽ ra thơ có gốc tất sẽ đâm cành. Khi nhân cách nhà thơ lên tiếng đó đã là thơ rồi. Quan niệm này được anh phát biểu ngay từ đầu những năm 80 thế kỉ trước: “Thơ bắt đầu từ đâu ? Từ ý tưởng thực tế từ cái nhìn hay cảm xúc? Theo tôi thơ phải bắt đầu từ chính nhân cách của nhà thơ nó là xương sống của cả đời thơ. Sau đó tới tài năng và lao động. Dĩ nhiên chỉ có nhân cách không đủ thành thơ cũng như chỉ có xương sống chưa đủ thành người. Nhưng sẽ ra sao nếu con người thiếu xương sống ? Đối với nhà thơ nhân cách vừa là tiền đề vừa là kết quả của tài năng và lao động. Có một quan hệ biện chứng giữa những điều này(…) Thơ kín đáo ngay ở chỗ nhà thơ khi viết buộc phải phơi trần tâm hồn mình trên trang giấy ở chỗ nhà thơ không còn nơi trú ẩn nào khác cho nhân cách của mình ngoài bộc lộ nó thành tâm[1]. Đây chưa chắc là quan niệm độc đáo song chắc chắn là quan niệm đúng đắn. Đáng nói hơn nó giúp ta lí giải được nhờ đâu thi sĩ có thể đi đường dài với thơ. Khi xem nhân cách thơ vừa là tiền đề vừa là kết quả của tài năng và lao động đồng thời thấy rõ có một quan hệ biện chứng giữa những điều này Thanh Thảo không chỉ đem đến một cách hiểu riêng về nhân cách thơ mà còn hé mở một mong cầu: người thơ thứ thiệt phải sống thơ trước khi làm thơ. Đời sống hàng ngày của một nhân cách như thế tự nó đã là sự chưng cất sự kết tinh thơ rồi. Coi gốc của thơ là nhân cách thì trữ lượng thơ của một hồn thơ xem như đồng nhất với số phận người thơ. Chừng nào còn sống thơ chừng ấy còn nguồn thơ. Phải có một nguồn thơ như thế mới có thể đi đường dài mới có thể trường kì với thơ ca.

Quan niệm về gốc của thơ thường nhất quán với quan niệm về sản phẩm thơ. Coi trọng việc sống thơ Thanh Thảo cho rằng thơ là dòng sống thực của cá thể từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Một nhà thơ có nhân cách chỉ cần nắm bắt và thể hiện được những dòng sống thực đó của mình bản thân nó đã là thơ. Dù từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia có thể rất bất chợt bất định có vẻ hỗn loạn nhưng mỗi khoảnh khắc ấy lại bật lên từ một gốc chung xoay quanh một trục chung là nhân cách người thơ. Do đó đời sống thực của một nhân cách thơ cũng có cấu trúc tựa hồ rubich. Chỉ cần thành thực phơi trải tự nó đã là thơ thứ thiệt thơ quí. Bởi nó là dạng thơ khước từ mọi trang sức thỏn mỏn thường tình. Và Thanh Thảo đã bình tĩnh đem đến cho thi đàn thứ thơ như thế. Người ta đã nhận thấy thơ anh là những dòng sống thực của chính tâm hồn anh. Một dòng sống đầy những đứt nối bất chợt rất gần với quan niệm của các nhà siêu thực: “âm thanh vỡ vụn mảnh gương lấp lánh trong khuya / nước mắt nhà thơ độc hành / những vệt sao thấm nhanh vào cát/ cát vang khô khốc” “hãy kêu tới đáy lòng Cao Bá Quát / bàn tay nhà thơ nắm chặt dòng sông / vung thành gươm trên cát bỏng” “họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu / họ để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ” “những cây bàng chợt rùng mình cảm thấy / một khung trời gãy gập của mùa đông” ”những con cá bơi cả vào giấc ngủ / những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười” “trên khuôn mặt cày sâu những nếp nhăn nghèo đói / ta gặp lại niềm vui trong trẻo của nước mưa” … Nhưng vẻ “siêu thực” nọ không hẳn xuất phát từ lí thuyết mà có lẽ từ sự trải nghiệm thơ của bản thân anh nhiều hơn. Những vẻ đẹp sáng của thiên nhiên của con người cứ lấp lánh trong âm thầm long lanh trong lặng lẽ rồi bất chợt bừng lên vào khoảnh khắc nào đó từng khoảnh khắc như thế cứ dệt nên dòng sống thực của hồn thơ dệt nên mỗi bài thơ Thanh Thảo.

                                      *

Một hồn thơ như Thanh Thảo không thể không bén duyên với trường ca. Bởi dòng sống thế kia chỉ thực sự thoải mái khi thả sức trong một hình thức phóng khoáng với một cấu trúc luôn mở thôi. Mà trường ca chính là một thể đầy hứa hẹn cho hình thức ấy cấu trúc ấy. Quan niệm và nhân cách thơ của Thanh Thảo đã giúp anh thoải mái marathon với trường ca mặc sức "đi tới biển" cùng trường ca.

Về thể loại sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX đến giờ. Người ta đã đưa ra nhiều cách định nghĩa định danh khác nhau. Người sính dùng những lí thuyết tít từ thời Heghen để áp vào hôm nay. Người bận tâm phân định nó với những anh hùng ca và sử thi thời cổ. Người loay hoay khu biệt nó với thơ dài truyện thơ khúc ngâm. Gặp gỡ có bất đồng có. Thái độ với trường ca cũng vậy: lắm người hoài nghi khối người hài lòng không hiếm người nghiện. Song bất chấp những phân hóa chia rẽ trường ca vẫn cứ trường ca cả trong nước lẫn ngoài nước. Từ quan sát của mình tôi thấy khi thơ trữ tình muốn trình bày suy cảm về những vận động lớn lao thậm chí kì vĩ của đời sống bằng một hình thức lớn khi ấy trường ca xuất hiện. Nói gọn hơn khi thơ trữ tình muốn chiếm lĩnh thực tại ở cấp độ cái kì vĩ thì trường ca bắt đầu lên tiếng. Các trường ca hiện đại của ta manh nha từ thời Thơ Mới lác đác trong cuộc chống Pháp rộ lên suốt thời chống Mỹ và bội thu sau chống Mỹ chẳng phải là một bằng chứng sinh động hay sao?

Không phải thi sĩ nào cũng có thể là tác giả trường ca. Không ít người định dấn thân vào thể này sau đã bỏ cuộc. Người thì đã lên những đề cương tỉ mỉ cho các bản đại trường ca cuối cùng đề cương hoen rỉ trong ngăn kéo. Người thì gắng kẽo kẹt cho hết một bản rồi cạch đến già. Sự ấy cũng thường tình. Trong điền kinh cùng môn chạy thôi có người vô địch cự li ngắn nhưng chìm nghỉm khi marathon. Trong trận mạc có người giỏi đoản binh mà bí trường trận. Có tạng thơ chỉ sở trường ở những thể vừa vừa trung trung. Có tạng chỉ thực là nó ở những thể nhỏ nhỏ xinh xinh. Hễ họ bén mảng sang thể lớn là lập tức hẫng chân cụt hơi. Ấy cũng là thường.

Do mấu chốt của trường ca là ở chữ “trường” nên một tác giả trường ca theo tôi ít nhất phải có đủ “tam trường”: trường vốn trường lực và trường hơi. Vốn trải nghiệm vốn tri thức vốn nhân văn phải dồi dào; năng lực sáng tạo hình thức trong ngôn ngữ phải sung mãn; và phải nuôi được cảm hứng cảm xúc thật bền không đuối không hụt không cụt. “Tam trường” đó phải hiện ra thành kiểu tư duy trường ca. Không phải ai cũng có tư duy này! Người có tư duy trường ca thường phải xử lí thật biến hóa mối tương tác giữa những cặp đối cực sống còn này: cái bi - cái hùng cái kì ảo - cái hiện thực cái kì vĩ - cái đời thường chính sử - huyền sử tính tượng trưng - tính tả thực tính hồn nhiên - tính tổ chức cao cả đường bay - từng nhịp vỗ cánh… Ở đây tay nghề rất quan trọng. Nhưng khối người sành sỏi mọi ngón nghề mà vẫn bại. Dường như hơn cả chuyện tay nghề là chuyện tạng thơ. Trong khi tạng thơ này vất vả đến bế tắc trước những đòi hỏi phản trái đó thì tạng thơ khác lại thoải mái tung hoành giữa những nguyên tắc gò bó khắt khe kia. Với họ trường ca cứ tuôn trào dễ dàng như thơ ngắn thậm chí còn dễ hơn thơ ngắn. Cứ thế họ thành tác giả trường ca thành cây trường ca. Tóm lại kẻ viết phải có gốc trường ca mới mong thành cây trường ca.

Thanh Thảo đã trường ca ngay từ cái đầu tay. Chẳng phải thế sao? “Thử nói về hạnh phúc” chào đời như một bài thơ ngắn nhưng nó đã tràn đầy hơi thở trường ca rồi. Những trải nghiệm chiến trường ác liệt bề bộn được soi chiếu chưng cất bằng một tầm nhân văn cao thể hiện trong những băn khoăn về hạnh phúc và giá trị người trước sự sống còn của đất nước được phơi trải trong một hình thức mở của thơ dài. Đó chẳng phải là những nhịp thở hào sảng của trường ca rồi sao ? Và chùm thơ kỉ lục gồm 13 bài được trình làng trên Tác phẩm mới cũng như tập “Dấu chân qua trảng cỏ” tập hợp những bài thơ ngắn về thực chất là những mảnh vỡ khác nhau của một bản trường ca. Có thể xem chúng như là những tiền thân phân thân khác nhau của trường ca “Những người đi tới biển” được viết sau đó. Nói vậy không phải cố vơ vào cho đầy một ôm mà chính bởi chúng mang một hơi thở chung một phong độ sáng tạo chung thuộc một kiểu tư duy chung với trường ca này và với cả những trường ca sau này của Thanh Thảo như “Những nghĩa sĩ Cần Giuộc” “Trẻ con ở Sơn Mỹ” “Bùng nổ của mùa xuân” “Khối vuông rubich” “Đêm trên cát” “Cỏ vẫn mọc”… và mới đây là “Metro”.

Tôi biết giới nghiên cứu đã chỉ ra nhiều đặc sắc của thơ Thanh Thảo. Đã có không ít luận văn cử nhân thạc sĩ luận án tiến sĩ ngữ văn đào sâu vào các bình diện khác nhau của trường ca Thanh Thảo như tư tưởng nhân dân chất tự sự và chất trữ tình yếu tố hiện thực và yếu tố triết luận hình tượng và biểu tượng giọng điệu và ngôn ngữ… Bản thân tôi cũng đã viết và hướng dẫn dăm ba cái về cả thơ ngắn lẫn trường ca mà điểm nhấn là chất nghĩ hệ thống biểu tượng tính phức điệu như một thứ đặc sản Thanh Thảo trong các trường ca đó. Nhưng đọc Thanh Thảo lần nào cũng vậy cái khiến tôi lạ nhất vẫn là việc xử lí cặp đối cực này trong tư duy của anh: tính hồn nhiên và tính tổ chức cao. Trong sáng tạo hai gã này chúa là xung khắc nhau thậm chí vật lộn nhau. Liệu có gây cọc cạch mâu thuẫn gì không nhỉ ?

Rõ ràng một mặt Thanh Thảo xem thơ là dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc nghĩa là đề cao tính hồn nhiên gần như tuyệt đối của thơ. Mặt khác anh lại được biết đến như một nhà cách tân hình thức không ngừng săn tìm những cấu trúc mới cho mỗi bản trường ca. Nghĩa là liên tục tìm tòi ứng dụng và phát kiến những hình thái tổ chức tân kì cho thể loại trong đó có cả những dạng tổ chức rất phức tạp rất gò bó. Thật trái khoáy. Vậy mà vẫn đâu vào đấy. Lạ.

Có lẽ trong các tay bút duyên nợ với thể loại đồ sộ này Thanh Thảo là người coi trọng và dấn thân vào cấu trúc nhiều hơn cả thành hơn cả. Khước từ những hình thái tổ chức quen thuộc của trường ca như kéo dài thơ ngắn ra thành trường thi gia tăng sử kiện để thành sử ca bám riết vào tự sự để thành truyện thơ mượn hơi khan để thành khan đời mới nương theo sân khấu để thành hoạt cảnh thơ kết những thi khúc rời thành tổ khúc thơ nối các trường đoạn thành liên khúc thơ pha trộn các thể mà thành dạng trường thiên hỗn thể v.v… Thanh Thảo đã bứt hẳn sang những địa hạt khác để nhập về những hình thái thật phá cách như giao hưởng (Những người đi tới biển Bùng nổ của mùa xuân Trẻ con ở Sơn Mỹ Đêm trên cát… mỗi trường ca như một giao hưởng thơ) rubích (Khối vuông rubích là một dạng ru bích trường ca) điện ảnh (Cỏ vẫn mọc là trường ca trong hình hài một kịch bản phim tài liệu nghệ thuật) kịch (Trò chuyện với nhân vật của mình tựa vở kịch một nhân vật thực đối thoại vòng tròn với cả loạt nhân vật ảo) gần đây còn tìm sang cả… metro (Metro là trường ca với cấu trúc song tuyến trái chiều). Toàn những cấu trúc lạ hoắc và kì khu. Cứ y như một lối “chơi” sáng tạo “chơi” cấu trúc. Vậy mà đọc vẫn vào. Người đọc vừa bị cuốn theo dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của mạch thơ vừa có khoái thú vì đang được dạo trong những công trình kiến trúc lạ được thưởng ngoạn những dạng cấu trúc tân kì. Nhờ đâu mà những phản trái lại hòa hợp được vậy ? Nhạc trưởng Thanh Thảo đã dùng chiếc đũa chỉ huy nào? Tôi nghĩ rằng chiếc đũa ấy chẳng thể là gì khác hơn một năng lực mạnh mẽ ở anh: năng lực phát giác sự hài hòa giữa cái hỗn loạn và cái trật tự.

Tìm kiếm trật tự cho cái hỗn loạn dường như là sở trường lớn của hồn thơ này. Trước hết là trong tư tưởng. Thơ Thanh Thảo nhất là chất thơ của sự lặng lẽ chẳng phải là vẻ đẹp của cái trật tự muôn đời giữa sự hỗn loạn đó sao? Chẳng phải toàn bộ thơ anh nhìn từ mỹ học chính là mong cầu khôn nguôi về một trật tự nhân văn trước cái loạn của thời chiến và cả cái loạn của thời bình nữa đó sao? Mong cầu ấy cũng là một cái trục bí mật của khối rubich thơ Thanh Thảo vậy.

Nhưng thôi. Hãy trở lại với chuyện hỗn loạn-trật tự riêng trong hình thức. Dòng sống thực vốn đầy những bất định bất chợt ngẫu nhiên ngẫu hứng ngẫu cảm… là hỗn loạn. Còn những hình thái cấu trúc lại là các dạng trật tự. Phóng túng trong trật tự trật tự mà phóng túng. Chúng hòa hợp bằng cách nào? Giải pháp của Thanh Thảo: dòng sống thực luôn phải là hơi thở tràn trề trong sinh thể trường ca còn trật tự vừa là bộ khung sườn ẩn vừa là những đường viền linh hoạt. Dòng sống thực (cảm xúc ý tưởng thi ảnh…) thì vẫn phóng túng hồn nhiên còn tổ chức vĩ mô (cấu trúc hình tượng cấu trúc chương khúc hệ thống chủ đề…) thì tuân thủ trật tự. Dường như đó cũng là dạng tổ chức phổ biến trong nhiều hình thức của sự sống thì phải ? Hẳn có người sẽ nghi ngờ về tính tự nhiên chân cảm trong lối viết như vậy. Họ cho rằng cấu trúc gò bó thế dễ giết chết chân cảm hồn nhiên và “chơi” cấu trúc thế liệu thơ có còn nghiêm túc? Họ quên rằng nghệ thuật nghiêm túc nhất cũng ít nhiều mang tính trò chơi. Lí thuyết hiện đại chẳng nói vậy sao! Họ cũng quên rằng trong âm nhạc chẳng hạn còn gì gò bó hơn cấu trúc chặt chẽ của một bản giao hưởng ? Nhưng mỗi giao hưởng tuyệt tác vẫn cứ là dòng chảy tràn trề hồn nhiên của cảm xúc âm nhạc đó thôi. Hồn nhiên mà có tổ chức phóng túng mà chặt chẽ hỗn loạn mà trật tự đó là thách thức muôn thuở của việc sáng tạo cái đẹp. Dường như nghệ thuật chính là việc đi trên những lằn ranh mỏng manh giữa những điều phản trái đó ? Và tài năng chính là người xác lập được sự hòa hợp sống động cho những đối cực đó. Khỏi nói những bản trường ca thành công đã được ghi nhận và nghiên cứu nhiều của anh. Chỉ nói riêng cái vừa ráo mực chưa lâu và mang một dáng dấp hơi hậu hiện đại là “Metro”. Nghĩa lí nào trong cấu trúc này ?  Metro là con tàu chạy ngầm trong lòng đất. Nội điều đó đã có ý nghĩa khi trường ca nói về cái tâm thức Trường Sơn vẫn ngầm chảy trong lòng cuộc sống bề bộn hỗn tạp này rồi. Tuy nhiên cái đáng nói là con tàu này có thể và luôn chạy được cả hai chiều trái nhau. Chính tính trái nhau này đã hấp dẫn nhà cách tân. Bằng sự nhạy cảm của một thi sĩ săn lùng cấu trúc cho thơ Thanh Thảo đã mượn nó để tổ chức nên trường ca “Metro” với hai dòng chảy trái chiều trong nội dung: dòng chảy tới của thời gian và dòng chảy ngược của kí ức. Đúng hơn là có hai dòng thời gian: thời gian sống (với tâm tư thuộc quá khứ qua những chặng đời một người lính Trường Sơn) và thời gian viết (với văn bản thuộc hiện tại qua từng cột mốc thời gian trong tiêu đề mỗi cột mốc gợi một nhà ga mà chiếc metro của thơ cứ liên tục băng qua). Cả hai song hành và chuyển hóa trong dòng sống thực từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc của tâm tư một thi sĩ đang trầm mình trong những kỉ niệm Trường Sơn với những trăn trở về hạnh phúc băn khoăn về giá trị sống qua việc duyệt lại những cái được cái mất của dân tộc của thế hệ và của cá nhân mình trong và sau cuộc chiến. Cấu trúc song tuyến trái chiều đó đã liên kết các mảng tâm tư tản mạn bất chợt thành một mạch liền. Vì thế phức điệu mà rành rẽ tán lạc mà mạch lạc ngẫu hứng phóng tay mà vẫn theo điệu theo bè. Đấy chính là một hấp dẫn không nhỏ của bản trường ca này.

Nghĩ cho cùng tổ chức cao mà hồn nhiên hỗn loạn mà trật tự kiểu hấp dẫn mang thương hiệu Thanh Thảo đó đâu chỉ ở trường ca này và đâu chỉ riêng ở trường ca !

                                                  *

Người đọc đã “phong vương” cho nhiều cây bút xứng đáng. Đã có Xuân Diệu vua Thơ Mới Vũ Trọng Phụng vua phóng sự Nguyễn Tuân vua tùy bút Thạch Lam vua truyện ngắn trữ tình v.v… Ở triều đại sau bên cạnh những “vì vua” khác như Nguyễn Duy vua lục bát Nguyễn Huy Thiệp vua truyện ngắn Lưu Quang Vũ vua kịch nói vv… cũng có thể gọi Thanh Thảo là vua trường ca chứ sao ! Việc “phong” một ai đó đâu chỉ bằng vào người ấy chuyên chú hay viết được nhiều mà quan trọng hơn là ở thành tựu thuộc về hàng đầu với những cách tân không thể phủ nhận của họ.

Ném mình vào thể này mấy chục năm trời bền bỉ quyết liệt đến nay gia tài trường ca Thanh Thảo tính chi li phải vượt con số chục bản bản nào cũng gây ấn tượng. Con số ấy ở một thể loại như trường ca là chưa đồ sộ sao ? là chưa đủ bảo hành cho vị thế của kẻ viết sao ? Anh chỉ tuyển vào đây chín trường ca ưng ý nhất. Có lẽ thế là đẹp. Đấy có phải là chín nhánh cửu long cùng ra tới biển của một con sông trường ca không ? Có phải là chín bậc thang anh đã lần lượt bước qua để lên đài không ? Có phải là chín chiếc đỉnh bày trên sân chầu của nghiệp thơ anh không ? Mọi ẩn dụ có thể tới cũng có thể không. Nhưng có điều chắc: đó là chín thi phẩm đầy tâm huyết của một đời sáng tạo mà đứa con thi sĩ đã chọn ra như biện một mâm lễ vật thành kính dâng lên Thầy Má mình Nhân Dân mình. Lời đề đầu tuyển tập đã nói cùng ta điều đó.

Cách làm tuyển thế xui tôi nghĩ tới chàng Lang Liêu xưa.

                                                 Văn Chỉ - Làng quốc tế Thăng Long

                                                                  Mùa Hè Kỉ Sửu

More...

NỖI ÁM ẢNH KHÔNG GIAN TRONG BÀI THƠ “TRÀNG GIANG” CỦA HUY CẬN

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

NGUYỄN THANH TUẤN 

       Năm 1940 tập thơ “Lửa thiêng” của Huy Cận xuất hiện như một mảnh hồn đầy ảo não giữa trời thơ mới đang đi dần vào bế tắc. Điều được quan tâm nhất là trong hồn thơ ảo não ấy Huy Cận vẫn giữ được nét trong trẻo lạ thường. Ngay từ khi mới “trình làng” tập thơ đã tạo được ấn tượng mạnh và thu hút mọi sự chú ý khiến người ta phải thốt lên rằng: “Huy Cận là nhà thơ của nỗi khắc khoải không gian”. Riêng đối với bài thơ “Tràng giang” thì không gian đã trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng lạ thường.

      Nỗi buồn là mảnh hồn của tác giả được thả xuống dòng sông mênh mang vô định trôi nổi bồng bềnh rồi tan chảy suốt dọc bài thơ. Khổ thơ đầu mở ra một không gian lạ với những cảnh vật còn lạ thường hơn: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Dòng sông quê hương gắn bó thân thương muôn đời là thi tứ cho biết bao nhà thơ say đắm: “Anh ở biên cương/ Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt/ Ở nơi đây mùa này con nước/ Lắng phù sa in bóng đôi bờ” (Gửi em ở cuối sông Hồng – Dương Soái). “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước sông xanh soi bóng những hàng tre” (Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh). Dòng sông trong thơ Dương Soái và Tế Hanh gần gũi cụ thể như bao dòng sông tuổi thơ ta tắm mát. Ngược lại dòng sông trong thơ Huy Cận lại dị thường biết bao dị thường ở chỗ nó như muốn vượt ra muốn phá bỏ hoàn toàn những cái quen thuộc cái cụ thể để vươn tới cái vô cùng và vĩnh cửu. Bằng các cặp từ gây ấn tượng mạnh: “tràng giang” “điệp điệp” “song song” “mấy dòng” khiến cho dòng sông của Huy Cận không phải là một dòng sông bình thường mà là dòng sông vũ trụ mênh mông.

       Khi đánh giá thơ ông Xuân Diệu nói rất tình: “Thơ Huy Cận không gắn đến cái hằng ngày cái trước mắt mà là cái ngàn năm”. Đây là một quan niệm nhân sinh mới mẻ thể hiện sự vụt tỉnh của ý thức cá nhân thôi thúc Huy Cận sáng tạo nên một hình ảnh tương phản thể hiện rõ cảm quan buốt nhói về thời gian ngay trên chính dòng sông “Tràng giang”. Lọt thỏm giữa dòng sông vũ trụ mênh mông vô định là những hình ảnh lẻ mọn nhỏ nhoi khiến cho không gian trở nên thật khác lạ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Câu thơ dung chứa cả hai đợt sóng sóng nước và sóng lòng. Đây là con sóng đa tầng nghĩa khiến cho dòng sông cựa mình biến thành một thực thể vô thường. Nhạc sóng và nhạc lòng không gian vũ trụ và không gian tâm tưởng hoà quện vào nhau tạo thành thứ sắc màu tâm lý màu buồn đổ bóng lên vạn vật: “Con thuyền xuôi mái nước song song”. Hai chữ “xuôi mái” đầy bất lực và phó mặc tất cả mọi quyền lực được trao trọn cho số phận cho sự chiếm lĩnh của không gian và thời gian.

       Tê  tái nhất vẫn là hình ảnh “Củi một cành khô  lạc mấy dòng”. Đây là câu thơ cô đơn nhất xót xa nhất trong bài thơ. Câu thơ bảy chữ vỡ vụn thành sáu mảnh đầy nhói buốt: “Củi - một - cành - khô - lạc - mấy dòng”. “Củi” là trạng thái chết chóc của cô đơn vì cô đơn vốn là cội nguồn của cái chết. Xưa nay không ai chết vì buồn nhưng lại chết vì cô đơn. “Một” là số từ gợi sự lẻ loi đơn độc bởi cô đơn thường là một mình (Đôi khi nỗi cô đơn khủng khiếp đến mức đang tắm mình trong đám đông mà vẫn cô đơn). “Cành” là cái nhỏ nhoi yếu ớt gợi thân phận của kiếp người. “Khô” là trạng thái cằn cỗi thiếu sức sống “lạc” là sự trôi dạt bơ vơ. “Mấy dòng” là cái mênh mông vô định của không gian cũng là sự lạc loài bơ vơ của cảm xúc. Câu thơ trải qua một cuộc hành trình từ kiếp củi đến kiếp người. Đó là hành trình đầy cô đơn tuyệt vọng của con người nhỏ nhoi yếu ớt bị lọt thỏm giữa vũ trụ mênh mông rợn ngợp. Trạng thái khô héo cô đơn và chết chóc ngay trong sự sống mới càng trở nên buốt nhói hơn vì nước là sự sống là cội nguồi của sự sống được bắt đầu từ những hạt Coasepva. Một quan niệm nhân sinh hiện đại sự tự ý thức về nỗi cô đơn được hình thành trên cơ sở của sự thức tỉnh ý thức cá nhân mạnh mẽ mà trước đó chưa từng có.

       Lơ  thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Không gian thơ càng trở nên rợn ngợp và ám ảnh hơn khi tứ thơ đột ngột được nhấc bổng lên để toả ra đôi bờ và phía “cồn nhỏ” “làng xa” gợi cảm giác về vũ trụ quá rộng nhưng rỗng và lạnh. Huy Cận diễn tả không gian 3D bằng hai câu thơ đầy tài hoa: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Không gian trong thơ cổ thường bị đập bẹp với hai chiều cao-thấp. Huy Cận cũng làm như vậy nhưng khi diễn tả chiều rộng ông bổ sung thêm chiều sâu “sâu trót vót” khiến không gian được dựng dậy mở rộng về tứ phía tạo không gian hình lập phương ba chiều hiện đại đầy ám ảnh. Huy Cận còn khéo léo tạo ra nỗi ám ảnh dai dẳng cho người đọc bằng thủ pháp đối lập giữa hai khổ thơ. Nếu khổ thơ thứ nhất là sự nhói buốt bởi cái nhìn nhỏ nhoi và hữu hạn của kiếp người trong sự “vô thủy vô chung” của không gian thì khổ thơ thứ hai lại choáng váng trước cái thăm thẳm vô cùng của vũ trụ.

       “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Khổ thơ thứ ba này là cái rùng mình lạnh toát mồ hôi của sự đứt mối giao cảm. Vạn vật vỡ vụn đứt mối liên hệ dồn con người về phía cô đơn và ngột thở trong cái không gian ba chiều hun hút. Nỗi cô đơn của khổ thơ được diễn tả bằng hình ảnh cánh bèo truyền thống nhưng mang linh hồn hiện đại “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”. Câu thơ là sự ngân dài qua ba biến tấu từ kiếp “củi” đến kiếp “bèo” và cuối cùng là kiếp “người”. Đặc sắc nhất là chữ “dạt” đứng sau chữ “bèo” gợi sự chới với chơi vơi. Càng ấn tượng hơn nữa là hai chữ “không”: “không cầu” “không đò” như những nhát dao cắt đứt mọi mối liên hệ dù là mỏng manh nhất khiến thế giới thống nhất trở nên vỡ vụn vạn vật hoàn toàn bị cô lập. Đây là thủ pháp nghệ thuật dùng cái không để diễn đạt cái có Lấy cái “không cầu” “không đò” để diễn tả nỗi cô đơn đã chiếm lĩnh hết vị trí của ôxi trong cái không gian hình lập phương ba chiều ấy. Một đặc trưng nữa của thơ mới là cái buồn gắn với cái đẹp tác giả cũng tạo ra một câu thơ lấp lánh vẻ đẹp như dòng sông dưới ánh trăng nhưng hoang vắng và lặng lẽ như “cõi không người”: “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Hai chữ “bờ xanh” và “bãi vàng” khiến câu thơ đẹp như trong miền cổ tích ngày xưa hay từ lời ru đưa nôi nhưng hoang vắng lạ thường. Thực chất đây là thủ pháp dùng cái lặng lẽ ở bên ngoài để rồn tụ để lắng đọng những cái đang náo động đang nhảy múa toán loạn bên trong. Đó là nỗi khắc khoải nỗi khát khao của tâm hồn ham sống cho ra sống.

       “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa/ Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Khổ thơ cuối cùng là đỉnh điểm của cảm xúc là sự lắng tụ ý tưởng của bài thơ. Tác giả tạo ra hai hoàng hôn hoàng hôn của cảnh vật với sự đối lập của hai phạm trù không gian không gian của dáng chiều và không gian của cánh chim. Dáng chiều đẹp và hoành tráng với núi mây kỳ vĩ bao la cánh chim lại nhỏ nhoi yếu đuối nhưng chính cánh chim ấy mang một tầm vóc phi thường. Chỉ cần nghiêng cánh mà cả dáng chiều hấp hối đã đổ sập xuống. Đấy là thủ pháp cường điệu hoá dùng để diễn tả hữu hiệu nhất cái đẹp không bền vững cứ chới với chơi vơi… Đặt chúng trong pháp tư duy tổng thể ta thấy xuất hiện hoàng hôn lòng. Thông qua phút hoàng hôn chấp chới ấy tác giả muốn nhấn mạnh rằng: sự sống thì quá đỗi nhỏ nhoi cái cô đơn lại quá đỗi khổng lồ giữa không gian vô định.

       Hai câu thơ cuối cùng xuất hiện đầy bất ngờ vừa quen lại vừa lạ. Quen vì nó được gợi tứ  từ hai câu thơ cổ của nhà thơ Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Hoàng Hạc lâu). Lạ vì mãi cho đến hai câu cuối cùng mới thấy sự xuất hiện của con người mà lại là con người của cảm thức cá nhân mới mẻ. Thôi Hiệu phải nhìn thấy khói sóng phải có khói mới nhớ nhà còn Huy Cận thì “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nỗi nhớ như đầy ắp và luôn trào ra khỏi cái vực thẳm của tâm hồn cô đơn trước không gian ám ảnh. Đây không đơn thuần là nỗi nhớ nhà nhớ gia đình mà là nỗi nhớ quê hương nhớ đất nước ngay khi đang đứng chân trên chính quê hương đất nước đang tắm mình trong không gian của quê hương đất nước mình. Đây chính là nỗi buồn “vong quốc” của một thế hệ nhà thơ như tác giả vì quê hương đất nước không còn là của mình mà đã bị giặc chiếm.

       Bằng biện pháp sắp đặt các sự vật của vũ trụ  trong “mối quan hệ vô quan hệ” các thủ pháp nghệ thuật tu từ và tạo ra mối tương quan giữa các từ ngữ trong bài thơ “Tràng giang” Huy Cận đã đem đến cho người đọc nhiều khoái cảm thẩm mỹ mới lạ về không gian vũ trụ và con người với ý thức cá nhân bừng tỉnh mà trước đây chưa từng có. Đặc biệt hơn cả là tác giả đã nhẹ nhàng “đánh bẩy” người đọc vào nỗi ám ảnh không gian dai dẳng lạ thường. 

                                                                

More...

Vợ nhặt của Kim Lân nhìn từ tình huống truyện- Chu Văn Sơn (phần thực hành chuyên đề truyện ngắn)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

  Vợ nhặt của Kim Lân nhìn từ tình huống

1) Xác định tình huống truyện.

Câu hỏi của chúng ta :"Toàn bộ truyện ngắn Vợ nhặt xoay quanh sự kiện nào ? hay sự kiện nào đã bao trùm chi phối toàn bộ thiên truyện này ?". Sau khi lướt qua các tình tiết chính của thiên truyện này ta dễ dàng thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặtmột cuộc hôn nhân kì lạ. Và đó chính là cái "tình thế nảy ra truyện" cái tình huống của câu chuyện.

2. Phân tích tình huống truyện

2.1. Diện mạo của tình huống

Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ ít nhất vì ba lẽ. Một là sự đảo lộn về giá trị : Tràng - một gã trai nghèo khổ thô kệch lại là dân ngụ cư lâu nay ế vợ bỗng dưng "nhặt" được vợ mà lại là vợ theo không (khác nào từ "vô giá trị" bỗng thành …"vô giá" !). Hai là sự ngược đời : Tràng lấy vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ - giữa những ngày nạn đói đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người. Ba là nghịch lí : một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả (Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chương "Hạnh phúc của một tang gia" trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng có thể thấy ngay. Đám tang cụ Cố Tổ cực kì long trọng to tát thừa thãi mọi hình thức đồ lễ và nghi lễ. Chỉ thiếu duy nhất một thứ ấy là lòng xót thương dành cho người quá cố. Mà thiếu điều này thì xem như là thiếu tất cả. Còn cuộc hôn nhân này ? Thì thiếu tất cả. Kể cả những lễ nghi tối thiểu nhất của một đám cưới. Thế nhưng nó lại có cái quan trọng nhất cốt lõi nhất : sự  thương yêu gắn bó thực lòng. Mà đã có được điều này thì những cái thiếu kia đều không còn đáng kể thậm chí đều trở nên vô nghĩa). Những điều này quyết định đến việc tổ chức mạch chuyện và cả cấu tứ của thiên truyện nữa.

 2.2. Diễn biến của tình huống truyện

2.2.1. Diễn biến mạch truyện

Không phải ngẫu nhiên mà mạch chuyện là một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp. Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Thoạt tiên là lũ trẻ. "Lũ ranh" ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi khi có đứa chợt nhận ra quan hệ của họ là "chông vợ hài". Còn đám người lớn thì ngớ ra "không tin được dù đó là sự thật". Khi đã tỏ họ tò mò thì ít mà ái ngại nhiều hơn :"Giời đất này còn rước cái của nợ đời về". Tiếp đó là bà cụ Tứ. Tràng lấy được vợ là điều bà đêm mong ngày tưởng vậy mà khi sự xảy đến bà hoàn toàn không tin nổi - không tin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá cuốc) không tin vào tai mình (quái sao lại chào mình bằng "u"). Song đáng nói nhất vẫn là Tràng. Là"thủ phạm" gây ra tất cả mà vẫn không hết ngạc nhiên (chẳng những cứ đứng "tây ngây" giữa nhà tối hôm trước mà đến tận hôm sau qua một đêm có vợ rồi nhưng "hắn cứ lơ lửng như người đi ra từ trong một giấc mơ"). Trong chuỗi ngạc nhiên ấy ta đọc thấy những định nghĩa xót xa về người vợ : Vợ là cái của nợ đời vợ là gánh nặng phải đèo bòng... Có thể nói chưa có ở đâu giá trị của người vợ lại thấp kém lại bèo bọt như hoàn cảnh này. Và cũng chưa bao giờ hạnh phúc lại có một nghĩa lí đáng sợ như ở đây : hạnh phúc là một mạo hiểm một nguy cơ ! Như vậy tạo được tình huống này tác phẩm đã tố cáo được tội ác của Phát xít Nhật kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp không chỉ cướp đi sinh mệnh của mấy triệu người Việt Nam mà còn đánh tụt giá người xuống hàng cỏ rác bèo bọt. Mặt khác cũng lầm toát lên được niềm tin vào bản chất Người trong con người : dù hoàn cảnh muốn biến Con Người thành Bèo Bọt nhưng Con người vẫn không chịu làm Bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm Người. Nghĩa là một tình huống đem lại tầm vóc nhân văn đáng nể cho tác phẩm.

 2.2.2. Diễn biến trong tình thế

2.2.2.1. Trước hết đó là tình huống đùa mà không đùa.

Hôn nhân là một chuyện hệ trọng và thiêng liêng vào bậc nhất của đời sống nhân sinh. Ấy thế mà ở đây hoàn cảnh tai ác và cả con người nữa như muốn biến thành trò đùa - "Tràng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai lần thế mà thành chuyện". Nếu trước sau chỉ là một trò đùa thì Con người đã thành Bèo bọt. May thay các nhân vật đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách Con người. Một diễn biến như thế có thể thấy về bản chất là : Cảnh ngộ cứ lăm le Bèo bọt hoá Con người nhưng Con người đã vượt lên cả cảnh ngộ lẫn bản thân mình.

Nhìn từ phía cô "vợ nhặt" cái đói quay quắt ném cô vào một đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng nghiệt ngã đã biến cô thành một kẻ chanh chua chao chát cong cớn trơ tráo. Không chỉ làm biến dạng tính cách con người nạn đói khủng khiếp còn như một cơn lũ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh. Chới với giữa dòng lũ tiếng nói thường trực nhất tất nhiên là tiếng nói của bản năng : cần phải sống đã cần phải bám ngay vào một cái gì có thể bám được. Và bản năng ham sống đã xui khiến cô làm tất cả những gì có thể để thoát khỏi cái chết đang đe dọa từng giờ từng phút. Thật may mắn cô đã bám được vào một cái cọc thoạt đầu có vẻ ơ hờ không đâu té ra lại vững vàng đáo để. Cái cọc ấy có tên là Tràng. Đầu đuôi chưa phải là bám vào Tràng hay bám vào cái xe bò mà là bám vào một cái rất không đâu rất mong manh vô hình ấy là... câu hò không địa chỉ của Tràng. Để làm được kì công ấy cô đã biến một câu hò đùa vu vơ giữa chợ thành một lời hứa hẹn thật ("Muốn ăn cơm trắng mấy giò này lại đây mà đẩy xe bò với anh nì"). "Kì công" nhất là biến một lời rủ rê đùa thành... một lời cầu hôn chính thức ("Làm đếch gì đã có vợ. Nói thế chứ muốn về với tớ thì ra sửa soạn các thứ rồi cùng về !). Có phải bản năng đã hoàn toàn lấn át danh dự ? Nếu quả thực chỉ có thế thì cô cũng chỉ là một thứ Bèo bọt không hơn không kém. Nhìn kĩ bên trong chưa hẳn đã mất hết lòng tự trọng. Nếu hoàn toàn không còn ý thức ấy hẳn ở cô không thể có những cung cách như khi nhìn thấy căn lều rách nát của mẹ con Tràng cô đã nén một tiếng thở dài trong ngực không thể ngồi mớm bên giường ôm khư khư cái thúng trong lòng không thể đêm khuya cứ ngồi bần thần bất động trong khi Tràng đã sốt ruột leo lên giường mong hưởng đêm tân hôn. Nhất là cái cung cách ứng xử vào sáng hôm sau : không phải việc lao vào dọn dẹp cùng với mẹ chồng từ sáng sớm- việc ấy nghĩ cũng bình thường !- mà là : khi nhận bát "chè khoán" từ tay bà cụ Tứ mắt thị chợt tối lại sau đó và ăn một cách điềm nhiên. Thái độ và cung cách như thế chỉ có thể có ở một người có ý thức sâu về cảnh ngộ mình cùng thân phận mình. Té ra những chao chát chỏng lỏn cong cớn kia chỉ là những du nhập từ ngoài vào như một thứ vũ khí để tự vệ để đối phó với cảnh sống vất vưởng thôi. Bản tính sâu xa đến giờ mới hiện ra mà cơ chừng cuộc hôn nhân này mới làm hồi sinh thì phải ! Như thế nảy nở bởi một trò đùa nhưng bên trong con người vốn dĩ là một cái mầm nghiêm túc luôn khát sống và khát làm Người. Ta mới hiểu được vì sao cô tự rơi vào một hoàn cảnh rất dễ bị khinh rẻ nhưng người đọc và cả người trong truyện không thấy khinh mà chỉ thấy thương rồi thấy quí dù lắm lúc thấy...buồn cười.

Nhìn từ phía Tràng tình huống này không hẳn là lưỡng lự giữa sự đùa cợt phất phơ ý định nghiêm túc mà ở chiều sâu chính là phân vân giữa một bên là sự khước từ của lòng vị kỉ một bên là sự cưu mang của lòng vị tha (hay một bên là nỗi lo sợ cái chết một bên là khát khao hạnh phúc thì cũng thế). Sau những gì đã "gây ra" bởi hàng loạt những trò đùa tào phào Tràng có "chợn" nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ trót đẩy trò đùa đi quá trớn. Nếu lúc bấy Tràng bỏ của chạy lấy người thì về lí chẳng ai trách được gã trai ấy. Nhưng tình người trong gã hẳn là mất mát đi nhiều lắm. Thế thì Tràng cũng chẳng hơn thứ Bèo bọt là bao. Song Tràng đã "Chặc kệ !". Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc như  phóng lao phải theo lao vậy. Đến đấy cả người đọc thừa thãi niềm tin nhất cũng chưa thể tin là rồi ra có thể chắc chắn. Dù ngẫm cho cùng họ đến với nhau bề ngoài thì ngẫu nhiên không đâu mà bên trong lại là tất nhiên : người này cần người kia để có một chỗ dựa mà qua thì đói kém còn người kia cũng cần đến người này để mà có vợ để biết đến hạnh phúc làm người (Nếu không "gặp cái nước này người ta mới lấy đến" Tràng thì tình trạng ế vợ trường kì của gã trai đây còn khuya mới đến hồi kết thúc !). Và cuối cùng nằm ngoài mọi tưởng tượng và ngờ vực hai que củi trôi dạt ấy đã chụm vào nhau đã nhen nhóm lên thành bếp lửa. Sau cái tiếng "Chặc kệ!" đó mọi tầm phơ tầm phào đã lập tức khép lại nhường chỗ hoàn toàn cho sự nghiêm trang. Hãy chú ý đến những gì Tràng làm ngay sau đó. Còn chút tiền Tràng đã dồn vào ba việc : mua cho vợ một cái thúng ăn với nhau một bữa cơm và mua một chai dầu. Hai việc đầu là thiết thực. Việc thứ ba xem chừng xa xỉ cứ như một thứ chơi sang chơi ngông. Hoàn cảnh ngặt nghèo ấy không có đèn thắp có chết đâu ! Nhưng chính cái việc ngỡ như xa xỉ kia lại nói với ta rất nhiều về tấm lòng của Tràng. Thì ra không phải lấy được vợ quá dễ dàng thì Tràng cũng rẻ rúng hạnh phúc của mình. Nếu rẻ rúng Tràng cũng chỉ là Bèo bọt. Trái lại Tràng rất trân trọng. "Vợ mới vợ miếc thì cũng phải sáng sủa một chút chứ chả nhẽ chưa tối đã chui ngay vào". Cách nói có cái vẻ bỗ bã của một gã trai quê nhưng động cơ thì không thiếu cái nghiêm trang của một người giai tế tối tân hôn. Hôm nay phải là một ngày khác hẳn. Phải là một sự kiện của đời mình. Ngày mình có vợ kia mà - nhà cần phải sáng ! Mua chai dầu chính là nỗ lực để đàng hoàng ở cái mức mình có thể có được vào lúc này. Kể từ khi ấy họ gắn bó với nhau chân thành và nghiêm trang như bất cứ đôi lứa nào trên cõi đời này. Chẳng phải đấy là hình ảnh của Tình người của tư cách Người trong con người ? Rõ ràng hoàn cảnh muốn biến con người thành bèo bọt nhưng con người quyết không làm bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm người.

2.2.2.2. Thứ hai là tình thế đám cưới ở giữa đám ma. Thậm chí đám cưới nhỏ nhoi giữa một đám ma khổng lồ.

Là việc hai cá thể tự nguyện gắn bó với nhau lập nên một gia đình rồi sinh con đẻ cái đám cưới được coi như sự kiện khởi đầu một sự sống mới trong nhân gian. Còn đám ma lại là sự kiện kết thúc một chu trình sống trên cõi đời này. Tình huống Vợ nhặt do đó còn có thể gọi là sự sống nảy sinh giữa cái chết. Có thể Kim Lân chưa chắc đã ý thức thật đầy đủ về khía cạnh này. Nhưng ý nghĩa khách quan của tác phẩm thì toát lên điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà trong thiên truyện ta thấy nổi lên song hành hai cuộc giao tranh : Sự sống với Cái chếtÁnh sáng với Bóng tối.

Thật oái oăm cuộc hôn nhân hình thành một phần lớn là do Cái Chết dồn đuổi. Đôi trai gái là hiện thân của Sự Sống. Khi dắt nhau về xóm ngụ cư họ đi trong sự bao vây của cái chết. Cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt nhiều biến thể : khi thì trong hình ảnh xác những người chết đói nằm la liệt trên bãi chợ khi thì  ở bóng những người đói xanh xám dật dờ như những bóng ma đằng sau gốc đa và gốc gạo khi lại hiện ra trong hình ảnh bầy quạ đen bu kín trên ngọn cây chỉ chờ những người đói đổ xuống là ùa tới moi gan rỉa thịt khi lại hiện trong hình ảnh khói của những nhà đốt đống rấm để xua mùi tử khí... Cái Chết truy đuổi rình rập quanh bước chân của họ. Thậm chí khi đôi trai gái sắp lên giường ngủ nó vẫn chưa chịu buông tha. Đúng lúc ấy họ nghe thấy tiếng khóc hờ của những nhà mới có người chết tỉ tê lọt qua kẽ vách. Nhưng sự sống không bao giờ chán nản. Sáng hôm sau tất cả các thành viên trong gia đình ấy đã cùng lao vào một việc một việc có thể nói là không thiết thực bởi không có một hiệu quả kinh tế trực tiếp gì : dọn dẹp nhà cửa. Nhưng cái việc có vẻ chưa cần thiết một tí nào ấy lại nói với ta rất nhiều về thái độ sống của họ. Họ không muốn tạm bợ mà muốn đàng hoàng. Họ đang chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài. Họ bướng bỉnh tuyên chiến với nạn đói. Ở người mẹ già nua sự sống ngỡ như đã khô cạn đi lại như bừng lên một sức sống mới. Bà xăm xắn lao vào công việc hay cười hay nói và toàn nói về tương lai tương lai gần còn chưa hiện ra đã lại nghĩ đến những tương lai xa hơn nữa ( Tràng ạ lúc nào có tiền mua lấy đôi gà. Tao tính cái đám đất đầu bếp kia nếu làm chuồng gà thì rất tiện. Này ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có ngay đàn gà cho mà xem). Vậy đấy Sự sống đâu có đầu hàng Cái chết ! Trái lại Sự sống đang kiên nhẫn vượt lên Cái chết.

Nhưng tinh vi nhất vẫn là cuộc giao tranh thứ hai : Ánh sáng với Bóng tối. Phần thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng. Điều này hiện rõ ngay trong kết cấu. Có ngẫu nhiên không khi câu chuyện mở ra lúc trời nhá nhem tối và kết thúc vào sáng hôm sau khi mặt trời lên cao bằng con sào? Và hệ thống tình tiết dọc theo mạch chuyện cũng không hẳn là ngẫu nhiên. Trước khi đôi trai gái dắt nhau về bao trùm lên xóm ngụ cư là một bầu không khí âm u ảm đạm bởi tử khí vây quanh cùng bao ánh mắt lo âu. Nhưng họ về đến đâu ánh sáng theo về đến đó. Thoạt tiên là có một cái gì tươi mát thổi vào đám người ngụ cư làm cho gương mặt hốc hác u tối của họ bỗng rạng sáng lên. Rồi đêm ấy căn lều lâu nay bóng tối vẫn ngự trị của mẹ con bà cụ Tứ cũng sáng lên - bằng ngọn đèn từ chai dầu của Tràng ? Không sâu xa hơn là bằng nguồn sống bừng lên từ cuộc hôn nhân ấy. Sáng hôm sau gương mặt lâu nay u ám bủng beo của bà cụ Tứ cũng sáng lên. Cảnh vật bao quanh căn lều cũng sáng sủa quang đãng... Tuy nhiên nghĩ cho cùng chai dầu của Tràng giỏi lắm cũng chỉ xua đi được Bóng tối trong cái căn lều nhỏ bé ấy thôi. Còn Bóng tối bao trùm lên toàn bộ thế giới của câu chuyện thì ngọn đèn dầu kia làm sao xua tan nổi. Nó phải nhờ vào một nguồn sáng khác lớn lao hơn mãnh liệt hơn. Đó là nguồn sáng của lá cờ. Câu chuyện được khép lại bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ hiện lên trong tâm trí của Tràng là nằm vào mạch ngầm tất yếu đó. Một kết thúc bằng Ánh sáng. Một kết thúc lạc quan.

3. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện

3.1. Quan niệm : Con người dù có thế nào vẫn cứ là CON NGƯỜI : a) Vẫn khao khát vun vén hạnh phúc b) Quyết không làm bèo bọt mà kiên nhẫn và kiêu hãnh làm Người.

3.2. Sự sống chẳng bao giờ chán nản lúc nào nó cũng hướng ra phía trước và vươn ra ánh sáng. Thế là nảy sinh trên một mảnh đất mà Cái chết đang lan tràn nhưng Sự sống quyết không chán nản. Sự sống bao giờ cũng mạnh hơn Cái chết. Đó chính là bản tính tích cực của Sự sống. Điều ấy chẳng phải là dư vị triết lí tiềm ẩn trong tình huống Vợ nhặt chỗ sâu xa nhất trong ý nghĩa nhân văn của tác phẩm này sao ? Gọi Vợ nhặtBài ca Sự sống thiết tưởng cũng không phải một đề cao quá đáng.

                  Kết luận từ những vấn đề lí thuyết và qua những phân tích thực tế vào tác phẩm có thể thấy :

- Hạt nhân thể loại của truyện ngắn là tình huống truyện

- Tiếp cận một tác phẩm truyện ngắn mà chưa chú ý đúng mức đến tình huống truyện thì xem như chưa thực sự khám phá phần then chốt nhất phần lõi cốt nhất của truyện ngắn.

- Vấn đề này cần được ứng dụng rộng rãi hơn vào việc nghiên cứu giảng dạy truyện ngắn nói chung và giảng dạy truyện ngắn ở trường phổ thông nói riêng.

       Hà nội xuân Quí Mùi

      TS. Chu Văn Sơn

More...

Tình huống truyện Đôi mắt của Nam Cao - TS. Chu Văn Sơn (phần thực hành chuyên đề truyện ngắn)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Nói thêm về Đôi mắt của Nam Cao

                      CHU VĂN SƠN

 1. Không thuộc vào hàng những kiệt tác của Nam Cao nhưng Đôi mắt vẫn là sáng tác xuất sắc của ông sau cách mạng. Và so với "mặt bằng" truyện ngắn đương thời thì nó vẫn cứ là một cái đỉnh. Có lẽ vì thế mà kể từ độ vừa ra đời cho đến nay bước sang thế kỉ mới rồi nó vẫn cứ gây dư luận. Mà xem ra mọi tranh cãi vẫn là từ cái anh chàng văn sĩ Hoàng ấy. Tôi không muốn chỉ cái việc đồng nhất anh ta với nguyên mẫu. Đấy là một sai lầm "lịch sử" khiến Hoàng nghiễm nhiên thành cái bóng đè lên thanh danh nhà văn Vũ Bằng mà phải đến cuối thế kỉ trước mới hoá giải được1. Điều tôi muốn đề cập ở đây là cách hiểu khác nhau về thực chất của Hoàng và ý đồ nghệ thuật của Nam Cao. Nhìn lướt thì ý kiến chia làm hai thời kì. Trước đổi mới xem chừng khá thống nhất. Người ta vẫn thấy Hoàng thuần là phản diện và thái độ của Nam Cao với nhân vật này là phê phán lên án. Tuy rằng chưa phải việc hiểu đã tới độ cần thiết. Nhưng kể từ đổi mới trở đi bắt đầu thấy nảy ra loại ý kiến cho rằng : người đọc đã quá khắt khe với Hoàng thái độ Nam Cao không gay gắt đến thế. Và thậm chí có vẻ như Nam Cao còn khắc họa Hoàng như một trí thức tỉnh táo đã thấy trước những hạn chế của người nông dân đi làm cách mạng vào giữa lúc quần chúng đang lên ngôi ; nên đã coi Hoàng như một thứ tiên tri đi trước thời đại.

Xem ra xung quanh truyện Đôi mắt của Nam Cao tồn tại cả "vấn đề đôi mắt" của bản thân người đọc nữa thì phải !

Chả biết cái ý kiến "cấp tiến" nhân luồng gió đổi mới này có "tiến" được "cấp" nào không mà thấy bất chấp cả những nguyên tắc tối thiểu của việc tiếp nhận nghệ thuật. Trước hết là nguyên tắc lịch sử. Đó là gán cái nhìn của ngày hôm nay cho một tác phẩm quá khứ. Bấy giờ cuộc cách mạng tháng Tám đã tạo ra một sự đổi thay ghê gớm. Nhiệt tình bỏng cháy và niềm tin đơn giản thường khiến người ta nhảy từ cực đoan này sang cực đoan khác. Trí thức bấy giờ đều muốn đoạn tuyệt hoàn toàn với "con người cũ" của mình đều kiên quyết "lột xác". Thấy mình có lỗi với quần chúng lạc lõng trước nhân dân lạc loài trước dân tộc. Nhất nhất đều lấy quần chúng ra để làm mẫu làm gương. Chỉ có quần chúng là vĩ đại là vạn đại.…Tất cả đều thành tâm thành kính hồ hởi. Tuyệt nhiên chưa có chỗ để đặt những dấu hỏi cho hoài nghi hay xét lại. Như tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ trí thức đương thời Nam Cao cũng không là ngoại lệ. Điều ấy có hiện ra ngay cả trong truyện ngắn này chứ không phải đâu xa. Cứ đọc lại cái đoạn Độ ngẫm nghĩ về đôi mắt của Hoàng trong đối sánh với toàn bộ thời buổi kháng chiến bấy giờ thì khắc biết. Tức là Nam Cao đã viết Đôi mắt bằng nhận thức đương thời bằng niềm tin đương thời. Trong cái tâm thành đến mức ngây thơ kia của Nam Cao làm gì đã có chỗ cho một chút hoài nghi nào dù chỉ là thoáng qua nói gì đến cái gọi là sự tỉnh táo đi trước thời đại từa tựa như là xét lại đó. Nhìn ra những méo mó của cuộc đời là bởi đôi mắt ráo hoảnh của Hoàng chứ quyết không phải bởi tiên cảm nhạy bén thuộc năng lực tiên tri của Hoàng. Đó là hai nguyên uỷ hoàn toàn khác nhau gắn với hai bản chất khác nhau. Chả nên đánh đồng. Đánh đồng là ngộ nhận là làm hại chứ đâu phải làm sang gì cho Nam Cao. Tự thân tư tưởng Nam Cao đã đủ vĩ đại rồi. Ông không cần đến sự làm sang vô lối nào nữa đâu.

Ý tưởng "cấp tiến" kia cũng không đếm xỉa gì đến mối liên hệ mật thiết giữa các sáng tác cùng thời của cùng tác giả. Truyện ngắn Đôi mắt được viết gần như cùng thời điểm với Nhật kí ở rừng. Nếu nhật kí là nơi bộc lộ khá trực tiếp những suy tư và ý đồ nghệ thuật thì truyện ngắn là chỗ các ý đồ kia đã hoá thân thành hình tượng sống động. Ai cũng biết trong Nhật kí ở rừng Nam Cao có nói đến một loại người mà ông gọi là những tên "bố vấu" chúng là những trí thức nửa mùa với những biểu hiện : không yêu một cái gì không làm việc gì chúng chỉ giỏi chửi đổng. Có thể nói một trong những tên "bố vấu" như thế đã hoá thân thành Hoàng. Tiếp nhận nhân vật Hoàng không thể cắt lìa khỏi mối liên hệ gần gũi và thống nhất đó.

Tuy nhiên những nguyên tắc trên bị vi phạm cũng chưa thật đáng ngại lắm. Loại ý kiến "cấp tiến" kia còn bất chấp một nguyên tắc quan trọng hơn của việc cảm thụ nghệ thuật đó là hiểu nhân vật thoát li khỏi cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Không ai không thấy rằng Đôi mắt là truyện ngắn ít nhiều có tính luận đề. Luận đề bao trùm chính là Đôi mắt. Nghĩa là cách nhìn người nhìn đời. Luận đề ấy được hiện hình rất sắc nét nhờ một tình huống truyện đặc sắc. Toàn bộ truyện ngắn này xoay quanh một tình huống chủ chốt : cuộc gặp gỡ vừa thân thiện vừa gượng gạo của hai nhà văn vốn là bạn viết của nhau nhưng bây giờ đã rất khác nhau về lối sống chỗ đứng và cách nghĩ đó là Hoàng và Độ. Cuộc gặp gỡ như thế đã quyết định đến tính đối thoại trong cấu trúc tác phẩm. Đôi mắt là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật - hai nhà văn - hai tư tưởng… mà tựu trung là cuộc đối thoại của hai "đôi mắt". Cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại như thế cũng quyết định đến kiểu nhân vật của truyện ngắn này : tuy cũng được mô tả khá đầy đủ từ lai lịch đến ngoạị hình từ hành động đến ngôn ngữ nhưng về căn bản hai nhân vật chính trong câu chuyện này nghiêng về kiểu nhân vật tư tưởng. Đúng thế tư tưởng mới là cốt lõi của họ những bình diện khác được đề cập hầu như chỉ nhằm lí giải cho tư tưởng của họ mà thôi. Nếu không sợ cực đoan có thể khẳng định : Hoàng và Độ là hai tư tưởng hai "đôi mắt" được nhân vật hoá. Nhìn sâu hơn cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại đó cũng quyết định đến một nguyên tắc nghệ thuật chủ đạo chi phối việc khắc họa cặp hình tượng : đối lập tương phản. Độ là chính đề Đôi mắt thì Hoàng là phản đề Đôi mắt. Nếu Độ là người được đề cao thì Hoàng là kẻ bị lên án. Đúng theo cung cách của chính diện và phản diện ánh sáng và bóng tối. Thậm chí ở một số điểm nếu nắm được người này thì sẽ suy ra được người kia theo lối tương phản. Trong Đôi mắt nhân vật này chỉ thực sự tồn tại khi song hành với nhân vật kia. Có lẽ chưa ý thức thật đúng mức về điều ấy nên việc hiểu Hoàng còn không ít hạn chế.

2.  Tuy nhiên bài này được viết ra không nhằm tranh luận với các ý kiến "cấp tiến" nọ. Tôi muốn nói đến một việc khác thuộc về nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao : việc dựng nhân vật Hoàng. Cố nhiên tôi cũng không định nói đến lối dùng đồ vật và loài vật để khắc hoạ nhân vật. Đành rằng việc mô tả Hoàng gắn liền với thế giới tiện nghi sang trọng và con chó becgiê giữa những ngày tản cư kháng chiến kham khổ là một thủ pháp đặc sắc của Nam Cao. Quả là những tiện nghi và con becgiê kia đã tố cáo về bản chất ích kỉ và triết lí hưởng thụ tệ hại ở chủ nhân của chúng. Song cái tôi muốn đề cập nhiều hơn vẫn là chuyện khác : chuyện ngôn ngữ nhân vật. Phải nhiều khi ta bỏ qua hay chừng mực hơn ta chưa chú ý đúng mức đến ngôn ngữ nhân vật nên đã hiểu nhân vật chưa thật đến nơi. Ai cũng biết ngôn ngữ nhân vật là một phương tiện hết sức đắc dụng để nhà văn khắc hoạ nhân vật. Dùng thành công thì lời nhân vật chính là một bức chân dung tự họa sắc nét về bản thân nhân vật. Trường hợp Hoàng là như vậy. Tiếc rằng nó chưa được quan tâm thật đúng mức. Hoàng là một nhà văn. Trước đến nay người đọc người nghiên cứu vẫn chưa chú ý đầy đủ tới khía cạnh nhà văn trong ngôn ngữ Hoàng.

        Đặc điểm của thứ ngôn ngữ ấy là gì ? Trong trường hợp này nổi lên mấy khía cạnh chính : khái quát từ chi tiết cố chấp về chữ nghĩa đặc biệt hơn thường có hai tầng hiển ngôn và hàm ngôn [1]. Lâu nay đọc lời Hoàng ta mới chỉ nghiêng về tầng hiển ngôn mà bỏ qua rất nhiều tầng hàm ngôn. Hãy đơn cử một ví dụ. Khi được hỏi thăm về chuyện sáng tác Hoàng trả lời : "… Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì đó để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm thì còn có thể hay bằng mấy cái "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết !". Đoạn thoại này rất tiêu biểu cho ngôn ngữ của Hoàng. Tầng hiển ngôn chỉ là trình bày một quyết tâm một dự định sáng tác và tỏ ý tiếc thay cho bạn văn không còn sống. Nhưng còn tầng hàm ngôn là những hàm ý ẩn ý gắn với nội dung của "Số đỏ" và tài trào phúng của Vũ Trọng Phụng. Trước hết nó thể hiện quan niệm của Hoàng về cái thời ấy : té ra Hoàng coi cái thời buổi kháng chiến với những anh thanh niên vác bó tre các ông dân quân các bố tự vệ kia là nguồn nguyên liệu lí tưởng cho tài năng trào phúng kiểu như Vũ Trọng Phụng tha hồ mà tung hoành. Nghĩa là cái thời buổi nhố nhăng vô nghĩa lí chó đểu một tấn đại hài kịch. Hơn thế nếu Hoàng sáng tác thì sẽ viết như Vũ Trọng Phụng viết "Số đỏ". Nghĩa là sẽ mang những con người kia ra để làm trò cười để chế giễu nhạo báng lố bịch hoá… Rõ ràng thái độ và nhận thức chính của Hoàng được gửi phần lớn vào tầng ngầm của mỗi phát ngôn.

Cần chú ý đến tầng hàm ngôn vô ngôn đấy chính là một mã khoá giúp ta hiểu thực chất tư tưởng và thái độ của Hoàng.

Lần này đến thăm Hoàng mục đích của Độ là muốn tìm hiểu xem Hoàng đã có gì thay đổi chưa nếu đã thì sẽ vận động anh ta tham gia hoạt động cách mạng như mình. Trong những thay đổi thì quan trọng nhất là tư tưởng. Bấy giờ là thời buổi kháng chiến nên điều cốt yếu trong tư tưởng chính là nhận thức về đời sống kháng chiến. Hai đối tượng căn bản làm nên đời sống kháng chiến lúc này không phải ai khác hơn là quần chúng và lãnh tụ. Trong mắt Hoàng cả hai đối tượng này đều là những hình ảnh méo mó mỗi đằng méo mó theo một kiểu. Quần chúng méo mó bởi miệt thị. Lãnh tụ méo mó bởi sùng bái dễ dãi vô lối.

Trong cái nhìn của Hoàng quần chúng chỉ là một đám đông hiện ra với mấy "phẩm chất" : ngu dốt tàn nhẫn ngố và nhặng xị. Ngu đến mức nào ? đến chỉ đường cũng không biết cách. Anh thanh niên vác bó tre rõ ràng là thuộc làu con đường lên chợ Huyện giờ chỉ diễn đạt cho người khác hiểu mà không làm nổi càng cố diễn đạt càng rối rắm như tung hoả mù người nghe chẳng còn biết đằng nào mà lần. Dẫn chứng ấy hàm ý gì ? Đầu óc quần chúng thật thảm hại cố hoạt động trí tuệ thì tối tăm ngừng hoạt động trí tuệ thì may ra mới sáng sủa. Ngu đến mức nào nữa ? Đến đọc một cái tên cũng không phân biệt được đàn ông đàn bà. "Ông chủ tịch làng này xem giấy của nhà tôi thấy đề Nguyễn Thục Hiền cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy thì đàn bà ai cũng phải thị này thị nọ". Không phải vô cớ mà Hoàng (Nam Cao thì đúng hơn) chọn cái tên này để ví dụ. Và cái ý thuộc hàm ngôn vô ngôn ở đây là gì vậy ? Đúng là nếu tách ra thành "Thục" và "Hiền" thì từng tên ấy có thể đặt cả cho đàn ông lẫn phụ nữ. Nhưng khi ghép lại trong một tên "Thục Hiền" thì chỉ có thể là tên đặt riêng cho phụ nữ thôi. Một cái tên phụ nữ đến thế một điều sơ đẳng đến thế cũng không biết cũng có thể nhầm thì ông nhà văn này thấy thật là ngu hết chịu nổi. Còn ngố thì thế nào ? Thì như anh thanh niên vác bó tre. Riêng bó tre đã nặng quá rồi lại loay hoay mãi mà không chỉ xong đường nặng thêm bội phần rồi cũng đã chào nhau để đi rồi thế mà vẫn còn cứ nán lại đọc bài ba giai đoạn dài đến năm trang giấy. Thế là cực ngố còn gì. Nhưng đó mới chỉ là phía hiển ngôn thôi. Còn tầng hàm ngôn ? Chỉ vẽ đường đất còn không nên hồn lại đi tuyên truyền đường lối ! Lại nữa anh là thằng mù chữ là con vẹt biết nói mà lại dám tuyên truyền tôi là thằng trí thức. Thật là ngược đời quái dị thật là ngố hết chỗ nói. Cái ngụ ý ở tầng hàm ngôn như thế mới giải thích được vì sao Hoàng lại có sự khinh bỉ đến mức ấy :"Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối" ! Và khiến anh sẵn sàng chọn lối ứng xử thà mang tiếng là phản động còn hơn là phải cộng tác với những người như vậy (!)

Tuy nhiên ở phần nhận thức về quần chúng việc quan tâm đến khía cạnh nhà văn trong ngôn ngữ của Hoàng cũng chưa giúp hiểu thêm anh ta được là bao. Đáng kể là ở nhận thức về lãnh tụ. Trước đến nay do chưa chú ý đúng mức đến sắc thái này của ngôn ngữ Hoàng mà ta chưa hiểu thực chất về tình cảm cũng như nhận thức của anh ta đối với cụ Hồ. Chúng ta đều tưởng rằng với quần chúng Hoàng miệt thị còn với lãnh tụ thì Hoàng tin sùng. Nhầm. Hoàng cũng chả yêu cụ Hồ thật sự chả hiểu cụ Hồ thực sự.

       Ngôn ngữ nhân vật đã tiết lộ điều đó.

       Những lời tán dương dễ dãi khoa trương của Hoàng xuất phát từ một cái tâm không thật sáng. Tán dương cụ Hồ để thêm một lần nữa dùng lối đề cao một cá nhân mà phủ định đám đông quần chúng ."Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm". Hoàng nói thế chẳng phải là hàm ý một nước toàn những người như đám quần chúng ngu dốt ngố và nhặng xị kia không đáng có một lãnh tụ như  Hồ Chí Minh. Làm lãnh tụ một nước như thế này thật phí tài cụ Hồ. Tán dương cụ Hồ còn nhằm che đậy thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của mình trước sự nghiệp cứu nước chung. Cuộc kháng chiến toàn dân này muốn mau giành thắng lợi cần có sự tham gia đóng góp của nhiều người. Người có tre góp tre. Người có chữ đi dạy bình dân học vụ. Người có khả năng văn nghệ đi làm công tác tuyên truyền… Có thế ngày độc lập mới có cơ đến được. Thì Hoàng lại thản nhiên với một giọng đinh ninh : "Tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa ông cụ xoay quanh rồi cứ độc lập như thường". Lại nữa lời bốc đồng của Hoàng chẳng được đảm bảo bằng một hành động gì. Nghe anh ta nói thì cứ y như Hoàng đã thấy một minh chủ một vị cứu tinh một anh hùng cứu quốc chờ đợi đã bao thế kỉ. Để xứng với những lời to tát đó nhẽ ra người phát biểu cần phải mau chóng vứt bỏ hết mà tìm về đầu quân tụ nghĩa làm một người lính chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa của cụ Hồ. Nhưng cuối cùng chỉ là lời nói suông. Nếu cụ Hồ có thân chinh đến vận động chú Hoàng đi kháng chiến chắc gì chú Hoàng đã đi. (cứ cung cách ấy Hoàng có thể mặc cả lắm chứ : đi kháng chiến có chó becgiê không? có tủ buytphê không ? có chăn đệm thoang thoảng nước hoa không ? có mía ướp hoa bưởi không ?… thì e rằng bấy giờ cụ Hồ cũng chả đáp ứng được).

          Những lời tán dương ấy cũng xuất phát từ một cái trí chưa thật sáng. Hoàng là trí thức nửa mùa khi hiểu biết chẳng đến đầu đến đũa. Có thể thấy Hoàng hiểu cuộc kháng chiến bấy giờ và cụ Hồ bằng nhỡn quan của một kẻ quá ghiền Tam Quốc. Nghĩa là hoàn toàn xa lạ lỗi thời lạc điệu. Dùng Tam quốc để qui chiếu thời đại mới. Đúng là ở thời Tam quốc (nói đúng hơn là cái thời được mô tả trong "Tam quốc chí" của La Quán Trung) vai trò cá nhân quyết định tất cả. Được thua cốt tại tướng. Cục diện chiến trận ăn nhau ở người đứng đầu. Có khi chỉ nhờ ba tấc lưỡi và vài cái mẹo vặt của chủ tướng có thể biến có thành không chuyển bại thành thắng đổi nguy thành an. Nhưng thời đại này khác rồi. Đây là thời chiến tranh nhân dân."Toàn dân kháng chiến toàn diện kháng chiến" kia mà. Cá nhân xuất chúng là quan trọng nhưng quần chúng mới là quyết định. Nam Cao đã được giác ngộ kĩ lưỡng về những nguyên lí đó của đường lối chiến tranh nhân dân trường kì kháng chiến. Nhưng Hoàng nói thế nào ? "Tôi cho rằng cuộc cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ". Đinh ninh thế chẳng phải là quá lạc hậu sao ?

        Nhìn kĩ ta còn thấy : Hoàng không phân biệt anh hùng và gian hùng. Trong Hoàng có lẽ chỉ có một tiêu chuẩn : siêu sao. Nên cả Đờ Gôn Hồ Chí Minh và Tào Tháo đều được tán dương nồng nhiệt. Sẽ là không ngoa khi nói rằng : trong cảm nhận của Hoàng Cụ Hồ cũng chỉ như một Tào Tháo thời hiện đại(đời mới) thế thôi. Không phải vô cớ mà cái Hoàng tán thưởng ồn ào nhất ở cụ Hồ là "cú Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng 3". Nếu cụ Hồ chỉ có tài "xoay quanh" như thế không thôi thì e rằng Hoàng đã hiểu quá sai lạc phiến diện. Tài đức Hồ Chí Minh đâu chỉ có vậy. Mà nhiệt tình dành cho Tào Tháo xem ra còn ồn ào hơn cả dành cho cụ Hồ. Chả thế mà lời tán dương cụ Hồ khi đã ngừng bặt thì chẳng còn dư âm gì. Trong khi đó những dư âm cuối cùng trong tán dương của Hoàng lại thuộc về Tào Tháo. Chung qui Hoàng đề cập đến cụ Hồ chỉ theo kiểu một người đọc đang thưởng thức một nhân vật tiểu thuyết không hơn không kém. Rõ ràng cả tình cảm và nhận thức của Hoàng về cụ Hồ đều thiếu trong sáng và lệch lạc. Chẳng phải anh ta là một tên "bố vấu" điển hình hay sao !

     Cũng cần phải thấy thêm rằng Nam Cao đã mô tả cả lai lịch và quá khứ của Hoàng để cắt nghĩa cho cái nhìn của anh ta. Nghĩa là lí giải Hoàng rất nhất quán và triệt để. Sở dĩ Hoàng nhìn đời như thế vì Hoàng vốn mang một bản chất như thế. Hoàng nhìn đời bằng "đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ" vì anh ta vốn là kẻ ích kỉ vô tình. Chẳng phải thế sao ! Độ đã nhớ lại cái lối sống dửng dưng trước nỗi khốn khổ cơ cực của bạn bè trong ngày đói quay đói quắt để nhởn nhơ nuôi con chó becgiê với khẩu phần ăn mỗi ngày hai lạng thịt bò. Nhớ lại cái tật đá bạn. Nhớ lại cái hành động hồi nhộn nhạo sau ngày khởi nghĩa Hoàng đã ra tờ báo và mang cả những bạn bè ra chửi rủa. Lối sống thể hiện một bản chất bản chất hiện ra thành cách nhìn. Rồi Hoàng nhìn đời bằng con mắt của một tên "bố vấu" vì Hoàng đúng là một kẻ chỉ đứng ngoài cuộc "không yêu cái gì không làm việc gì chỉ giỏi chửi đổng". Tóm lại đôi mắt của Hoàng thiếu hẳn hai thứ : tình người và nhiệt tình cách mạng. Vì thế không hiểu được bản chất không nhận ra cái đẹp của con người thời đại mới này. Còn Độ thì ngược lại. Không phải Độ không thấy những hạn chế của đối tượng. Nhưng Độ còn thấy được bản chất tốt đẹp ẩn náu bên trong nhìn nhận ra vẻ đẹp thời đại. Bởi những lẽ đó mà Nam Cao đã tạo ra một tương phản gay gắt. Cùng một đối tượng là anh thanh niên vác bó tre nhưng trong mắt Hoàng thì đó là hiện thân cho sự lố bịch của thời đại Trái lại trong mắt Độ nó thực sự hiện ra như vẻ đẹp chân chính của thời đại cách mạng ấy. Nói cách khác trong mắt Hoàng cái đẹp lập tức biến thành cái xấu cái lố bịch ; ngược lại trong mắt Độ cái đẹp đã hiện ra với diện mạo chân dung đích thực của nó. Nhờ đâu Độ có được cái nhìn như vậy ? Nhờ Độ đã nhìn bằng đôi mắt vừa giàu tình người vừa giàu nhiệt tình cách mạng. Sự tương phản giữa Hoàng và Độ là tương phản giữa chính đề và phản đề. Tựa như tương phản giữa ánh sáng và bóng tối vậy.

Chưa cần nói đến những lời bình luận của Nam Cao (trong vai nhân vật Độ) thể hiện cụ thể mạch triết luận chỉ cần nói đến tình huống truyện kiểu nhân vật và ngôn ngữ nhân vật được cá tính hoá rất sâu sắc của Hoàng không thôi cũng đủ cho ta thấy luận đề đôi mắt được thể hiện theo lối triết luận triệt để như thế nào. Chưa có một quan tâm thật cần thiết sẽ đáng tiếc như thế nào.

                                                       ****************


 

1 Trong giới học thuật công đầu trong việc chiêu tuyết cho Vũ Bằng và chỉ ra rằng Nam Cao đã tạo ra nhân vật Hoàng theo lối "lộn ngược nguyên mẫu" là thuộc về nhà nghiên cứu Văn Giá. Xem TCVH 1- 2002

[1] Có thể thấy thêm ngôn ngữ nhân vật  Hoàng ở khía cạnh giọng điệu. Một giọng điệu kiêu bạc bề trên thậm chí có lúc trịch thượng xách mé. Nhưng do tính chất của bài viết này đề cập thêm khía cạnh đó e rằng sẽ bề bộn.

More...

Hai đứa trẻ nhìn từ tình huống truyện- Chu Văn Sơn (phần thực hành chuyên đề truyện ngắn)

By PhanThanhVân -THPT Huỳnh Thúc Kháng

Hai đứa trẻ nhìn từ tình huống truyện

 Là một tác phẩm xuất sắc rất điển hình cho loại truyện ngắn - trữ tình của Thạch Lam "Hai đứa trẻ" đã được phân tích ở khá nhiều bình diện nhiều giá trị đã được khám phá. Ở bài này người viết muốn đưa ra một cách tiếp cận khác : tiếp cận từ tình thế tình huống truyện. Nếu như chấp nhận sự phân loại tình huống truyện với ba dạng cơ bản là tình huống hành động tình huống nhận thức và tình huống tâm trạng thì "Hai đứa trẻ" thuộc dạng thứ ba. Tức là tình huống đẩy nhân vật đến những biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Nếu có ba kiểu nhân vật là nhân vật hành động nhân vật tư tưởng và nhân vật ( kiểu con người) tình cảm thì nhân vật chính trong "Hai đứa trẻ" cũng thuộc dạng thứ ba. Nghĩa là nhân vật chủ yếu được khai thác ở đời sống tình cảm chất liệu chủ yếu để khắc hoạ nhân vật là tình cảm với những biểu hiện phong phú của nó. Cùng với các yếu tố khác kiểu tình huống và kiểu nhân vật trên đây đã quyết định đến diện mạo trữ tình của truyện ngắn này.

1. Cái tình thế nảy ra truyện là hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo. Hai cái mầm cây nhú lên trên một mảnh đất cằn cỗi bạc màu. Hai mầm sống non tơ trên một nơi không có sinh khí. Sự trái ngược trái khoáy kia chứa đựng một mâu thuẫn nhân sinh làm day dứt lòng người cứ gặm nhấm những lo âu về số phận con người. Hình dung như thế ta mới hiểu vì sao bối cảnh lại là một phố huyện nghèo và vì sao nhân vật trung tâm của câu chuyện lại là An và Liên.

1.1. Cả thân nhân nhà văn cả những người nghiên cứu đều xác nhận cái phố huyện này có nguyên mẫu từ phố huyện Cẩm Giàng nơi Thạch Lam từng sống một tuổi thơ buồn và không ít lận đận. Tuy nhiên qua ngòi bút Thạch Lam nó đã thành một Phố Huyện viết hoa. Nghĩa là thành một miền đời bị quên lãng. Người ta có thể thấy ở đây những gì quen gặp nhất thân thuộc nhất ở một phố huyện. Cả những cảnh vật đơn sơ mà đầy cảm kích. Cả những đồ vật tồi tàn mà gắn bó nặng nghĩa. Cho đến những bóng dáng thân quen trong cái nhịp đời nghèo nàn và bình lặng của đám cư dân hiền lành chốn phố huyện chưa khác mấy so với cái gốc quê… Tất cả cứ co mình thu mình trong một bầu không khí rất đặc trưng của phố huyện thời trước : bầu không khí thiếu sinh khí - hơi thở của sự sống đang đuối dần héo hắt ảm đạm.

Thạch Lam có một lối cảm nhận và lối điển hình hoá rất riêng. Để gây ấn tượng thật xót xa và thấm thía về một phố huyện tàn tạ héo úa Thạch Lam đã chọn một thời điểm sự kiện cảnh vật đồ vật và nhân vật rất hoà điệu ăn nhập với nhau đến kì lạ. Một ngày tàn kéo dài đến đêm tàn. Một phiên chợ tàn. Một hệ thống cảnh vật và đồ vật tàn. Trên đó hiện ra những kiếp người tàn. Hãy đi vào từng bình diện ấy. Đúng là mỗi mảnh đất thường hiện lên cái diện mạo thật của nó vào một thời điểm nào đấy. Với phố huyện này là lúc chiều tàn. Cứ nắng tắt dần tiếng trống thu không rời rạc vang lên trên chòi canh nhỏ là phố huyện bắt đầu hiện ra bộ mặt thật của nó. Đó là một miền quê xơ xác tiêu điều quẩn quanh mòn mỏi. Âm thanh thưa thớt dần ánh sáng yếu ớt dần hơi thở của một ngày cứ tan rã dần dần theo từng thời khắc. Đến đêm tàn thì cả miền quê như chìm vào màn đen không đáy "xung quanh đầy bóng tối và sự tịch mịch". Phố huyện bị nuốt dần vào màn đêm hoang vu thăm thẳm như chìm nghỉm vào hư vô. Thạch Lam tả một phiên chợ quê vào dịp chính phiên nhưng không để thấy vẻ sầm uất sôi động ; trái lại làm nổi lên tất cả lèo tèo thưa thớt ế ẩm. Đúng lúc chợ tàn nên hình ảnh sự sống càng tan rã thê lương. Ngày chính phiên mà thế hỏi rằng những ngày khác còn thảm hại như thế nào ! Cảnh vật thì một dãy phố với những căn nhà xiêu vẹo tranh tối tranh sáng một nhà ga xép cỏn con tủi sầu côi cút một vài lều chợ ọp ẹp đứng gá trên bãi rác rưởi một chòm làng trầm lặng sau rặng tre lêu nghêu trong bóng tà dương một ngôi quán được tả cận cảnh thì phên vách rách rưới đến nỗi dán cả giấy nhật trình lên cũng không kín…Và đồ vật : có một cái chõng thì ọp ẹp sắp gẫy ; có một manh chiếu thì xơ xướp ; có một cây đàn thì cũ kĩ còm cõi ; có một cái chậu sắt tráng men thì rúm ró long lở ; có những ngọn đèn dầu thì đều tù mù leo lét... Trên cái nền phông cảnh ấy hiện ra những kiếp người tàn. Cả những cư dân kiếm sống ban ngày lẫn cư dân kiếm sống ban đêm đều là những kiếp người ngoi ngóp. Những người này vừa lùi vào bóng tối thì những người kia từ bóng tối lần lượt đi ra. Có cả những kiếp người tàn hoàn toàn theo nghĩa đen của chữ : bác Xẩm bà cụ Thi điên - những phế nhân người thì còn đó mà đời đã tàn quá nửa. Phố huyện khác chi một sân khấu thu nhỏ cả cuộc đời. Con người chường mình ra trên đó có thể đổi vai cho nhau mà không ai đổi phận được cho ai. "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ". Không phải họ đang sống mà đang cầm cự trong vô vọng… Tất cả cái thế giới kia được mô tả một cách tự nhiên kín đáo và sinh động chúng cộng hưởng với nhau góp phần tạo ra cái bầu không khí ảm đạm tàn héo vây phủ lên toàn bộ câu chuyện. Và về khuya ở chốn phố huyện kia chỉ còn có bóng tối và sự tịch mịch hoàn toàn ngự trị.

1.2. Hai đứa trẻ này có nguyên mẫu ngoài đời là chính chị em Thạch Lam trong những năm thiếu thời khi gia đình còn ở phố huyện Cẩm Giàng. Phải cái đận sa sút hai chị em đã phải nghỉ học để trông coi một cửa hàng tạp hoá phụ giúp vào việc sinh nhai của gia đình. Dĩ nhiên khi vào tác phẩm này tất cả đều đã được điển hình hoá. Phải là Liên một cô gái vừa lớn thì mới có câu chuyện này. Vừa mới lớn nghĩa là lòng còn nguyên niềm thiết tha sống : cả lòng yêu mến cuộc sống lẫn niềm hăng hái sống đều còn ăm ắp tinh khôi. Thế mà lại phải sống ở một miền quê cằn cỗi héo úa sự sống đang tàn đi. Làm sao không trăn trở và mơ tưởng đến một cuộc sống khác được ! Vừa mới lớn nghĩa là tâm hồn hết sức nhạy cảm. Thức nhận có thể chưa sâu sắc nhưng cảm nhận thì đương ở độ nhạy nhất của hồn người. Mối liên hệ tinh vi giữa tâm hồn và ngoại giới còn đương như muôn vàn sợi tơ mong manh và vô cùng mẫn cảm. Nó cho phép Liên cảm được hết bầu sinh khí tàn úa của phố huyện ấy. Với nhân vật như thế Thạch Lam mới có thể đi sâu diễn tả đời sống tâm tư trong những xao động tâm hồn tế vi và phong phú. Với nhân vật như thế tác giả mới có thể chọn cho câu chuyện một kết cấu phù hợp : dựa theo mạch diễn biến của tâm trạng Liên. Cũng tức là nhờ thế văn phẩm mới có dịp bộc lộ hết những ưu thế của thể loại truyện ngắn trữ tình.(Về nhân vật Liên do các bài viết khác đã đề cập nhiều nên ở đây không định đi sâu).

Thế còn An ? Nó hãy còn bé dại thế liệu đã cảm được gì ? liệu có phù hợp với lối viết triền miên trong tâm trạng không ? Xin thưa rằng An cũng là một lựa chọn rất sâu sắc của Thạch Lam. Đừng nghĩ rằng nó chỉ đơn thuần là một vai phụ một cái bóng của chị gái mình. An là một thành công không kém gì Liên. Đúng là còn ngây thơ An chưa thể có lối cảm chưa thể có những xao động tâm hồn và những dòng tâm tư giống như chị gái mình. Nhưng không có nghĩa là An chưa hề có một nội cảm riêng. An cũng đã cảm được hết. Thực ra trong hai chị em Liên có phần dễ mô tả hơn. Liên đã ít nhiều có đời sống ý thức lại thuộc độ tuổi chưa xa lắm so với tâm tư của người viết nên ngòi bút Thạch Lam dễ nhập vai hơn rộng đường xoay sở hơn. Còn An đời sống ý thức chưa thật rõ rệt lại đã quá xa so với tuổi trưởng thành của người viết nhà văn khó hoá thân hơn đất xoay sở hẹp hơn. Thêm nữa An đã thực sự trở thành một bài toán với những đòi hỏi trái khoáy : một mặt phải có được sự ngây thơ của lứa tuổi - không thế hình tượng sẽ giả tạo ; mặt khác An còn là đứa trẻ của phố huyện này - nghĩa là ngay trong cái ngây thơ kia An đã mơ hồ cảm được cái bầu không khí mòn mỏi úa tàn của phố huyện này. Một ngòi bút non tay khó mà giải được nỗi oái oăm đó. Còn Thạch Lam đã có những giải pháp rất hiệu quả : với Liên ông dùng lối mô tả trực tiếp những cảm giác cảm xúc và các phức hợp tâm tư với những biến thái mơ hồ hư thoảng nhất ; với An ông theo lối gián tiếp tức là dùng ngoại hiện. Vì thế mà thành công. Hãy đọc lại An. Ai là người cảm thấy bóng tối trước hết ? An. Bằng chứng là sau khi dọn hàng việc An làm là loay hoay thắp đèn.("Em thắp đèn lên chị Liên nhé ?"-"Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo ở trong ấy muỗi."). Ai là người nhận ra cái chõng sắp gãy ? An. ("Cái chõng này sắp gãy ròi chị nhỉ ?" - "Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào."). Không thể thức dai như chị An mỏi trí phải ngủ trước. Nhưng vẫn dặn chị tàu đến thì đánh thức dậy. Một đứa bé bình thường khi được gọi thế chưa chắc đã dậy hoặc nếu dậy thì còn uể oải ươn ao ngáp vặt chán mới tỉnh. An không thế. Nghe chị gọi An lập tức nhỏm dậy dụi mắt tỉnh hẳn. Rồi cùng chị nhìn đoàn tàu. Sự ấy cho thấy điều gì ? - Nhìn đoàn tàu đã thực sự là một nhu cầu sống của An chừng nào còn chưa được nhìn đoàn tàu chừng ấy nó chưa thể ngủ yên. Và ai là người nhận thấy tàu hôm nay vắng đi ? Lại cũng An.("Tàu hôm nay không đông nhỉ chị Liên nhỉ ?"). An rất thèm đông vui ồn ào sôi động. Chỉ cần tàu kém đông là nó đã thất vọng rồi. Rõ ràng từ thẳm sâu trong lòng trẻ còn ngây ngô của mình An đã cảm được cái điệu sống mòn mỏi cũng như cái không khí quẩn quanh héo hắt buồn tẻ ở phố huyện này. Từ trong sâu thẳm lòng trẻ của nó đã chối bỏ không hoà nhập với điệu sống ở đây đã muốn hướng tới một cuộc sống khác. Chỉ cần những chi tiết ngoại hiện như thế Thạch Lam đã hé mở cho ta cái thế giới nội cảm không kém những xao động thơ trẻ mà cũng đầy mẫn cảm của An. Nếu Liên là bè chủ thì An quả là một bè trầm song tấu trong nhạc khúc buồn mênh mang của phố huyện. Cả hai đã phụ hoạ nhau tạo nên cái phần đậm nhất thấm thía và day dứt nhất trong thế giới trữ tình của truyện ngắn này.

Chọn hai đứa trẻ làm tâm điểm để triển khai một truyện ngắn trữ tình như thế chẳng phải là một lựa chọn rất Thạch Lam hay sao ?

Hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo là một tương phản làm dậy lên niềm khát khao của người trong cuộc (nhân vật) làm dâng lên niềm thương cảm của ngừời viết (tác giả) chẳng phải đó là những nguồn cội cho nội dung  và giọng điệu sẽ àm nên cái diện mạo trữ tình của truyện ngắn này hay sao ?

1.3. Vì lẽ ấy mà diễn biến của tình huống cũng hiện thành và hiện trong diễn biến của tâm trạng hai đứa trẻ nhất là Liên. Ngày nào cũng thế cứ chiều đến là chị em Liên lại đối diện với cảnh tàn úa đó của mảnh đất này đối diện với những kiếp người kia. Họ là hiện tại của phố huyện nhưng cũng là tương lai của Liên. Nếu cuộc sống này không có gì thay đổi thì một mai Liên sẽ trở thành những con người ấy. Tâm trạng của Liên cũng cứ thế hiện dần : ngao ngán buồn thương cho hiện tại nhớ tiếc hoài niệm một quá khứ đã mất và mơ tưởng vào một tương lai xa xăm mơ hồ. Tựu trung nó là gì nếu không phải là niềm khao khát được đổi đời ? Thạch Lam sẽ mô tả thật tinh vi ngay cả những xao động mong manh nhất của tâm trạng ấy với những diễn biến tự nhiên nhất của nó : chiều về buồn mơ hồ ; đêm về buồn khắc khoải ; tàu về buồn vui chen lấn - theo tương quan vui thoáng qua buồn dai dẳng vui vẩn vơ buồn thấm thía chưa kịp vui đã lại buồn rồi ; cuối cùng tàu đi tâm trí cứ mỏi mệt dần rồi tắt lịm vào trong giấc ngủ vùi giữa màn đêm. Mô tả hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo như thế Thạch Lam đã bày tỏ được nỗi lo âu về số phận con người. Hai đứa trẻ trên phố nghèo hai cái mầm cây trên một mảnh đất bạc màu cằn cỗi. Liễu chúng có thể trở thành hai cái cây tươi tốt không hay sớm bị héo úa đi như những cây kia những con người kia ?

Nghĩa là một tình thế cho phép Thạch Lam phát huy được sở trường của ngòi bút văn xuôi trữ tình. Đồng thời nó cũng cho phép nhà văn gửi gắm được niềm trắc ẩn sâu xa của mình dành cho những con người nhọc nhằn bất hạnh trên cái mặt đát này.

2. Nhưng sự kiện chủ chốt qui tụ toàn bộ thiên truyện này lại là cuộc đợi tàu của Liên và An. Nói cách khác tình huống bao trùm toàn bộ tác phẩm lại là cuộc đợi tàu của hai đứa trẻ trên phố huyện nghèo. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Lạ vì chúng đợi tàu chẳng phải vì một mục đích nào thiết thực (không đợi hàng không đón ai không có người thân nào của chúng trên đoàn tàu ấy ; chúng đợi tàu chỉ để nhìn đoàn tàu thế thôi). Lạ vì không thiết thực mà ngày nào chúng cũng cố đợi. Chừng như chưa được nhìn đoàn tàu thì chúng chưa được sống trọn vẹn một ngày.

2.1. Lôgic nào ngầm chứa trong tâm trạng chờ đợi kia ? Tìm kiếm câu trả lời ta không khỏi giật mình vì thấy rằng : Thạch Lam không chỉ mô tả hiện thực bằng  mẫn cảm nghệ thuật mà còn bằng cả cảm thức triết học nữa.

Nhìn vào tâm lí thuần tuý tâm trạng của Liên là một tâm trạng lãng mạn khá điển hình. Bất hoà với thực tại cái tôi lãng mạn thường thoát vào trong mơ ước để tìm kiếm một thực tại khác thay thế. Nó gặp một thực tại giờ đây đã là quá khứ. Tức là thực tại trong hồi tưởng. Người ta đến với quá khứ ấy bằng và chỉ bằng hoài niệm thôi. Nhưng quá khứ chỉ có thể hồi hiện như những kỉ niệm đẹp chứ không thể phục sinh không thể quay về. Cho nên hoài niệm về một quá khứ đã mất chỉ có thể là an ủi chốc lát thôi. Không bằng lòng với nhớ tiếc dĩ vãng cái tôi lãng mạn lại tìm kiếm thực tại trong huyễn tưởng và viễn tưởng. Biết bao kẻ đã vẽ ra trong tưởng tượng của mình về một thế giới khác để mà hằng ngày làm những cuộc phiêu du vào chính cái thế giới mà mình vẽ ra đó. Liên không phải một nghệ sĩ thoát li. Liên là một con người thực tại. Nên mơ tưởng của Liên về một cuộc sống khác cũng rất thực tại. Hằng ngày Liên chờ đợi đoàn tàu và gửi vào đoàn tàu ấy cái mơ tưởng của mình. Đoàn tàu này chạy đến từ Hà nội nơi Liên từng được sống một tuổi thơ vui tươi sung sướng. Tuy xa xăm nhưng với Liên Hà nội là có thật. "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà nội xa xăm Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo.". Chờ đợi và nhìn đoàn tàu là một nhu cầu tâm lí rất tự nhiên và thiết yếu của chị em Liên. Thạch Lam đã mô tả những diễn biến ấy của tâm trạng Liên bằng ngòi bút tinh vi của một nghệ sĩ có khả năng làm sống dậy cả những gì vốn mong manh hư thoảng nhất của hồn người.

2.2. Nhưng ẩn sâu dưới lôgic tâm lí còn là một lôgic triết học. Ta có thể thấy trong tương quan bộ ba : Hà nội - Phố huyện - Đoàn tàu. Phố huyện là hiện tại tàn úa. Hà nội là quá khứ vàng son. Còn đoàn tàu vừa là một biến thể của Hà nội vừa là một viễn tưởng tương lai. Thực ra sự tương phản giữa Thủ đô và Phố huyện như đối lập giữa trung tâm và ngoại vi giữa chốn phồn hoa đô hội ngập tràn sự sống và nơi heo hút hoang liêu nghèo nàn sự sống giữa vui và buồn giữa hạnh phúc và bất hạnh … vốn là môtip phổ biến không chỉ trong văn học đương thời không chỉ trong văn học Việt nam. Nhưng mô tả những nơi chốn ấy thành những biểu tượng vừa chân thực sống động vừa giàu hàm ý tượng trưng như ở đây thì không phải dễ gặp. Chính điều này làm nên một cấu trúc trữ tình mang tính thơ cho thiên truyện "Hai đứa trẻ".

Tại sao Liên lại bất hoà (không thoả hiệp không bằng lòng không chấp nhận) với thực tại phố huyện ? Vì chốn này sự sống đang đuối dần. Liên nhớ tiếc Hà nội mơ tưởng theo đoàn tàu đều vì những nơi đó đèu dồi dào sự sống. Chúng ta đều biết ánh sáng và âm thanh là những dấu hiệu của sự sống bóng tối và tịch mịch là dấu hiệu của hư vô. Nơi nào có ánh sáng nơi ấy có sự sống ; trái lại nơi nào bóng tối ngự trị thì sự sống đang bị đe doạ. Cũng như thế nơi nào có âm thanh sôi động tươi vui nơi ấy sự sống đang lên mạnh mẽ khoẻ khoắn ; trái lại nơi nào âm thanh tắt lặng nơi ấy sự sống đang rời bỏ đi. Có ngẫu nhiên đâu khi Thạch Lam mô tả phố huyện như là nơi ngự trị của bóng tối và sự tịch mịch (Câu cuối cùng của thiên truyện :"…Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh cũng yên tĩnh như đêm ở phố tịch mịch và đầy bóng tối"). Trái lại Hà nội thì "sáng rực vui vẻ và huyên náo"(Đèn nhiều và những cốc nước lạnh xanh đỏ trong kí ức An và Liên đều là những biến thể khác nhau của ánh sáng !). Đoàn tàu cũng thế   "lấp lánh" và "rầm rộ" (Nếu tiếng còi vang tiếng bánh siết trên đường sắt tiếng hành khách ồn ào… đều là những biểu hiện của một thứ âm thanh khỏe khoắn sôi động thì ánh đèn pha cửa kính sáng rồi đồng kền lấp lánh đều là hiện thân của một nguồn sáng mạnh mẽ !). Mối liên hệ giữa những cảm xúc sâu xa về Hà nội - Phố huyện - Đoàn tàu trong tâm hồn Liên đã hình thành một cấu trúc tự nhiên của tâm trạng nhân vật. Đó là niềm khao khát sống khao khát đổi đời.

Ta hoàn toàn có thể mô hình hoá được cấu trúc đó. (Xem sơ đồ)                           

 Cấu trúc tâm trạng của Liên

                          LIÊN

Hoài niệm     Ngao ngán   - Buồn thương    Mơ tưởng 

Quá khứ                  Hiện tại                   Tương lai (mt)

Hà nội               Phố huyện                     Đoàn tàu

- Ánh sáng             Bóng tối                  - Ánh sáng

-ồn ào                 - Tịch mịch                 - Huyên náo

(Đầy sự sống)     (Thiếu sự sống)      (Đầy sự sống)

                KHAO KHÁT ĐỔI ĐỜI

 3. Vì sao chị em Liên lại cố thức để chờ đợi đoàn tàu ? Trả lời câu hỏi này phần nào cũng đồng thời là giải mã hình ảnh đoàn tàu vậy.

3.1. Đoàn tàu là hoạt động sống cuối cùng của phố huyện. Tàu đến có làm khuâý động bầu không khí hoang vắng của phố huyện lên một chút. Phố huyện có bừng tỉnh giây lát trong một không khí ồn ào. Còn sau khi đoàn tàu đi khỏi cả phố huyện sẽ thu mình trong bóng tối như một miền đất chết như chưa từng có phố huyện trên đời. Chúng cố đợi là để được hoà vào nhịp sống sôi động hiếm hoi đó. Nghĩa là từ sâu trong hồn hai đứa trẻ có một sự chối bỏ không chịu thoả hiệp với cuộc sống tẻ ngắt ở chốn này. Nghĩa là chúng thèm sống biết bao ! Nếu còn một đoàn tàu khác hẳn chúng cũng sẽ cố đợi chờ thôi.

3.2. Đoàn tàu là niềm vui duy nhất trong ngày. Sớm bị cuộc sống cướp mất tuổi thơ ném vào cuộc mưu sinh cùng với người lớn nhưng chị em Liên vẫn cứ là "Hai đứa trẻ" cái tên của tác phẩm nói với ta điều đó. Nghĩa là trong chúng vẫn còn nguyên những nhu cầu của trẻ con : nhu cầu vui. Trẻ con sống làm sao thiếu được những trò vui trò chơi đồ chơi. Nhưng ở phố huyện này biết tìm đâu ra. Những thứ ấy cũng thành đồ xa xỉ như phở của bác Siêu rồi. Chúng phải tự túc để bù vào thiếu hụt ấy. Thế là đoàn tàu trở thành niềm vui duy nhất của chúng. Với bé An có thể nói đoàn tàu đã thành một thứ đồ chơi. Chừng nào chưa được chơi cái trò nhìn đoàn tàu chừng ấy chưa thể ngủ yên chưa sống trọn vẹn một ngày. Đoàn tàu của thiên hạ trở thành đồ chơi hờ trong chốc lát của An. Chị em Liên muốn đến gần để được nhúng mình vào không khí đông vui vào vùng sáng rực lấp lánh của đoàn tàu. Ngẫm ra thì đó chỉ là vui nhờ vui ghé vui lây thôi. Tội nghiệp !

3.3. Đoàn tàu là sứ giả của một cuộc sống khác. Vị sứ giả vừa mời gọi vừa lạnh lùng. Thạch Lam viết :"Con tàu đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn…". Nó hoàn toàn tương phản với phố huyện. Vụt qua trời đêm của phố huyện như một vệt sao băng đoàn tàu cho chúng biết : đâu đó bên ngoài phố huyện này vẫn có một thế giới khác ở đó cuộc sống tươi vui hơn sôi động hơn đáng sống hơn. Trong chúng lại nhen lên những mơ tưởng. Chúng chưa kịp vui thì cũng đúng như một vệt sao băng đoàn tàu đã mất hút vào bóng tối mang theo luôn vào bóng tối những mơ tưởng của Liên. Chạy đến từ Hà nội chạy đến từ một tuổi thơ đã mất đoàn tàu đã là một tia hồi quang cho chúng được nhìn lại tuổi thơ tươi vui trong chốc lát.  An ủi thì ít xót xa thì nhiều. Nhưng cuộc sống phố huyện khác nào như cái ao tù vô hình đang muốn nhấn chìm cuộc sống của chị em Liên. Đoàn tàu với chúng cũng tựa hồ một cái phao tinh thần. Cố gắng chờ đợi là một nỗ lực (mơ hồ mà rõ rệt) của chị em Liên cố ngoi lên bám víu vào cái phao vừa nhỡn tiền vừa vu vơ ấy để khỏi bị chìm hẳn đi. Tiếc rằng đoàn tàu cũng chỉ như một ảo ảnh thôi. Vả chăng đoàn tàu hôm nay đã vừa kém đông lại vừa kém sáng đi nhiều rồi. Buồn lại thêm buồn !

Vậy đấy việc hai đứa trẻ con ngồi đợi đoàn tàu trong mắt người đời có lẽ chỉ là một việc bâng quơ không đâu thậm chí vô nghĩa. Thế mà Thạch Lam lại đã thấy trong đó một ý nghĩa không đùa thấy nó chứa đựng một khát khao không chỉ của hai đứa trẻ không chỉ của phố huyện ấy mà là của cả cái thế giới này : khao khát đổi đời. Thông điệp nhà văn muốn nói qua đó là : hãy cứu lấy những đứa trẻ cứu lấy tương lai ! cần phải thay đổi cái thế giới tăm tôi này đi ! Hãy mang đến một cuộc sống khác xứng đáng với con người hơn một cuộc sống mà con người có quyền sống trong hi vọng chứ không phải đang tàn đi trong vô vọng thế kia. Đó là thông điệp của một tấm lòng được chuyển tải bằng một tài năng.

                                                            Văn chỉ ngày bão số 3 -2003

                                                                                             CHU VĂN SƠN

More...